Showing posts with label Tài liệu lưu trữ. Show all posts
Showing posts with label Tài liệu lưu trữ. Show all posts

Wednesday, July 1, 2026

Sài Gòn 50 năm đổi tên: Những gì đã mất và những gì trường tồn

 

BBC News

30/6/2026

“...Theo nhiều nhà nghiên cứu, điều này xuất phát từ việc Sài Gòn không chỉ là một địa danh hành chính mà đã trở thành một biểu tượng văn hóa.

PGS-TS Hoàng Dũng nói với BBC rằng cái tên Sài Gòn đã tồn tại mấy trăm năm, vừa là vấn đề lịch sử, vừa là vấn đề văn hóa, tâm lí xã hội.

"Cái tên Sài Gòn khó mà gạch bỏ đi được và nó cũng chẳng có tội lỗi gì mà gạch bỏ. Cho nên người dân và ngay cả chính quyền người ta dùng từ Sài Gòn cũng là bình thường," ông nêu quan điểm.

Đối với nhà thơ Hoàng Hưng, người đã sống ở thành phố này gần 50 năm, cái tên TP HCM không cho ông những cảm xúc như tên Sài Gòn, "có lẽ vì nó chỉ mang ý nghĩa chính trị, hành chính đơn thuần, không gợi lên cái gì tha thiết, gắn bó"”

 

.com/img/a/

Nguồn hình ảnh,Getty Images

Chụp lại hình ảnh,Quang cảnh chợ Bến Thành vào ngày 20/1/1970

Được đăng30 tháng 6 2026

Thời gian đọc: 14 phút

 

Nửa thế kỷ trước, Sài Gòn mất tên, nhường chỗ cho Thành phố Hồ Chí Minh sau một quyết định của "bên thắng cuộc". Qua bao vật đổi sao dời, tên gọi Sài Gòn vẫn có sức sống mãnh liệt đời sống.

Trong một số phát biểu vào năm 2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nói rằng Sài Gòn trước năm 1975 như một "Hòn ngọc Viễn Đông", đồng thời nhận xét vào những năm 1960, Sài Gòn là điểm sáng và "Singapore cũng không bằng".

Những phát biểu này thu hút sự chú ý không chỉ vì góc nhìn về lịch sử phát triển đô thị, mà còn bởi việc tên gọi "Sài Gòn" được nhắc đến một cách tự nhiên trong diễn ngôn chính thức của người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đã 50 năm kể từ khi Quốc hội Việt Nam quyết định đổi tên Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1976, nhưng cái tên Sài Gòn vẫn hiện diện mạnh mẽ trong đời sống – trong trao đổi hằng ngày, trong văn chương, âm nhạc, thương hiệu và trong ký ức của nhiều thế hệ.

"Đi vô Sài Gòn", "lên Sài Gòn", "mưa Sài Gòn", "người Sài Gòn", hay thậm chí câu rao bán hàng: "Bánh mì Sài Gòn, đặc ruột thơm bơ, bánh mì Sài Gòn, một ngàn một ổ..." không chỉ thân thuộc tại miền Nam mà còn lan ra tới tận miền Bắc.

Đó vẫn là cách nói quen thuộc của hàng triệu người dân trong và ngoài thành phố, kể cả những người sinh ra nhiều năm sau khi Sài Gòn đã chính thức mang tên Thành phố Hồ Chí Minh.

Hai tiếng ấy vẫn xuất hiện trên biển hiệu quán xá, trong tên doanh nghiệp, bài hát, tác phẩm văn chương và trong cách người dân gọi thành phố hằng ngày.

Nhưng ngoài cái tên vẫn được gìn giữ qua nhiều thế hệ, thành phố đã thay đổi ra sao sau nửa thế kỷ?

 

.com/img/a/

Nguồn hình ảnh,Getty Images

Chụp lại hình ảnh,Những cô gái trẻ chạy xe Honda trên đường phố Sài Gòn năm 1972

 

Sài Gòn xưa: 'như ở nước ngoài'

Điều khiến thành phố này nổi bật trong nửa đầu thế kỷ 20 là một đời sống đô thị sôi động, một nền giáo dục phát triển và bầu không khí cởi mở hiếm có trong khu vực.

Trao đổi với BBC News Tiếng Việt, nhà thơ, dịch giả Hoàng Hưng, một người "Hà Nội phố" đã chuyển vào Sài Gòn sinh sống từ năm 1977, cho biết trước khi thành phố đổi tên, ông đã có dịp vào Sài Gòn thăm mẹ và họ hàng di cư từ năm 1954.

"Còn nhớ khi từ trên xe đò đi từ Đà Nẵng vào bước chân xuống đường Trần Quang Khải, tôi đã choáng ngợp tưởng như mình ra nước ngoài!

"Cảm nhận của tôi về Sài Gòn sau vài tháng sống ở đó thật rõ ràng: một thành phố đầy sức sống, với sự năng động của nền kinh tế thị trường, hàng hóa hết sức phong phú, đa dạng...

"Chỉ một gói mì tôm lúc đó cũng bao nhiêu ý nghĩa," ông chia sẻ.

Là trung tâm hành chính của Nam Kỳ thuộc Pháp, Sài Gòn đã sớm trở thành nơi hội tụ của nhiều nền văn hóa.

Người Việt, người Hoa, người Pháp, người Ấn và nhiều cộng đồng khác cùng sinh sống, tạo nên một đô thị đa sắc màu với những khu phố, chợ, nhà hàng, quán cà phê và nhà hát hoạt động nhộn nhịp.

.com/img/a/

Nguồn hình ảnh,Getty Images

Chụp lại hình ảnh,Đường phố Sài Gòn năm 1970

 

Những tờ báo như Gia Định Báo – tờ báo quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam, Nông Cổ Mín Đàm, Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Pháp Thời Báo, Thần Chung, hay sau này là Chính LuậnSài Gòn Mới, Tự Do... trở thành diễn đàn của giới học giả, nhà văn, nhà báo và công chúng đô thị.

Trên các sạp báo ở trung tâm Sài Gòn, người dân có thể dễ dàng tìm thấy cả báo tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp lẫn tiếng Hoa, thậm chí cả tạp chí Playboy, cho thấy mức độ đa dạng về ngôn ngữ, văn hóa và đời sống công cộng mà ít đô thị nào trong khu vực khi đó có được.

Sài Gòn cũng là một trong những trung tâm giáo dục quan trọng nhất của Đông Dương. Nơi đây tập trung nhiều trường học danh tiếng như Petrus Ký, Gia Long, Marie Curie hay Viện Đại học Sài Gòn, đào tạo nhiều thế hệ trí thức, nhà văn, nhà báo, chính khách và doanh nhân.

Sinh viên từ khắp miền Nam và cả Campuchia, Lào tìm đến Sài Gòn để học tập, góp phần biến thành phố thành trung tâm tri thức của khu vực.

Cùng với sự phát triển của giáo dục là một đời sống văn hóa phong phú. Sài Gòn có các nhà hát, rạp chiếu bóng, phòng hòa nhạc, hiệu sách, thư viện và các tụ điểm giải trí hiện đại. Âm nhạc, điện ảnh, cải lương và sau này là tân nhạc đều phát triển mạnh, tạo nên một không gian văn hóa năng động mà nhiều đô thị trong khu vực khi đó chưa có được.

Tinh thần cởi mở và khả năng tiếp nhận cái mới là một nét đặc trưng của Sài Gòn. Đây là nơi những xu hướng thời trang, âm nhạc, ẩm thực và lối sống mới thường xuất hiện đầu tiên trước khi lan ra các địa phương khác. Chính sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại đã tạo nên bản sắc riêng của thành phố.

Nhà thơ Hoàng Hưng, tác giả của những tập thơ tạo tiếng vang như Ngựa biển, Người đi tìm mặt, Hành trình,... cho biết ông rất ấn tượng với một nền giáo dục tốt đẹp, học sinh lễ phép kỷ luật ở Sài Gòn khi đó.

Bên cạnh đó, ông còn đề cập đến kho sách khổng lồ, đa dạng của một nền văn học, nghiên cứu và dịch thuật cởi mở, nhiều chiều, khai thác văn hóa dân tộc, đặc biệt là Phật giáo, và cập nhật kiến thức quốc tế; những tình khúc du dương, lãng mạn, đặc biệt là ca khúc Trịnh Công Sơn đầy ám ảnh da diết.

"Gần đây, có nghe Tổng Bí thư Tô Lâm khen ngợi Sài Gòn những năm 1960 còn văn minh hiện đại hơn Singapore cùng thời gian, thì thấy cái tên Sài Gòn quả là gắn với một cuộc sống tốt đẹp đáng nhớ," nhà thơ Hoàng Hưng nói.

 


'Lịch sử sang trang'

Sau khi Sài Gòn sụp đổ năm 1975, chính quyền cộng sản đổi tên thành phố bằng tên lãnh tụ Hồ Chí Minh, thay nhiều tên đường cũ bằng tên các nhà cách mạng, đảng viên cộng sản.

Vào ngày 2/7/1976, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa 6, Quốc hội đã thông qua nghị quyết chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn - Gia Định là Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong phần mở đầu của nghị quyết, Quốc hội nêu rằng nhân dân Sài Gòn - Gia Định "luôn luôn tỏ lòng kính yêu vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và tha thiết với việc thành phố mang tên Người", đồng thời khẳng định thành phố "xứng đáng được vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại".

Vào thời điểm đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Dũng đang học đại học ở Huế.

"Những người đọc văn chương chữ nghĩa như chúng tôi thì chỉ thấy một điểm thôi: là lịch sử sang trang," ông nhớ lại.

Theo nhà ngôn ngữ học này, việc đổi tên Sài Gòn không phải là sáng kiến của Quốc hội năm 1976, mà thật ra là một ý định đã được nung nấu từ lâu.

Ông Dũng chỉ ra rằng trong bài thơ Ta đi tới ra đời vào năm 1954, nhà thơ Tố Hữu đã viết: Ai đi Nam bộ/ Tiền Giang, Hậu Giang/ Ai vô thành phố/ Hồ Chí Minh/ Rực rỡ tên vàng...

"Người chiến thắng thì họ làm cái gì tùy họ, nếu có ý kiến gì chắc là rất dễ dàng bị gán mác phản động. Còn những người có suy nghĩ xa hơn thì chưa chắc họ đồng ý, nhưng tôi không tin có ai đủ can đảm mở miệng can ngăn.

"Thành ra cái tên Thành phố Hồ Chí Minh được thông qua một cách nhẹ nhàng. Tâm lý xã hội người thì phấn khởi, người thì cay đắng, nhưng tất cả đều phải chấp nhận," ông nói với BBC.

 

Sài Gòn thành tên phường

Vào giữa thập niên 1970, khu vực Sài Gòn - Gia Định có khoảng hơn ba triệu dân. Đây là trung tâm kinh tế, thương mại và hành chính lớn nhất miền Nam Việt Nam, với hệ thống cảng, ngân hàng, trường đại học và các khu dân cư được hình thành qua nhiều thời kỳ.

Không gian đô thị khi ấy chủ yếu tập trung ở khu vực các quận (cũ) nội thành như Quận 1, Quận 3, Quận 5, Phú Nhuận và một phần Bình Thạnh. Xa hơn là những vùng ngoại ô với ruộng lúa, kênh rạch và làng xóm.

Ngày nay, sau nhiều lần mở rộng địa giới và đặc biệt sau khi sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu vào năm 2025, TP HCM đã trở thành siêu đô thị với diện tích và dân số lớn nhất Việt Nam (khoảng 6.772 km² và dân số hơn 14 triệu người).

Sài Gòn hiện nay là tên của một phường ở trung tâm thành phố, được thành lập trên cơ sở sáp nhập toàn bộ phường Bến Nghé cùng một phần phường Đa Kao và phường Nguyễn Thái Bình của Quận 1 cũ.

Với diện tích hơn 3km2 và dân số hơn 47.000 người, phường này được xem là trái tim của thành phố, nơi tập trung nhiều công trình mang tính biểu tượng như phố đi bộ Nguyễn Huệ, Nhà hát Thành phố, trụ sở UBND TP HCM, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Trung tâm và bờ sông Sài Gòn.

Theo PGS-TS Hoàng Dũng, người đã cùng gia đình chuyển vào TP HCM sinh sống từ hơn 30 năm trước, Sài Gòn bắt đầu chỉ là khu vực trung tâm.

"Ví dụ như tôi ở Gò Vấp, mà nói là mai 'lên Sài Gòn', thì có nghĩa chính là lên khu trung tâm đó. Bây giờ gọi là phường Sài Gòn thì là phù hợp," ông nhận xét.

Trong khi đó, nhà thơ Hoàng Hưng nói rằng, với cá nhân ông "thôi thì phải chấp nhận" việc cái tên Sài Gòn được lưu giữ tới tư cách là một phường để nó không mất hẳn tên về mặt hành chính.

"Thực tình, tôi mong muốn TP HCM là một đại đô thị, bao gồm: thành phố Sài Gòn (hoặc Sài Gòn - Gia Định), thành phố Vũng Tàu, thành Thủ Dầu Một. Được thế là đẹp nhất," ông chia sẻ quan điểm.

.com/img/a/

Nguồn hình ảnh,Getty Images

Chụp lại hình ảnh,Quang cảnh TP HCM vào tháng 4/2025

 

TP HCM qua những thăng trầm

Trong nửa thế kỷ kể từ khi mang tên TP HCM, đô thị lớn nhất Việt Nam đã trải qua nhiều thăng trầm.

Nếu xét về nốt thăng, TP HCM ngày nay là đầu tàu kinh tế của Việt Nam, đóng góp khoảng một phần tư GDP cả nước và là trung tâm tài chính, công nghệ, logistics và dịch vụ lớn nhất.

Đây cũng là nơi hội tụ của con người từ mọi miền: sinh viên tới học tập, mọi tầng lớp người dân tới kiếm việc làm, cơ hội kinh doanh.

Hàng chục khu đô thị mới đã mọc lên ở phía Đông, phía Nam và phía Tây. Những nơi từng là đầm lầy hoặc vùng nông nghiệp như Thủ Thiêm, Phú Mỹ Hưng hay một phần TP Thủ Đức đã trở thành các trung tâm kinh doanh và khu dân cư hiện đại.

Hệ thống hạ tầng cũng thay đổi mạnh mẽ. Nếu như Sài Gòn trước đây chủ yếu phụ thuộc vào xe máy, xe buýt và đường bộ thì TP HCM ngày nay đã có tuyến metro đầu tiên đi vào hoạt động sau gần 20 năm thi công, cùng mạng lưới đường cao tốc, đường vành đai và các dự án giao thông quy mô lớn đang tiếp tục được triển khai.

Nhà thơ Hoàng Hưng nhận định rằng những năm gần đây, TP HCM có nhiều thay đổi theo hướng tốt, đặc biệt là xây dựng kiến trúc hiện đại; dịch vụ, thương mại phục vụ đời sống người dân.

Theo ông, đó là nhờ nền kinh tế thị trường được khôi phục, kinh tế tư nhân được khuyến khích, từ đó mới có những thành tựu rõ ràng là các khu đô thị hiện đại như Phú Mỹ Hưng, Vinhomes... hay các hệ thống trường học tư thục và quốc tế; hệ thống siêu thị; hệ thống xe buýt công cộng; hệ thống xe công nghệ mà ông cho là "hữu hiệu hơn nhiều nước khác".

"Tôi tin là với truyền thống năng động, cởi mở của người Sài Gòn và đường lối kinh tế mới của nhà nước Việt Nam, thành phố này sẽ phát triển mạnh mẽ," ông đánh giá.

Nhưng bên cạnh đó còn có những nốt trầm.

Những năm sau 1975, thành phố đối mặt với nhiều khó khăn do hậu quả chiến tranh, cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung và tình trạng khan hiếm hàng hóa.

Nửa cuối thập niên 1970, các chiến dịch cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh được triển khai, trong đó nhiều doanh nghiệp và hộ kinh doanh tư nhân, đặc biệt là cộng đồng doanh nhân người Hoa vốn giữ vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại của Chợ Lớn, bị quốc hữu hóa hoặc buộc phải ngừng hoạt động. Nhiều gia đình đô thị Sài Gòn bị đẩy đi vùng kinh tế mới. Hàng chục ngàn người bỏ xứ ra đi.

Cùng với căng thẳng trong quan hệ Việt Nam-Trung Quốc và làn sóng nạn kiều, người Hoa rời Việt Nam vào cuối những năm 1970, hoạt động kinh tế bị rối loạn, sụp đổ.

.com/img/a/

Nguồn hình ảnh,Getty Images

 

Chụp lại hình ảnh,Các nhân viên y tế mặc đồ bảo hộ khi đưa một bệnh nhân nhiễm Covid-19 lên xe cứu thương tại Bệnh viện dã chiến số 6 ở Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 8/2021

Gần đây hơn, đại dịch Covid-19 là một trong những giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử hiện đại của thành phố.

Là tâm dịch lớn nhất cả nước vào năm 2021, TP HCM chịu tổn thất nặng nề về kinh tế và con người. Theo số liệu từ Bộ Y tế Việt Nam, thành phố là nơi có số ca tử vong do COVID-19 cao nhất cả nước, với 19.985 người. Con số thực tế được cho là cao hơn thế.

PGS-TS Hoàng Dũng cho rằng một nốt trầm về mặt văn hóa sẽ có tác động sâu xa là việc "cả một nền báo chí lẫy lừng của Sài Gòn" bị dẹp bỏ.

Ngày 20/6, Thành ủy TP HCM công bố quyết định thành lập Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình TP HCM trên cơ sở sắp xếp lại 11 cơ quan báo chí của thành phố.

Từ ngày 1/7, tám cơ quan báo chí, gồm báo Người Lao ĐộngPhụ nữ TP HCM, Pháp luật TP HCM cùng năm tạp chí, chấm dứt hoạt động độc lập.

Ba đơn vị được tổ chức lại, gồm báo Sài Gòn Giải Phóng, Tuổi Trẻ (bản điện tử) và Đài Phát thanh - Truyền hình TP HCM (HTV), sẽ trực thuộc cơ quan mới cùng với Trung tâm Đào tạo và Truyền thông.

"Tôi nghĩ đây là một thiệt hại rất lớn về đời sống tinh thần. Lịch sử báo chí khi viết về giai đoạn này phải coi đây là một sự kiện đau đớn không thể quên được," nhà ngôn ngữ học này cho hay.

 

Vì sao cái tên Sài Gòn vẫn còn đó?

Nửa thế kỷ sau khi mất tên với tư cách là một đơn vị hành chính, cái tên Sài Gòn vẫn chưa biến mất khỏi đời sống.

Sài Gòn hiện diện trong hàng loạt thương hiệu: Bia Sài Gòn, Saigon Co.op, Saigon Centre, SaigonTourist... Nhiều doanh nghiệp thành lập sau năm 1975 vẫn lựa chọn "Sài Gòn" làm thương hiệu vì giá trị nhận diện và tính biểu tượng.

Trên mạng xã hội, nhiều người vẫn giới thiệu mình là "người Sài Gòn". Trong văn chương, âm nhạc, báo chí, tên gọi này vẫn được sử dụng như một biểu tượng của sự phóng khoáng, cởi mở và nhịp sống sôi động.

Theo nhiều nhà nghiên cứu, điều này xuất phát từ việc Sài Gòn không chỉ là một địa danh hành chính mà đã trở thành một biểu tượng văn hóa.

PGS-TS Hoàng Dũng nói với BBC rằng cái tên Sài Gòn đã tồn tại mấy trăm năm, vừa là vấn đề lịch sử, vừa là vấn đề văn hóa, tâm lí xã hội.

"Cái tên Sài Gòn khó mà gạch bỏ đi được và nó cũng chẳng có tội lỗi gì mà gạch bỏ. Cho nên người dân và ngay cả chính quyền người ta dùng từ Sài Gòn cũng là bình thường," ông nêu quan điểm.

Đối với nhà thơ Hoàng Hưng, người đã sống ở thành phố này gần 50 năm, cái tên TP HCM không cho ông những cảm xúc như tên Sài Gòn, "có lẽ vì nó chỉ mang ý nghĩa chính trị, hành chính đơn thuần, không gợi lên cái gì tha thiết, gắn bó".

"Bản thân tôi là người gốc Hà Nội mấy đời, bà nội tôi là người góp phần xây dựng nên những đường phố ở Hà Nội những năm 1920, nhưng cũng tự hào là đã trở thành 'người Sài Gòn' với thời gian dài nhất của đời mình," ông nói thêm.

Nhà ngôn ngữ học Hoàng Dũng lưu ý rằng đa số người dân đang sống tại thành phố này là cư dân sau năm 1975, ngay trong lòng chế độ mới, nên cách nhìn của họ sẽ khác ông cha họ.

"Cho nên đây là câu chuyện của tương lai, sự hòa hợp, hòa giải dân tộc phụ thuộc rất lớn vào cách hành xử của chính quyền. Họ phải cho thấy tính chính danh của mình ngày càng được đắp bồi chứ không phải là hao mòn," nhà nghiên cứu này kết luận.

BBC News

SOURCE:

https://www.baoquocdan.org/2026/07/sai-gon-50-nam-oi-ten-nhung-gi-mat-va.html

 

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC BẢN DỊCH TIẾNG ANH TỪ GOOGLE

Wednesday, April 15, 2026

Chuyện về người giữ 16 tấn vàng của VNCH vừa qua đời tại Thái Lan (TS Đinh Xuân Quân)

 

 

Thống đốc Ngân hàng Quốc gia VNCH: 

LÊ QUANG UYỂN (1937- 2018)




TS Đinh Xuân Quân (*)

March 19, 2018

Ông Lê Quang Uyển, người có trách nhiệm giữ 16 tấn vàng của Ngân Hàng Quốc Gia (NHQG), tài sản của Việt Nam đã qua đời tại Chiang Mai, Thái Lan thọ 81 tuổi. Ông sinh Tháng Chín năm 1937 và mất ngày 26 Tháng Giêng năm 2018. Nhân dịp 49 ngày ông mất, tôi xin có bài sau đây.

Trong giới kinh tế tài chính, nhất là vào những năm chót của chính thể Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), ai cũng biết đến Thống đốc trẻ tuổi của Ngân Hàng Quốc Gia là ông Lê Quang Uyển.

Sau khi tốt nghiệp HEC (Hautes Etudes Commerciales) tại Paris năm 1960, ông Lê Quang Uyển về Việt Nam phục vụ. Ông đã làm một thời gian ngắn làm cho Ngân Hàng Pháp Á (BFA – Banque Francaise de l’Asie). Sau đó ông Lê Quang Uyển cũng như nhiều chuyên viên trẻ khác cũng bị động viên vào quân đội và lên đến cấp bậc đại úy.

Từ quân đội ông được chuyển sang ngạch “chuyên viên Phủ Tổng Thống,” một ngạch công vụ của VNCH dành cho các chuyên viên trẻ, có học thức và nhiều tương lai. Họ được đào tạo để trở thành các nhà lãnh đạo tương lai trong ngành kinh tế, tài chính, giáo dục; các công ty của chính phủ – nhà đèn, công ty đường, Air Vietnam,… Và sau này có thể có những trách nhiệm cao cấp trong chính phủ. Ngạch này được thành lập từ thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm để kéo các chuyên viên giỏi phục vụ cho chính phủ VNCH.

Trong cương vị này, ông đã tham gia nhiều chuyến đi của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, trong đó có chuyên viếng thăm Manilla. Sau này ông đã được đề nghị giữ ghế thống đốc Ngân Hàng Quốc Gia.

Người ta nhớ nhất về Thống Đốc Uyển là những việc sau: 

Chuyện Tín Nghĩa Ngân Hàng (TNNH hay Con gà đẻ trứng vàng), một xì-căng-đan thời VNCH 

Lúc đó Tín Nghĩa Ngân Hàng là một trong những ngân hàng có tiếng tại Việt Nam, có nhiều chi nhánh tại Sài Gòn, Chợ Lớn và tại các tỉnh (năm 1969, sau khi đậu cao học kinh tế tôi có về làm tập sự tại ngân hàng ở VN và được gởi đi nhiều chi nhánh để biết về các nghiệp vụ tài chính ngân hàng).

Ban thanh tra ngân hàng của Ngân Hàng Quốc Gia có trách nhiệm theo dõi các nghiệp vụ cho vay của mọi ngân hàng có mặt tại Việt Nam. Một người trong nhóm thanh tra có báo cáo “sơ hở” trong quy trình cho vay của Tín Nghĩa Ngân Hàng và việc này đã trở thành xì-căng-đan tài chính tại Việt Nam. Ông Nguyễn Tấn Đời, chủ tịch kiêm tổng giám đốc Tín Nghĩa Ngân Hàng đã dùng một số bộ hạ, người thân tín trong gia đình để vay các tín dụng. Ông quên rằng những việc làm này cũng khó mà qua mắt các thanh tra ngân hàng của Ngân Hàng Quốc Gia. Những người đi vay mà tài sản quá thấp làm sao có thể thế chấp để đi vay một số tín dụng khổng lồ của Tín Nghĩa Ngân Hàng. Thật ra thì ông Nguyễn Tấn Đời đã sử dụng những người này, đứng tên vay tiền cho cá nhân ông, rồi ông dùng số tiền tín dụng này để đầu tư cho cá nhân ông.

Thời đó chưa có tin học hay máy computer, nên muốn kiểm tra phải tới tận nơi và khám xét trực tiếp các hồ sơ cho vay (các sổ sách và tính toán đều làm bằng tay hoặc bằng máy NCR). Thống Đốc Uyển đã trình Tổng Thống Thiệu và thảo luận với ngành cảnh sát hình sự để giúp Ngân Hàng Quốc Gia đánh giá các hồ sơ cho vay của Tín Nghĩa Ngân Hàng.

Thống Đốc Lê Quang Uyển đợi lúc ông Nguyễn Tấn Đời đi nghỉ ở Đà Lạt, để gởi các thanh tra ngân hàng làm cuộc truy tìm các hồ sơ tín dụng gian lận của Tín Nghĩa Ngân Hàng. Các thanh tra chặn mọi cánh cửa của Tín Nghĩa Ngân Hàng ở bến Chương Dương không cho hồ sơ thoát ra ngoài. Trụ sở Tín Nghĩa Ngân Hàng không xa Ngân Hàng Quốc Gia, có lẽ độ 1,000 m và cùng ở Bến Chương Dương. Qua việc kiểm tra này, các thanh tra đã tìm thấy các hồ sơ tín dụng “dởm.” Lúc đó ông Nguyễn Tấn Đời là một tổng giám đốc ngân hàng rất mạnh, có nhiều người che chở và việc kiểm tra sổ sách của Tín Nghĩa Ngân Hàng là một kỳ công – phải được tổ chức như một chiến dịch quân sự.

Qua việc thanh tra này ông Lê Tấn Đời đã bị đưa ra tòa. Ông bị tuyên án và phải vào khám Chí Hòa. Như thế, Thống Đốc Lê Quang Uyển đã làm đúng trách nhiệm của NHQG là thanh tra chặt chẽ hệ thống ngân hàng thương mại dưới quyền ông. Qua việc này, ông đã chận đứng các lạm dụng trong ngành tài chính.

Việc giúp các chuyên gia khối kinh tế tài chính – gởi đi làm việc tại các bộ

Một khó khăn của VNCH trong những năm 1970 là thiếu ngân sách và khó tuyển mộ chuyên viên vì lương thấp. Trong kinh tế, muốn có thăng bằng ngân sách thì chính phủ sẽ bán một số công khố phiếu ra cho công chúng. Với tiền công khố phiếu, chính phủ dùng bù đắp thâm hụt ngân sách.

Ngân Hàng Quốc Gia có nhiệm vụ tham gia vào các chính sách tiền tệ và có đóng góp qua việc mua một số công khố phiếu của chính phủ. NHQG mua một số công khố phiếu và tiền lời của công khố phiếu được bỏ vào một quỹ của Ngân Hàng Quốc Gia. Thống Đốc Uyển quyết định dùng số tiền lời này, để trả lương cho nhân viên kinh tế tài chính – mà lúc đó VNCH đang rất thiếu – và cần một số lời được chia cho nhân viên của Ngân Hàng Quốc Gia. Qua việc này, ông thống đốc giúp bồi đắp vào chỗ hổng tài trợ chuyên viên, mà trước đây cơ quan USAID tài trợ nhưng ngân khoản viện trợ lại ngày càng giảm. Qua việc này, một số chuyên gia đã được gởi đi làm tại các bộ như Tài Chính, Nha Thuế Vụ hay Bộ Kế Hoạch, nói chung mọi nơi cần chuyên gia.

Ông cũng có chương trình kéo các chuyên viên tài chính ngân hàng trẻ gia nhập NHQG, gầy dựng nhân sự cho tương lai ngân hàng. Một số người trẻ, có khả năng và có tay nghề được tuyển mộ vào NHQG làm trong văn phòng thống đốc.

Ngoài việc dùng quỹ tiền lời công khố phiếu, Thống Đốc Uyển còn sử dụng Quỹ Phát Triển (QPT) Kinh tế Quốc Gia mà ông làm chủ tịch Hội Đồng Quản Trị (HĐQT) gởi các chuyên viên của QPT đi giúp các bộ. Quỹ Phát Triển là một chi nhánh – thành phần của NHQG được vốn của Hoa Kỳ (USAID) trợ giúp. Ngoài việc tái tài trợ các ngân hàng phát triển Việt Nam (Ngân Hàng Phát Triển Kỹ Nghệ, Ngân Hàng Phát Triển Nông nghiệp, SOFIDIV…) Quỹ Phát Triển Kinh Tế Quốc Gia có một số chuyên viên trẻ được gởi đi trợ giúp các Bộ Kế Hoạch, Bộ Tài Chính qua việc tham gia vào công tác xây dựng Kế Hoạch Phát Triển Hậu Chiến, nhất là sau khi Hiệp Định Paris được ký kết.

Thống Đốc Lê Quang Uyển cũng cố vấn cho Tổng Thống Thiệu chọn người trong khối kinh tế tài chính, trong đó có việc giới thiệu ông Nguyễn Văn Hảo vào Quỹ Phát Triển và sau này làm phó thủ tướng đặc trách về kinh tế tài chính. 

Giữ 16 tấn vàng cho Việt Nam

Trong những ngày chót của VNCH, Hoa Kỳ muốn VNCH đưa 16 tấn vàng gởi dự trữ tại Ngân Hàng Trung Ương tại New York (một việc làm bình thường vì đa số các nước đều có trương mục với ngân hàng FED New York). Sau khi bàn bạc, Thống Đốc Lê Quang Uyển quyết định gởi các thoi vàng qua Thụy Sĩ, tại Ngân Hàng Banque International Ressettlement – BIR ở Basle.

Theo kinh nghiệm thế giới, nhiều chính phủ Âu Châu trước đây, khi bị Cộng Sản xâm chiếm họ đã gởi vàng dự trữ tại đây để tránh chiến tranh và sau này giữ được tài sản quốc gia. Một kế hoạch đã được lập lên để chở 16 tấn vàng sang Thụy Sĩ chứ không phải sang Hoa Kỳ. NHQG đã cho mướn một chuyến may bay để chở số vàng này qua Thụy Sĩ.

Trong lúc hỗn loạn của những ngày miền Nam sắp mất, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích và máy bay được mướn chở vàng không thể đáp xuống Tân Sơn Nhất, vì vậy kế hoạch gởi vàng qua Thụy Sĩ không thực hiện được.

Vào những ngày chót, một số nhân viên ngân hàng cấp cao đều được cấp Walkie Talkie để dễ liên lạc với nhau nhằm bảo vệ tài sản cho Việt Nam. Thống Đốc Lê Quang Uyển tử thủ trong NHQG và chỉ mở cửa NHQG khi Cộng Sản mang nhiều xe tăng đến định bắn vào NHQG.

Cộng Sản lúc nào cũng phao tin đồn là cựu TT Nguyễn Văn Thiệu đã mang 16 tấn vàng đi nước ngoài trong khi nhiều người cũng kể công về việc giữ số vàng này. Vậy sự thật ra sao?

Bài báo sau đây của nhân chứng nói về kiểm tra vàng tại NHQG do báo Tuổi Trẻ đăng:

Bài viết của tác giả Huỳnh Bửu Sơn trên tờ Tuổi Trẻ trích đoạn như sau:

…Những ngày đầu Tháng Năm, 1975, tôi vào trình diện tại Ngân Hàng Quốc Gia ở 17 Bến Chương Dương, thủ đô Sài Gòn cùng các đồng nghiệp khác, chỉ thiếu vắng một vài người. Chúng tôi được lệnh của Ban Quân quản Ngân hàng Quốc gia là chờ phân công tác. Trong khi chờ đợi, mỗi ngày mọi người đều phải có mặt tại cơ quan.

Lần kiểm kê cuối cùng… Việc kiểm kê kho tiền và vàng là việc chúng tôi làm thường xuyên hằng tháng, hằng năm nên cảm thấy không có gì đặc biệt. Chỉ có một điều là tôi biết lần kiểm kê này chắc chắn là lần kiểm kê cuối cùng đối với tôi, kho tiền và vàng sẽ được bàn giao cho chính quyền mới. Tôi không lo âu gì cả vì biết chắc rằng số tiền và vàng nằm trong kho sẽ khớp đúng với sổ sách.

Trong những ngày hỗn loạn, các hầm bạc của Ngân Hàng Quốc Gia vẫn được chúng tôi quản lý một cách tuyệt đối an toàn. Cần nói thêm là các hầm bạc được xây rất kiên cố với hai lớp tường dày, mỗi lớp gần nửa thước, các cửa hầm bằng thép có hai ổ khóa và mật mã riêng, được thay đổi định kỳ, mỗi cửa nặng trên 1 tấn.

Đại diện Ban Quân Quản là một cán bộ đứng tuổi, khoảng 50. Cùng tham gia với ông trong suốt quá trình kiểm kê là một anh bộ đội còn rất trẻ, trắng trẻo, đẹp trai và rất thân thiện. Anh hay nắm tay tôi khi trò chuyện. Sau này tôi mới biết tên anh là Hoàng Minh Duyệt – chỉ huy phó đơn vị tiếp quản Ngân Hàng Quốc Gia.

Số vàng đúc lưu giữ tại kho của Ngân Hàng Quốc Gia vào thời điểm đó gồm vàng thoi và các loại tiền vàng nguyên chất. Có ba loại vàng thoi: vàng thoi mua của Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ (FED); vàng thoi mua của một công ty đúc vàng ở Nam Phi – Công ty Montagu; và vàng thoi được đúc tại Việt Nam, do tiệm vàng Kim Thành đúc từ số vàng do quan thuế tịch thu từ những người buôn lậu qua biên giới, phần lớn từ Lào. 

Tất cả những thoi vàng đều là vàng nguyên chất, mỗi thoi nặng 12-14kg, trên mỗi thoi đều có khắc số hiệu và tuổi vàng (thường là 9997, 9998). Các thoi vàng được cất trong những tủ sắt có hai lớp khóa và được đặt trên những kệ bằng thép, mỗi kệ được xếp khoảng năm, sáu thoi vàng. Nhưng qua năm tháng, bị nặng trĩu trước sức nặng của vàng, các kệ thép cũng bị vênh đi.

Các đồng tiền vàng được giữ trong những hộp gỗ đặt trong tủ sắt. Đó là những đồng tiền vàng cổ có nhiều loại, được đúc và phát hành từ thế kỷ 18, 19 bởi nhiều quốc gia khác nhau… Ngoài giá trị của vàng nguyên chất, các đồng tiền này còn được tính theo giá trị tiền cổ, gấp nhiều lần giá trị vàng nội tại của nó. Tất cả số vàng thoi và tiền vàng cổ đều được theo dõi chi tiết từng đơn vị, số hiệu, tuổi vàng, số lượng ghi trong một sổ kiểm kê do bộ phận điện toán (computer) của ngân hàng theo dõi định kỳ hằng tháng và hằng năm, hoặc bất cứ khi nào có thay đổi xuất nhập tồn kho. Kết thúc, ai nấy đều vui vẻ thấy số lượng tiền và vàng kiểm kê đều khớp với sổ sách điện toán từng chi tiết nhỏ. Tôi ký vào biên bản kiểm kê, lòng cảm thấy nhẹ nhõm. Việc bàn giao tài sản quốc gia cho chính quyền mới đã hoàn tất. Sau chiến tranh, ít nhất đất nước cũng còn lại một chút gì, dù khiêm tốn, để bắt đầu xây dựng lại. Về phía chúng tôi, điều này cũng chứng minh một cung cách quản lý nghiêm túc của những người đã từng làm việc tại Ngân Hàng Quốc Gia…

Tác giả Huỳnh Bửu Sơn cũng liệt kê từng tủ và từng hầm kho tàng. Và cuối bài viết, ông ghi: Tổng cộng: 1.234 thoi vàng.”

Qua việc bảo tồn tài sản quốc gia, việc này cho thấy là các công chức của NHQG và người đứng đầu là Thống Đốc Lê Quang Uyển đã làm việc một cách nghiêm túc – với tinh thần trách nhiệm của một công chức. Đó là niềm hãnh diện cho VNCH, không bỏ chạy (tình thần trách nhiệm) và rất trung thực. Thống Đốc Lê Quang Uyển là một tấm gương soi sáng cho thế hệ trẻ – cho tinh thần trách nhiệm của công chức miền Nam.

Thống Đốc Lê Quang Uyển và tù cải tạo 

Ông Uyển, cũng như nhiều người khác, đã phải đi cải tạo trên 3 năm trong Nam (1975-1979). Trái với ông phó thống đốc Ngân Hàng Quốc Gia là ông Dõng, ông Uyển không trình diện liền khi Cộng Sản kêu gọi thành phần nội các ra trình diện học tập (họ không biết là thống đốc Ngân Hàng Quốc Gia có hàm bộ trưởng.) Ông Phó Thống Đốc Dõng đã ra trình diện và bị chết trong trại tù Thanh Cẩm, tỉnh Thanh Hóa. (Tôi còn gặp bà Dõng tại Sài Gòn sau khi bà bị trục xuất ra khỏi nhà tại NHQG, khi tôi đi cải tạo về vào năm 1979).

Ông Uyển là một sĩ quan VNCH cấp bậc đại úy và đã ra trình diện khi Cộng Sản gọi các sĩ quan cấp đại úy trình diện. Ông bị đi tù cải tạo 3 năm.

Ông Lê Quang Uyển đã đi Pháp cùng vợ vì bà vợ, chị Geneviève LyLap (một huynh trưởng nữ hướng đạo hệ Scout et Guide de France, bà là công dân Pháp và là nhân viên Tòa Đại Sứ Pháp tại Sài Gòn).

Năm 1981, ông Uyển tham gia vào ngân hàng Banque Indosuez. Ông được gởi làm giám đốc chi nhánh tại Saudi Arabia và ở đây đến 1990. Ông đứng đầu chi nhánh “Al BankAl Saudi Al Fransi” (Saudi French Bank), ngân hàng duy nhất của Pháp tại Ả Rập Saoudi. Sau 1990, ông Lê Quang Uyển được phái đi làm cho nhiều chi nhánh của ngân hàng Indosuez tại nhiều nước khác nhau.

Ông Lê Quang Uyển đã về hưu tại Chiang Mai, Thái Lan. Ông là hình ảnh một công chức VNCH có tư cách và có tinh thần trách nhiệm rất cao. Trong dịp 49 ngày ông qua đời (ba má và gia đình ông Lê Quang Uyển theo đạo Cao Đài), tôi viết vài hàng này để đề cao tinh thần trách nhiệm của cựu Thống Đốc Lê Quang Uyển.

Với tư cách một chuyên viên trẻ đã từng có thời gian làm việc với ông, tôi xin thành kính chia sẻ nỗi buồn với chị Uyển trong sự mất mát này và cầu mong ông sớm được về miền Cực Lạc.

(TS. Đinh Xuân Quân)

California, Chủ Nhật, 18 Tháng Ba, 2018 

(*) TS Đinh Xuân Quân là cựu nhân viên Quỹ Phát Triển trực thuộc NHQG. Ông là cựu giáo sư Đại Học Luật Khoa, Ban Kinh Tế, Đại Học Saigon (khóa 1974-1975). Hiện nay ông là chuyên gia, cố vấn kinh tế cho Liên Hiệp Quốc (UNDP+World Bank) và USAID tại nhiều nước như Afghanistan, Iraq, Indonesia…

SOURCES:

https://www.nguoi-viet.com/dien-dan/chuyen-ve-nguoi-giu-16-tan-vang-cua-vnch-vua-qua-doi-tai-thai-lan/

https://www.voatiengviet.com/a/tinh-than-trach-nhiem-cua-vi-thong-doc-sau-cung-ngan-hang-quoc-gia-vnch/4313530.html