Campbell,
31/3/96
DTKCamau
06/3/2026
Trung Tá Ngô Văn Xuân
(Nguyên Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 44 Sư Ðoàn 23 Bộ
Binh)
LTS.
Để tìm hiểu thêm biến cố Ban Mê Thuột, một biến cố đưa đến mất toàn bộ miền Nam
VN, chúng tôi đã cố gắng phỏng vấn nhiều nhân vật liên hệ trực tiếp việc chỉ
huy mặt trận này. Hôm nay chúng tôi xin đăng lời tường thuật của Trung tá Ngô
Văn Xuân, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 44 của Sư đoàn 23 Bộ binh, người được lệnh
đưa Trung đoàn 44 về giải cứu Ban Mê Thuột sau khi thị xã này bị VC xâm chiếm.
Trung
tá Ngô Văn Xuân xuất thân khóa 17 trường Võ Bị Quốc gia Đà Lạt đã từng giữ chức
vụ Đại đội trưởng Trinh sát thuộc Trung đoàn 11 Sư đoàn 7 Bộ binh, Tiểu đoàn
trưởng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 44 của Sư đoàn 23 Bộ binh, Trưởng phòng Hành quân
Sư đoàn 23 và cuối cùng là Trung đoàn Trưởng Trung đoàn 44 Sư đoàn 23. Trong
chiến đấu, ông đã 3 lần bị thương và sau khi VC chiếm miền Nam, ông đã bị đi cải
tạo 13 năm. Ông đến Hoa Kỳ theo danh sách HO vào tháng 4/1992 và hiện đang cư
ngụ tại vùng Bắc Cali. Theo lời yêu cầu của chúng tôi, ông đã ghi lại một số biến
cố mà ông biết liên quan đến mặt trận Ban Mê Thuột năm 1975. Chúng tôi hy vọng
rằng bài này sẽ góp phần hữu ích vào việc tìm hiểu lý do đưa đến sự thất thủ
Ban Mê Thuột.
Mới
dó mà cũng hơn 20 năm trôi qua. Những nắm xương tàn của hàng vạn sinh linh giờ
đây cũng đã trở thành cát bụi. Những suối máu của họ cũng đã kiệt khô, tô thêm
màu mỡ cho mảnh đất quê hương. Những người đã một thời theo vận thời cuộc, nhảy
ra nắm chính quyền hay xưng hùng xưng bá, thực hiện những mưu đồ chính trị,
khuynh loát...giờ đây đa số cũng đã lần lượt nằm xuống. Cái khoảnh khắc huy
hoàng của họ mà đôi khi họ cứ tưởng như sẽ miên viễn trường tồn, thực chất chỉ
là một đốm lửa rơm trong kiếp nhan sinh dằng dặc. Trong lịch sử dân tộc ta, có
lẽ không có giai đoạn nào xót xa, đau tủi cho bằng những diễn biến trong ngót nửa
thế kỷ vừa qua. Cuộc chiến tranh chống thực dân giành độc lập vừa kết thúc thì
lập tức một cuộc chiến khác lại nổ rạ Dưới cặp mắt của các chính trị gia hay
các nhà sử học, cuộc chiến thứ hai này được gán cho nhiều cái tên khác nhau,
nào là chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh nổi dậy, chiến tranh chống
xâm lăng, chiến tranh tự vệ, chiến tranh ý thức hệ... nhưng trong ký ức những người
bình thường, hình ảnh chết chóc đau thương của những người nằm xuống đều gây
xúc cảm nơi những người liên hệ xa gần như thân nhân ruột thịt, bà con, bạn hữu,
làng xóm...hay nói rộng ra, nơi đồng bào của chính họ.
Đã
có lúc những người CSVN xưng tụng cuộc chiến ấy như một thành tích lẫy lừng nhất
trong lịch sử. Thậm chí còn đem những thành tích đó ra so sánh với cả những chiến
công khác của cha ông như chiến công diệt Minh, trừ Nguyên trong lịch sử. Rất
may, cơn sốt nhiệt cuồng rồ dại ấy chẳng kéo dài được bao lâu. Thời gian đã chỉ
cho họ những bài học khôn ngoan hơn. Giờ đây, một số người thức tỉnh dần dần nhận
ra, hoặc đã nhận ra từ lâu giờ đây mới dám nói, tính chất vô nghĩa của những
thành tích đó.
Về
phía những người Quốc gia, một số hồi ký, ký sự cũng gợi lại những kỷ niệm của
1 thời binh lửa ngút trời trên quê hương. Cuộc chiến ấy đã được nhìn từ nhiều
góc độ khác nhau, trực tiếp có, gián tiếp có, xa có, gần có, thực có, giả có...
Hy vọng rằng phương thuốc thời gian sẽ chữa lành cho cả dân tộc ta vết thương
đau, nhức nhối đã kéo dài trong tâm thức của mọi con dân VN trong gần nửa thế kỷ
qua.
Bài
viết này của một chứng nhân trong cuộc chiến tàn khốc vừa qua, chỉ nhằm ghi lại
đôi điều mắt thấy tai nghe để làm sáng tỏ thêm một số bí ẩn của lịch sử. Cảm hứng
gợi ra cho bài viết này bắt nguồn từ khi đọc những hồi ký là 2 cuốn sách “Đại
thắng mùa Xuân” của Văn Tiến Dũng và cuốn “Tướng Phạm Văn Phú và những trận
đánh từ Điện Biên Phủ 1954 đến Ban Mê Thuột 1975” của Phạm Huấn, trong đó có rất
nhiều điều cần được hiệu đính hay nói thêm.
1. Thực trạng sau Hiệp định ngưng chiến
Mặt
trận Cao nguyên chưa bao giờ ngưng tiếng súng kể từ ngày Hiệp định Paris được
ký kết vào ngày 27/1/73 và có hiệu lực ngày 28/2/73. Người viết bài này, lúc đó
là Trưởng phòng Hành quân Sư đoàn 23 Bộ binh. Sự khác biệt, nếu có, trước và
sau ngày chấm dứt cuộc chiến là chỗ này: Trước Hiệp định, tên của các cuộc hành
quân là Biên Trấn 1, 2, 3..., sau khi đình chiến các tên này được đổi thành Hoà
Bình 1, 2, 3...
Mức
độ ác liệt của chiến tranh có giảm đi đôi chút, nhưng sự thương vong thì chẳng
ngày nào không có. Đối diện với tuyến phòng thủ của ta là những cán binh CS.
Lúc đầu chúng còn di chuyển lén lút, về sau bớt lén lút dần, thậm chí có khi
chúng còn nói với qua xin 1, 2 điếu thuốc hay xin cho nghe một bản nhạc vàng!
Những đơn vị địch khác không nằm trên tuyến thì luôn tìm mọi các xâm nhập như
đóng chốt trên các trục giao thông, lấn chiếm các khu vực hẻo lánh. Còn các đơn
vị trừ bị của ta thì lo phá chốt, tái chiếm các vùng bị địch xâm nhập! Cuộc chiến
tranh nửa nạc nửa mỡ này thực sự trở nên khó chịu hơn, khi sự ràng buộc bởi Hiệp
định ngày càng trở nên rõ ràng. Ở tiền tuyến, đạn dược và tiếp liệu bị cắt giảm
không thương tiếc. Những tính toán theo kiểu con buôn được đem ra áp dụng. Mỗi
loại vũ khí đều có “cấp khoản”. Số đạn được phép xử dụng trước biến đổi hàng
tháng, sau xuống hàng tuần. Ví dụ mỗi khẩu pháo 105 ly của Tiểu đoàn Pháo binh
Sư đoàn sau Hiệp định Paris chỉ có quyền, áp dụng cho cả 2 phía Quốc Cộng, đặc
biệt “bắn” 8 quả đạn/ngày, đến giai đọan trước khi các trận đánh Cao nguyên thì
giảm xuống còn 3 quả/ngày. Dần dần đến đạn súng nhỏ, xăng, dầu ... Nhìn về hậu
phương, những bất ổn về chính trị xảy ra hàng ngày, những cuộc biểu tình của
hàng chục đoàn thể, phong trào đòi đủ thứ quyền... Trong bối cảnh như vậy, chẳng
cần phải là một chính trị gia có trình độ cao siêu gì, cũng có thể nhìn ra một
hậu quả chẳng mấy tốt đẹp cho một tương lai gần.
Tôi
còn nhớ tháng 10/1973, một phái đoàn DAO của Tòa Đại sứ Mỹ đến thăm Bộ Tư lịnh
Sư đoàn 23 tại Ban Mê Thuột, sau khi nghe thuyết trình về địch tình, về tình
hình tiếp liệu của đơn vị, viên Đại tá Trưởng đoàn đã nhắn nhủ:”Quí vị sẽ phải
đối đầu với VC trong một tình hình khó khăn hơn về tiếp liệu trong tương lai.
Những viện trợ về tiếp liệu sẽ ngày càng giảm nhiều hơn, và vì vậy, chúng tôi
yêu cầu quí vị nên nghiên cứu những phương thức điều hành thích hợp để đối phó
khi cần, kể cả những lúc chúng tôi không thể chuyên chỡ sang cho quí vị đúng thời
hạn!”. Những đề nghị của Sư đoàn chỉ tóm gọn trong vấn đề tiếp liệu, và viên
Trưởng phái đoàn cũng chỉ ghi nhận trong tinh thần...rất ngoại giaọ
Kể
từ năm 1972 trở đi, mùa hè nào trên Cao nguyên cũng đều là “Mùa hè đỏ lửa” cả!
Các cuộc hành quân, đánh phá được ngụy trang dưới những hình thức hay tên gọi
khác nhau cho phù hợp với tình hình chính trị mớị Những người lính chiến của
QLVNCH thực sự chưa có một ngày nào hít thở không khí hòa bình do các nhà chính
trị đã ký kết với nhau sau hơn 4 năm bàn thảo, cãi cọ bàn vuông bàn tròn!
2. TT Thiệu ăn Tết ở Cao nguyên
Tháng
7/1974, tôi rời Phòng 3 Sư đoàn ra đảm nhiệm chức vụ Trung đoàn trưởng Trung
đoàn 44 thay thế Trung tá Nguyễn Hữu Lữ. Như thường lệ, hàng năm mỗi độ xuân về,
TT Thiệu lại đi thăm một số đơn vị đang tác chiến và dùng cơm với các đơn vị nàỵ
Tết Ất Mão năm ấy, đơn vị của tôi được Quân đoàn chỉ định là đơn vị dón tiếp
TT. Trung đoàn của tôi có trách nhiệm phòng thủ trên tuyến vòng đai, các tỉnh lỵ
Pleiku khoảng 20 km hướng Tây Bắc. Bộ Chỉ huy đóng tại căn cứ 801. 2 tiểu đoàn
tác chiến án ngử trên phòng tuyến, một tiểu đoàn trừ bị cùng với 1 chi đoàn chiến
xa M48 tại căn cứ. Các biện pháp an toàn tối đa được hoạch định để tránh các sự
rủi ro, nguy hiểm cho bữa cơm đầu năm của đơn vị có TT tới tham dự. Bởi đây là
một căn cứ hành quân dã chiến, không có hầm hố kiên cố mà lại luôn nằm trong tầm
pháo các loại của địch, nên các tin tức liên quan tới bữa cơm được giữ kín cho
tới lúc quan khách đến.
Đúng
12 giờ trưa, sau khi rời Bộ Tư lịnh Quân khu 2, chiếc trực thăng chở quan khách
đáp tại căn cứ của chúng tôị Tướng Lê Trung Tường, Tư lịnh Sư đoàn 23, và tôi
ra đón. Thành phần phái đoàn gồm TT, các Tướng Trung, Khang, Phú, các tùy viên
và cận vệ. Tôi đưa các vị quan khách vào phòng họp hành quân của Trung đoàn. Mở
đầu là phần thuyết trình của Trung tá Điều Ngọc Chuy, Trưởng Phòng 2 Sư đoàn 23
về tình hình chung của các khu vực có trách nhiệm đang do Sư đoàn trấn giữ. Đặc
biệt trong cuộc thuyết trình này, Trung tá Chuy có nhấn mạnh đến chi tiết về
cung từ của một tù binh CS thuộc Sư đoàn 320 do Trung đoàn 45 bắt được. Tù binh
này nguyên là một hạ sĩ quan truyền tin, tên là Sính, khi ra đầu thú đã khai là
sĩ quan. Thực sự quân hàm của anh ta chỉ là Thượng Sĩ. Có điều đặc biệt là với
chức vụ truyền tin, anh ta biết khá nhiều về các kế hoạch hành quân của đơn vị
anh và một số đơn vị phối hợp. Anh ta xác quyết Mặt trận B3 sẽ tấn công Ban Mê
Thuột! Kế hoạch hành quân bao gồm 4 sư đoàn bộ binh mà anh ta biết chắc 3 đó là
Sư đoàn F10 và Sư đoàn 968 chính thống thuộc Mặt trận B3, Sư đoàn 320 và 1 Sư
đoàn từ Lào kéo sang không biết rõ phiên hiệu (sau này ta mới biết đó là Sư
đoàn 316 CSBV). Hợp đồng tác chiến còn có 1 Trung đoàn chiến xa, 2 Trung đoàn
pháo, 1 Trung đoàn Đặc công. Thậm chí đến cả kế hoạch tấn công vào thị xã Ban
Mê Thuột anh cũng phác họa ra khá chính xác, từ hướng tấn công đến các mục tiêu
ưu tiên phải tấn chiếm, v.v...
Đến
phần thuyết trình của tôi, tôi cũng nêu bậc sự kiện điều quân hiện đang diễn ra
giữa 2 Sư đoàn 320 và Công trường 9 từ chiến trường Phước Long kéo lên. Tôi cò
nhớ rất rõ nét đăm chiêu của TT Thiệu và đại lược những chỉ thị của ông. Ông
quay lại hỏi ý kiến Tướng Phú thì Tướng Phú nhận định rằng có thể VC đưa ra một
kế trá hàng nhằm đánh lạc hướng chú ý của ta, theo ông, Pleiku là điểm, ban Mê
Thuột chỉ là diện, bởi vì Pleiku có cơ sở đầu não là Bô Tư lịnh Quân đoàn 2. Nếu
địch tiêu diệt được cứ điểm này chúng dễ dàng làm chủ được toàn bộ khu vực cao
nguyên hoặc tỏa xuống khu vực duyên hải, nối liền với 2 vùng biên giới, để tạo
cho việc tiếp liệu dễ dàng từ miền Bắc. TT Thiệu suy nghĩ trong giây lát, rồi
ra lệnh cho Tướng Phú lúc đó đứng kế bên
-
Anh Phú cho toàn bộ Sư đoàn 23 trở về Ban Mê Thuột, tăng cường cho anh Tường một
chi đoàn M48. Dù sao, địa thế Pleiku cũng là khu vực trống trải, bao gồm nhiều
đồi thấp và trọc, có tầm quan sát rộng, bây giờ lại là mùa khô, anh có thể sử dụng
tối đa phi pháo và chiến xa để đánh chiến xa và bộ binh địch, nếu chúng dám đưa
quân ra đương đầu với anh trên khoảng trống! Ngoài ra, tôi sẽ tăng cường cho
anh thêm 1 Liên đoàn Biệt động quân để làm lực lượng trừ bị.
Tướng
Phú trả lời :
-
Vâng, tôi sẽ thi hành theo kế hoạch của TT chỉ thị.
Sau
đó TT Thiệu quay qua Tướng Tường và nói :
-
Khi anh trở về Ban Mê Thuột, phải tổ chức ngay lại hệ thống phòng thủ vòng đai
thị xã và lập kế hoạch chống xe tăng địch. Ngoài ra, anh cũng phải tổ chức các
cuộc hành quân vùng sát biên giới thuộc Quận Đức Lập. Để tránh các rắc rối về
ngoại giao với Cam-bốt, chỉ nên tung các toán hoạt động viễn thám qua vùng biên
giới mà thôị Nếu phát hiện địch thì dùng phi pháo mà tiêu diệt.
Sau
phần thuyết trình, tôi hướng dẫn phái đoàn lên tham dự bữa cơm thân mật được tổ
chức ngoài trời, gồm khoảng gần 100 binh sĩ, hạ sĩ quan, sĩ quan thuộc 2 đơn vị
Tiểu doàn 3/44 và chi đoàn 2 chiến xa M48. Trong bữa cơm, TT có phàn nàn về các
cuộc biểu tình đánh phá của các đoàn thể chính trị hiện đang diễn ra hàng ngày
tại Saigon. Ông đặc biệt nhấn mạnh đến phong trào tố tham nhũng của linh mục Trần
Hữu Thanh đang làm suy giảm uy tín của các cấp lãnh đạo đất nước. Tôi còn nhớ
ông nói ông ao ước giá mà có được những vị linh mục chống cộng cương quyết kiểu
như cha sở khu Hải Yến và một vị cha sở nào đó ở Tây Ninh mà tôi quên tên, thì
đỡ biết mấy! Sau bữa cơm, ông đi thăm 1 vòng chu vi phòng thủ, nói chuyện thân
mật với các binh sĩ trong các hầm hố cá nhân. Phái đoàn lên trực thăng rời khỏi
khu vực trách nhiệm của chúng tôi vào lúc 2 giờ chiều cùng ngàỵ Hôm đó là ngày
mồng 1 Tết Âm Lịch, nhằm ngày 1/2/1975.
3. Chuẩn bị trở về
Khi
chiếc trực thang chở TT đi rồi, Tướng Tường, Tư lịnh Sư đoàn còn ở lại họp cùng
Bộ Chỉ huy Trung đoàn 44 để chuẩn bị kế hoạch thay quân và rút quân khỏi khu vực
trách nhiệm của Trung đoàn. Tư+ởng cũng nên nhắc lại việc phối trí lực lượng của
Sư đoàn 23 lúc đó như sau :
-
Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Hành quân đóng ở Hàm Rồng.
-
Trung đoàn 44 đóng tại căn cứ 801, cách tây Bắc Pleiku 20 m.
-
Trung đoàn 45 hành quân khu vực đèo Tử Sĩ nằm giữa Buôn Hô và Hàm Rồng, dọc
theo 2 bên quốc lộ 14.
-
Trung đoàn 53 có 1 tiểu đoàn đang hành quân vùng Đức Lập, trong vùng tiếp giáp
giữa tỉnh Quảng Đức và tỉnh Đắc Lắc. Bộ Chỉ huy Trung đoàn này và 2 tiểu đoàn
còn lại đóng tại phi trường Phụng Dực, Ban Mê Thuột, là lực lượng trừ bị của Sư
đoàn.
Tin
trở về lại Ban Mê Thuột thực ra không gây nên những phấn khởi lớn đối với các
quân nhân thuộc Trung đoàn 44, bởi vì đa số binh sĩ của Trung đoàn có gia đình
và thân nhân ở Phan Thiết. Những tin này chắc chắn là nỗi vui mừng lớn cho
Trung đoà 45, một đơn vị thường trú từ ngày thành lập ở Ban Mê Thuột. Những cuộc
hành quân liên tục trong suốt thời gian từ năm 1972 đến hôm đó trên lãnh thổ
các tỉnh Pleiku, Phú Bổn và Kontum đã làm cho nỗi nhớ nhà của các binh sĩ Trung
đoàn này thêm khắc khoải, nhất là vào thời gian này, khi cái hương vị Tết vẫn
còn thoang thoảng baỵ Nhưng mãi tới ngày 17/2/75, tôi mới có lệnh về họp tại Bộ
Tư lịnh (BTL) Sư đoàn để nhận chi tiết kế hoạch di chuyển. Theo kế hoạch này,
BTL Sư đoàn sẽ đi bằng xe từ Hàm Rồng, khi ngang qua đèo Tử Sĩ, Trung đoàn 45 sẽ
tháp tùng theọ Trung đoàn tôi sẽ được 1 Liên đoàn Biệt động quân thay thế. Theo
ước tính, Liên đoàn này sẽ đến khoảng 3 ngày saụ Sau khi bàn giao khu vực trách
nhiệm, Trung đoàn tôi cũng sẽ tiếp tục trở về Ban Mê Thuột cùng với một chi
đoàn chiến xa M48 của Thiết đoàn 20.
Cuộc
họp hành quân kéo dài không lâụ Khi rời phòng họp, tôi chợt nhìn thấy những sự
tất bật, rộn ràng của mọi người trong khuôn viên BTL. Thấy những khuôn mặt rực
rỡ niềm vui về cuộc trở về sắp tới, những câu nói đùa bỡn, những nụ cườị..tôi
cũng cảm thấy lòng mình rộn ràng. Gia dình tôi, vợ tôi và 4 cháu cũng đang ở
Ban Mê Thuột. Hơn 1 năm rồi, tôi có ghé về thăm nhà đôi lần, mỗi lần không quá
1 tiếng đồng hồ. Kể từ 6 giờ sáng ngày 18/2/75, đơn vị tôi được đặt trở lại dưới
hệ thống chỉ huy trực tiếp của BTL Quân đoàn 2. Cũng từ lúc ấy, BTL Sư đoàn 23
tháo gỡ hệ thống truyền tin.
Tám
giờ sáng ngày 18, đoàn xe vận chuyển đã có măt đầy đủ tại doanh trại Hàm Rồng.
Công việc chất hàng khá gọn lẹ. Đến 10 giờ sáng, qua hệ thống truyền tin vô tuyến,
tôi được biết đoàn xe đã sẵn sàng di chuyển.
Tướng
Tường lên trực thăng chỉ huy, bay vào Trung Đoàn tôi để dặn dò các chi tiết cuối
trước khi lên đường, lúc đó là 10 giờ 15. Chúng tôi đang ngồi họp tại Trung Tâm
Hành Quân của Trung đoàn thì có điện thoại của Tướng Phú yêu cầu Tướng Tường trở
về gặp ông gấp tại Bộ Tư Lịnh (BTL) Quân đoàn 2. Tôi đưa Tướng Tường ra trực
thăng giã từ.
11
giờ đoàn xe vẫn không nhúc nhích.
11
giờ 15, Trung Tâm Hành Quân của Quân đoàn ra lịnh Trung đoàn 44 trở về hệ thống
chỉ huy trực tiếp của Sư đoàn 23. Tôi quay điện thoại gặp Thiếu tá Phạm Văn Cẩm,
Trưởng phòng 3 Sư đoàn. Tiếng Cẩm càu nhàu :”Lệnh di chuyển hủy bỏ rồi, niên
trưởng ơi! Ai trở về nhà nấy, làm ăn như thường lệ!”. Bất giác tôi buông một
câu chửi thề và tự hỏi : Thế là thế nào?
12
giờ trưa, Tướng Tường gọi điện thoại cho tôi biết, Tướng Phú giữ nguyên lập luận
của mình, cho rằng Pleiku là điểm, Ban Mê Thuột chỉ là diện. Sự tái phối trí lực
lượng do vậy là không cần thiết.
Nói
cho ngay, mỗi vị Tư lịnh có những phán đoán riêng tư của mình. Khi có đươc những
dữ kiện tình báo chính xác, vị chỉ huy có thể đề ra những đối pháp khẳng định
không do dự. Ở đây, những tin tức thu lượm được giá trị không cao bao nhiêu, nếu
như không muốn nói là còn cần phải kiểm tra và phối kiểm từ nhiều nguồn khác
nhau, nên vấn đề xây dựng các quyết định lại càng khó khăn hơn. Lại nữa, Tướng
Phú mới tới nhậm chức chưa bao lâu, thời gian chưa đủ để ông có thể cảm nhận
tình hình một cách sắc bén hơn. Nếu cho tôi quyền nhận xét, tôi thấy Tướng Toàn
có nhiều quyền biến hơn. Về phương diện thuần túy quân sự, Tướng Toàn đảm lược,
cơ mưu và có những quyết định táo bạo hơn. Tôi vẫn tin là nếu Tướng Toàn còn ở
lại chức vụ Tư lịnh Quân đoàn 2, những chỉ thi của TT Thiệu sẽ được thực thi một
cách đúng đắn. Dĩ nhiên trận đánh Ban Mê Thuột sẽ vẫn xảy ra, nhưng trận Ban Mê
Thuột không phải là trận đánh bất ngờ như Tướng Hoàng Minh Thảo đã tưởng tượng,
những hoảng loạn sẽ không xảy ra, và biết đâu, kế hoạch rút quân tự sát theo
liên tỉnh lộ 7 sẽ không còn cần thiết nữa?
4. Một chuyến đi tuyệt vọng
Bốn
giờ sáng ngày 10/3/75 trận đánh Ban Mê Thuột mở màn. Thiếu tá Cẩm điện thoại
cho tôi biết ngay sau đó. Không bao lâu, mọi đường dây liên lạc với Ban Mê Thuột
không còn. Nửa đêm về sáng, trên Cao nguyên thời tiết thường se lạnh, sương trắng
bao phủ đầy trờị Tôi ngồi trong hầm chỉ huy, chăm chú nhìn các chi tiết địch
tình ghi trên bản đồ. Chú em cận vệ bưng ra 1 ly cà phệ Ban Mê Thuột sẽ mất,
tôi tự nghĩ như thế. Điều suy nghĩ này bắt nguồn từ những dữ kiện tôi có được
sau hơn 1 năm làm Trưởng Phòng 3 Sư đoàn 23, mà tỉnh Đắc Lắc nằm trong lãnh thổ
kiểm soát và hành quân của Sư đoàn. Những đơn vị Địa phương quân hầu như đa phần
là ngươi Thượng, khả năng tác chiến rất kém vì thiếu huấn luyện. Họ được trang
bị thô sơ và có ý thức kỷ luật quân đội rất kém. Về địa thế, Ban Mê Thuột khác
hẳn Kontum. Ban Mê Thuột không có những chướng ngại thiên nhiên để dựa vào, hạn
chế bớt khả năng xâm nhập của chiến xa hoặc bộ binh địch. Ngoài ra, với hàng
trăm đồn điền cà phê tươi tốt, địch có che dấu, ngụy trang cho cả quân đoàn của
họ một cách an toàn. Rõ ràng nơi đây là nơi lý tưởng cho các cuộc tiến quân áp
sát của địch. Với 1 lãnh thổ rộng hơn tỉnh Kontum rất nhiều, lại do các đồn bót
của Địa phương quân nằm rải rác trấn giữ, quân số thực tế của các đơn vị này
luôn thấp hơn nhiều so với tên trên số lương. Ban Mê Thuột trở thành một căn cứ
không còn vòng đai phòng thủ theo đúng nghĩa quân sự. Thành ra, việc thất thủ
Ban Mê Thuột không phải là điều đáng hãnh diện như những lời tự mãn khoe khoang
của các tướng lãnh VC qua các hồi ký của họ.
Sự
chờ đợi bao giờ cũng làm thời gian trôi chậm lại. Mãi gần 7 giờ sáng mặt trời mới
thật sự xua tan được mây mù. Tôi gọi điện thoại cho Thiếu tá Cẩm để tìm hiểu
thêm tình hình. Chẳng có gì khả quan hơn. Cẩm nói với tôi phải chờ thời tiết
khá hơn rồi sẽ cùng Tướng Tường bay lên quan sát tình hình. Gần 9 giờ sáng, chiếc
trực thăng chỉ huy của Tướng Tường mới cất cánh được. Hình như tôi đã uống tới
ly cà phê thứ 3 hay thứ 4 gì đó.
Suốt
ngày hôm đó, trực thăng chỉ huy của Tướng Tường bay trên vùng trời Ban Mê Thuột.
Mãi tới 7 giờ tối tôi mới nói chuyện được với Thiếu tá Cẩm qua điện thoạị Tiếng
Cẩm xúc động :”Ban Mê Thuột bị tràn ngập rồi, không còn liên lạc được gì với Đại
tá Quang, Tư lịnh phó nữa. Tướng Tường đang ở BTL Quân đoàn 2, họp bàn về lệnh
lập kế hoạch giải tỏa”.
Ngay
trong thời điểm ấy, tôi không tin là có thể làm gì hơn cho kế hoạch nàỵ Nguyên
tắc quân sự cơ bản :”Phòng thủ 1 chống 3, tấn công 3 chọi 1”. Vậy cứ cho là
đang có 2 sư đoàn địch chiếm cứ trận địa, làm sao kiếm ra tối thiểu 5 sư đoàn để
tái chiếm? Ưu thế hỏa lực không còn, các đơn vị tổng trừ bị hầu như bị cầm chân
gần hết tại chiến trường hỏa tuyến, lực lượng nào để tiếp cứu đây?
Sáng
ngay 11, tôi được trực thăng đón ra BTL Sư đoàn họp hành quân. Kế hoạch hành
quân do Thiếu tá Cẩm, Trưởng Phòng 3 Sư đoàn trình bày gồm 2 giai đoạn :
-
Giai đoạn 1: Ngày 12, Trung đoàn 45 được trực thăng bốc đi từ đèo Tử Sĩ, đổ xuống
Quận Phước An, di chuyển về thị xã từ hướng đông, đến chạm tuyến chờ lệnh.
-
Giai đoạn 2 : Buổi sáng cùng ngày, Liên đoàn 7 Biệt động quân được không vận từ
Saigon sẽ đến thay thế Trung đoàn 44 ra tập trung tại căn cứ Hàm Rồng và sẵn
sàng di chuyển về Ban Mê Thuột bằng trực thăng.
Sáng
ngày 13, Trung đoàn 44 sẽ được không vận xuống Phước An, lần theo quốc lộ 21,
song song với Trung đoàn 45, tiến vào thị xã.
Họp
hành xong, tôi trở về ngay căn cứ 801 để chờ đơn vị bạn. Mãi tới gần 3 giờ chiều,
đoàn xe chở Liên đoàn 7 Biệt động quân mới tới nơị Người bước vào căn cứ đầu
tiên là Đại tá Nguyễn Kim Tây. Cuộc bàn giao vị trí cũng kéo dài tới gần 5 giờ
chiều mới hoàn tất. Trung đoàn 44 lên xe trực chỉ hướng Hàm Rồng.
Trung
đoàn 44 sẵn sàng tại bãi đáp lúc 7 giờ sáng ngày 13/3/75. Số lượng trực thăng dự
trù để di chuyển toàn bộ Trung đoàn gồm khoảng 50 chiếc đủ loại, trong đó có 8
chiếc Chinook, 30 chiếc HUID và phần còn lại là trực thăng vũ trang. Kế hoạch dự
trù di chuyển làm 2 đợt. Đợt đầu gồm Tiểu đoàn 3/44 do Đại úy Trần Hữu Lưu làm
Tiểu đoàn trưởng, Đại đội 44 trinh sát của Đại úy Mạnh, BCH (Bộ chỉ huy) Trung
đoàn 44. Quân số tổng cộng khoảng gần 600 ngườị Đợt thứ 2 gồm 2 Tiểu đoàn 1/44
của Thiếu tá Nguyễn Xuân Hoè, và Tiểu đoàn 2/44 của Đại úy Nguyễn Văn Pho, BCH
nhẹ do Trung tá Vũ Mạnh Cường, Trung đoàn phó chỉ huy.
Chuyến
không vận đầu tiên cất cánh lúc 9 giờ, đáp xuống khu vực rừng trống trước cửa
Chi khu Phước An lúc 10 giờ 15. Tôi vào găp Tướng Tường tại BCH Khu nhận lệnh.
Tôi ra lệnh cho Đại úy Lưu đưa tiểu đoàn đi theo hướng bắc quốc lộ 21 tiến lên
ngang tuyến của Trung đoàn 45 thì dừng lại chờ đợị Đại đội 44 Trinh sát được giữ
lại để bảo vệ BTL Sư đoàn. Đoàn trực thăng cất cánh trở lại Hàm Rồng để chở tiếp
đợt còn lại.
Đến
2 giờ chiều, vẫn không có tin tức gì của đợt không vận thứ 2. Tôi trở vào Chi
khu, nơi BTL Sư đoàn đang tạm đặt tại đây, để hỏi tin tức. Trung Tâm Hành Quân
của Sư đoàn cũng chẳng biết gì hơn! 4 giờ chiều, Trung Tâm hành Quân của Sư
đoàn cho biết cuộc không vận bị hủy bỏ, số trực thăng ấy đã được sử dụng để
chuyên chở các nhân viên BTL Quân đoàn trở về Nha Trang! 2 tiểu đoàn của tôi sẽ
nhận lệnh trực tiếp của Quân đoàn. Sau này tôi mới được biết 2 tiểu đoàn còn lại
của tôi đã đi theo đoàn quân triệt thoái theo liên tỉnh lộ 7 và bị tan rã hoàn
toàn. Trung tá Trung đoàn phó Vũ Mạnh Cường bị bắt làm tù binh, sau này bị đem
về nhốt và chết cháy trong conex tại trại giam Hàm Tân, Đại úy Pho, Tiểu đoàn
trưởng Tiểu đoàn 2/44, tự sát trước khi bị bắt.
Ngày
14/3/75, chúng tôi kiểm điểm lại và thấy như sau :
Liên
đoàn 21 Biệt động quân, sau khi vào được thị xã Ban Mê Thuột, tiến đến khu vực
phi trường L.19 trong thị xã, đã bị đánh bật ra ngoài vòng đai, hiện đang bị
vây hãm tại Đạt Lý.
Bô
Chỉ huy Trung đoàn 45 và Tiểu đoàn 3/44 đang bị cầm chân ngoài vòng đai thị xã.
Lực
lượng pháo binh yểm trợ trực tiếp (và duy nhất) là trung đội pháo binh diện địa
đang đặt tại Chi khu Phước An chỉ có 2 khẩu dại bác 105 ly.
Lực
lượng không quân yểm trợ, đánh phá các căn cứ tập trung của địch, trong và
ngoài vòng đai thị xã đang bị khốn đốn vì hỏa tiễn tầm nhiệt cầm tay SA37 của
CS do Nga chế tạo, lần đầu tiên được sử dụng rộng rãi trên chiến trường Tây
Nguyên.
Buổi
sáng ngày 14/3/75, trong chuyến bay từ Khánh Dương lên Phước An, máy bay trực
thăng của Tướng Tường bị trúng đạn phòng không 12.8 ly của CS. Tướng Tường và
viên co-pilot bị thương nhẹ, phải vào bịnh viện Nha Trang điều trị.
Sáng
ngày 15/3/75, Đại tá Phùng Văn Quang, Trung đoàn trưởng Trung doàn 45 và tôi,
được tin Sư đoàn có vị Tư lịnh mới, đó là Đại tá Lê Hữu Đức. Cùng ngày, Đại tá
Đức ra lịnh 2 chúng tôi cho đơn vị di chuyển lui về hướng đồi Chư Cúc lập tuyến
phòng thủ tại đâỵ 5 giờ chiều cùng ngày, trong khi chờ đợi trực thăng của vị tâ
Tư lịnh đáp xuống đỉnh Chư Cúc để họp thì đoàn chiến xa CS tràn tới dưới chân
đòi. Tiếng Đại úy Mạnh, Đại đội trưởng Đại đội 44 Trinh sát, reo lên trong
máy:”Báo cáo Bá Hòa, chúng tôi đã thiêu sống 1 con cua”. Những tiếng súng nỗ
ròn rã cách xa hướng chân đồi non cây số, quện trong khói đen và trắng của chiếc
xe thiết giáp địch bốc cháy thực sự không còn gây cho tôi một ấn tượng hứng khởi
nào nữa. Tiếng Đại tá tân Tư lịnh nói trong máy cho biết không thể đáp xuống được
và yêu cầu Đại tá Quang cùng tôi phối hợp phòng thủ chờ lịnh! Tôi còn nhớ hình
như Đại tá Quang có buông một tiếng chữi thề và leo lên xe Jeep chạy nhanh xuống
chân đồi trở về đơn vị.
Tôi
và Đại úy Phan Công Minh, sĩ quan hành quân của Trung doàn, lặng lẽ đi bộ theo
saụ Vừa ra khỏi khúc quanh trên đỉnh đồi, chúng tôi nghe tiếng xích sắt của xe
thiết giáp địch xình xịt bên taị cả 2 anh em không có chọn lựa nào khác là chui
qua vòng rào kẽm gai giăng quanh căn cứ, trượt theo sườn giốc xuống chân đồi,
nơi có cắm đầy những tấm bảng gỗ ngổn ngang, trên có hàng chữ :”Khu tử địa cấm
vào!!!”.
Dưới
chân đồi là môt lạch nước nhỏ, hai bên có trồng chuối. Tôi và Minh ngồi im lặng
dưới tầu lá chuối, ngâm chân vào giòng nước lạnh. Trong suốt 15 năm quân ngũ,
chưa bao giờ tôi thấy tuyệt vọng như thế, kể cả khi còn là môt Đại úy Tiểu đoàn
phó Tiểu doàn 2/11 Sư đoàn 7, khi bị vây hãm 3 ngày 2 đêm ở khu vực bến xe Mỹ
Tho, đơn vị chỉ gồm hơn 50 người, trong đó có tới hơn phân nửa là chết và bị
thương, đạn dược cạn kiệt và đói khát. Lúc đó, tôi vẫn thấy địch sẽ thất bại và
chúng tôi sẽ được giải cứu. Bây giờ đây thì không. Tôi không nhìn thấy một cơ
may nào để có thể giải cứu Ban Mê Thuột. Ngày 16/3/75 tôi và Minh tìm lại được
đơn vị, được trực thăng bốc về Khánh Dương.
5. Một vài cảm nghĩ về kế hoạch tái chiếm
Tôi
dược lịnh đưa đơn vị trở về Vũng Tàu qua điện thoại từ Trung tâm Hành quân Bộ Tổng
tham mưu. Khi đơn vị gom lại được tại Trung tâm Huấn luyện Lam Sơn, Vũng Tàu, tổn
thất nhân mạng hầu như không bao nhiêu, nhưng số binh sĩ bỏ ngũ thì khá nhiềụ
Phần lớn số binh sĩ này là người sinh trưởng tại các tỉnh duyên hải, thành ra lợi
dụng trong lúc di chuyển bằng đủ mọi thứ phương tiện, họ đã di theo đoàn người
di tản để trở về gia đình. Cuộc chiến tranh nhập nhằng đã vắt kiệt sức chịu đựng
của người lính chiến VN.
Kể
từ ngày VC rêu rao cái gọi là chiến dịch Đồng Khởi năm 1960 tại Bến Tre cho đến
năm 1975, trong 15 năm ấy những ngươi lính VN có giờ phút nào được hưởng giây
phút tạm gọi là thanh bình? Cuộc chiến không có hậu phương, ngay cả trong thời
gian nghỉ phép ngắn ngủi, họ cũng vẫn có thể bị bắt cóc trên các chuyến xe đò
trở về nhà, hoặc trúng mìn trên đường đi chuyển từ tiền phương trở về hậu cứ lấy
giấy phép, và sau cùng, họ cũng vẫn có thể trúng đạn pháo kích khi đang ngủ
trên giường cùng vợ con! Cái chết như là điều gì rất thường trực, lúc nào cũng
có thể xuất hiện và mang họ đi, thậm chí mang luôn cả thân nhân ruột thịt của
chính họ. Trong khi ngoài chiến trường xương rơi, máu đổ thì nhìn về phía sau
lưng, những trò chính trị nhố nhăng cùng một số chính khách hoạt đầu, tứ thời sống
bằng cái miệng hò hét hoan hô đả đảo, bôi nhọ, tranh chấp nhau, những luận điệu
phản chiến vô trách nhiệm... Rồi bà nọ ông kia mua quan bán chức, sống phè phỡn
trên nỗi thống khổ và sự hy sinh vô bờ bến của những người cầm súng. Giờ đây,
trên radio, trên báo chí, trên những tin tức tác động tâm lý của địch, họ đã thấy
gì? Họ thấy sự đổ vỡ của các mặt giới tuyến, thấy sự rút chạy (mà phát ngôn
viên quân sự đặt cho nó một cái tên mới là “di tản chiến thuật”) tán loạn từ khắp
mọi nơi. Trong tình thế như vây mà đòi hỏi nơi binh sĩ một tinh thần vì nước
quên mình, có lẽ chỉ những cấp chỉ huy có đầu óc hài hước cỡ Charlot mới dám
làm.
Những
ngày trong lao tù CS, tôi có dịp gặp hầu hết những cấp chỉ huy có liên hệ ít
nhiều tới chiến trường Tây nguyên năm 1975, như Đại tá Vũ Thế Quang (Tư lịnh
phó Sư đoàn 23), Đại tá Phùng Văn Quang (Trung đoàn trưởng Trung đoàn 45), Đại
tá Võ Ân (Trung đoàn trưởng Trung đoàn 53), Trung tá Lê Quí Dậu (Liên đoàn trưởng
Liên đoàn 21 Biệt động quân), Đại úy Xuân (Trưởng phòng 2 Tiểu khu Daklak),...
Qua các câu chuyện trao đổi, tôi chưa bao giờ nghe thấy ai tin tưởng vào một cơ
quan có thể tái chiếm Ban Mê Thuột với những kế hoạch đã được đưa ra thi hành
vào lúc ấy.
XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP