Showing posts with label Mất trong trại tù cộng sản. Show all posts
Showing posts with label Mất trong trại tù cộng sản. Show all posts

Saturday, November 21, 2020

*** Đại uý Huỳnh Văn Lượm mất trong Trại Tù Z30A Xuân Lộc





ĐẠI ÚY HUỲNH VĂN LƯỢM (Long Lễ) bên trái hình, xuất thân khoá 17 VB.QGVN,
Đại Đội Trưởng ĐĐ.1 TĐ.1 TQLC, hình chụp tháng 5/1967 trong đợt Hành quân Rừng Sác.
Cấp bậc và Chức vụ sau cùng: Liên Đoàn Phó LĐ.258 TQLC

Đại úy Lượm mất trong Trại Tù Z30A Xuân Lộc.

Sources: TQLC


.

*** Trung tá Bùi văn Sâm, Liên đoàn trưởng LĐ2/BĐQ: Chết trong trại "tù cải tạo" Z30C


“… Giữa năm 1970 tôi được lên đại úy nhiệm chức. 
Dịp này, TRUNG TÁ BÙI VĂN SÂM, Liên đoàn trưởng LĐ2/BĐQ, đã hứa với tôi trong bữa tiệc khao lon ở vũ trường Mimosa, Pleiku, do ông khoản đãi.
"Một ngày sau khi ông có nghị định lên đại úy thực thụ, tôi sẽ giao tiểu đoàn cho ông."
Đầu năm 1971, Trung tá Sâm đã giữ lời, cho tôi chỉ huy tiểu đoàn, không qua chức Tiểu đoàn phó.

Năm 1981, trước khi trút hơi thở sau cùng trong trại tù cải tạo Z30C, ông đã nài nỉ cán bộ Công- An Cộng-Sản chỉ huy trại giam cho phép ông được thấy mặt tôi lần cuối cùng. Cán bộ Việt-Cộng từ chối, không cho tôi vào thăm ông. Ông đã ra đi vào một ngày cuối đông…”

BĐQ Vương Mộng Long



.

Hạ sát Trung tá VÕ VÀNG, mặt thật tàn ác cộng sản lộ rõ (Tác giả: Phạm văn Hồng)


Lời giới thiệu:

Tác giả, Thiếu Tá Phạm Văn Hồng xuất thân Khóa 20 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, phục vụ tại Bộ Tư Lệnh/Quân Đoàn I/Phòng 3. Ngày 16 tháng 1 năm 1974, đương sự và G. Kosh, một nhân viên của lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Đà Nẵng có nhiệm vụ theo tàu Hải Quân VNCH ra đảo Hoàng Sa khảo sát, nghiên cứu kế hoạch thiết lập sân bay. Ba hôm sau, quân Trung cộng đánh chiếm Hoàng Sa, bắt tất cả quân nhân VNCH kể cả nhân viên của tòa lãnh sự Mỹ. Sau một tuần, Trung cộng đã thả người Mỹ vì lý do “nhân đạo”, và sau 29 ngày, các quân nhân VNCH mới được trả tự do. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Thiếu Tá Hồng K20 bị cộng phỉ giam trong trại lao động khổ sai hơn 8 năm ở Quảng Nam. Thiếu Tá Phạm Văn Hồng K20 là một trong những nhân chứng vụ cộng phỉ thảm sát Trung Tá Võ Vàng K17 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
Trân trọng.

                  *****
                         
Khi nhắc đến danh tánh cố Trung Tá Võ Vàng, cựu Sinh Viên Sĩ Quan khóa 17 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, có lẽ rất nhiều chiến hữu phục vụ tại vùng I chiến thuật, nhất là các chiến hữu Biệt Động Quân và người dân thị xã Huế, hẳn không ai xa lạ gì với tên tuổi của anh. Lý do dễ hiểu là vì trong biến cố Mậu Thân 1968, với trách nhiệm tái chiếm các mục tiêu từ Vĩ Dạ, Dương Nổ, Bãi Dâu và cuối cùng là Gia Hội, đơn vị anh đã đạt chiến thắng lẫy lừng và thanh toán mục tiêu trước giờ ấn định, đến nỗi người dân cố đô Huế đã hết sức cảm phục và thỉnh cầu vị Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật lưu giữ Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân mà anh là Tiểu Đoàn Trưởng ở lại thị xã để dân chúng được yên tâm sinh sống hầu tái thiết, an cư lạc nghiệp. Ý dân là ý trời, tiểu đoàn cuả anh phải "trấn thủ lưu đồn" tại vùng sông Hương, núi Ngự suốt sáu tháng mới được “buông tha”, lên đường chiến đấu tại những chiến trường khác cũng đang rất cần sức chiến đấu cuả Tiểu Đoàn anh.
Tên tuổi cuả anh đã bị bọn quỉ đỏ ghi vào sổ đen từ dạo ấy.

Sau này với chức vụ Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 5 thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh, anh lại tạo một chiến thắng lẫy lừng khác tại vùng cực Nam tỉnh Quảng Ngãi, đó là mặt trận Bình Đê, Sa Huỳnh: Trong cuộc thư hùng nẩy lửa này, Trung Đoàn 10 địa phương cộng phỉ gần như bị xóa sổ hoàn toàn. Và đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến cái chết đầy oan khiên và đau đớn của anh sau này.

Người viết bài tường thuật này có cơ duyên biết khá nhiều về Trung Tá Võ Vàng, nhất là sau khi tên dã thú bắn anh 7 phát đạn từ sau ra trước, người viết lại là người đầu tiên khiêng thi thể của anh từ suối lên mặt đường và làm biên bản về cái chết đau thương này ....
                                                                                                                            
Sau ngày 29 tháng 3 năm 1975, ngày thành phố Đà Nẵng bỏ ngỏ, bọn cán ngố tiến vào thị xã, người dân xứ sông Hàn mới lần đầu tiên nghe được từ ngữ "Uỷ Ban Quân Quản”. Đến ngày 5 tháng 4 năm 1975, những quân nhân không còn đơn vị, từ sáng sớm đã nghe một bản thông cáo của Uỷ Ban Quân Quản thành phố đọc đi đọc lại trên đài phát thanh Đà Nẵng đại khái nói rằng:"Tất cả các sĩ quan Ngụy, không chậm trễ, hãy tập họp về số 2 đường Đống Đa, Đà Nẵng để nghe nói chuyện về tình hình đất nước.".

Đây là cú lừa đầu tiên mà tất cả quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vốn chân thật chưa hề bao giờ ngờ được sự trí trá xảo quỵêt của bọn lưu manh, đã vấp phải. Bị thôi thúc bởi bản thông cáo, tất cả các sĩ quan lũ lượt kéo nhau đến địa điểm nói trên để tìm hiểu xem hiện tình đất nước biến chuyển như thế nào. Và thế là, tất cả những người chân thật ngay thẳng, đã tự động.... chui vào rọ! Có vào mà không có ra!

Cuộc đời tù "cải tạo" của những quân nhân còn kẹt lại khắp các vùng xứ Quảng bắt đầu từ đây. Chúng tôi bị đưa lên trại Kỳ Sơn thuộc tỉnh Quảng Tín. Nơi đây chỉ là một vùng rừng núi hoang vu, cạnh một suối nước chảy quanh co dưới chân khu mỏ vàng Bồng Miêu. Bây giờ danh nghĩa của chúng tôi bị gọi là những người "tù cải tạo". Ngày ngày chúng tôi ăn không đủ no, mặc không đủ ấm nhưng phải lên rừng chặt cây, cắt tranh, rồi chính mình cùng nhau dựng lên những căn nhà để tự nhốt mình.
Mới đầu, anh Võ Vàng và chúng tôi ở cùng khối 2 thuộc trại 1 Kỳ Sơn nhưng khác nhà. Anh ở nhà 6 còn tôi ở nhà 9. Hai nhà này hầu hết là sĩ quan cấp tá, và thường đi lao động chung với nhau. Sau một thời gian ngắn, qua sự xào xáo "biên chế" lại, anh Vàng về ở cùng nhà với chúng tôi.

Thực sự thì khi anh còn ở Biệt Động Quân, tôi đang ở Tiểu Đoàn 3/1 thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh, tôi chỉ nghe danh anh chứ chưa hề biết mặt. Mãi cho đến sau này, khi anh rời Binh chủng Biệt Động Quân về ngồi tạm tại Phòng 3 Quân đoàn I để chuẩn bị theo học khóa tham mưu tại Đà Lạt tôi mới hân hạnh được biết anh, vì tôi đã về Phòng 3/QĐI từ trước. Sau khi tốt nghiệp khóa học, Bộ Tổng Tham Mưu/Tổng Cục Quân Huấn chỉ định Trung Tá Võ Vàng K17 về phục vụ tại Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam do những chiến công mà anh đã đạt được cùng những kinh nghiệm chiến trường vô cùng quý báu mà anh đã thu thập qua những trận ác chiến với cộng quân. Những kinh nghiệm này cần được gìn giữ, lưu truyền cho các đàn em của anh. Trong thời gian phục vụ tại Trường Mẹ, Trung Tá Võ Vàng K17 đã đảm nhận chức vụ trưởng khoa chiến thuật rồi Trưởng khối Huấn luyện quân sự. Với chức năng của một Niên Trưởng, Anh đã đem tâm huyết trao hết kinh nghiệm đầy máu và nước mắt cho đàn em của mình đang còn miệt mài kinh sử dưới mái Trường Mẹ.

Đến tháng 3 năm 1972, tình hình chiến sự vô cùng sôi động, Trung Tá Võ Vàng K17 muốn được trở lại chiến trường xưa, đơn vị cũ… để cùng đồng đội chia xẻ hiểm nguy, mặc dầu chị Võ Vàng không vui! Anh đã đạt được ước nguyện của người trai Võ Bị.
Đến bây giờ anh lại tái ngộ với tôi ở một nơi, trong một cảnh ngộ thật nghiệt ngã mà cả anh cũng như tôi, chẳng ai mong ước: Trại 1 “Cải Tạo” Kỳ Sơn.
Mỗi ngày anh cùng tôi rong ruổi trong công tác đốn củi, cắt tranh, làm rẫy, trồng sắn, cuốc ruộng, cấy lúa v.v.... Thôi thì đủ thứ tạp dịch không tên, kể sao cho xiết.
Rồi ngày 11 tháng 4 năm 1976, ngày báo hiệu đại hoạ đã tới. Hôm đó là chủ nhật, anh Võ Vàng có tên gọi trong danh sách thăm nuôi. Người thăm anh không ai khác hơn là chị Võ Vàng.

Kịch bản đã được soạn thảo từ lâu, mãi đến hôm nay mới là thời điểm cho bọn khát máu thực hiện. Chúng chuẩn bị tạo yếu tố tâm lý rất ác độc, nhưng hoàn toàn là bịa đặt, về con người anh Võ Vàng, bằng cách là trong những lần sinh hoạt của toàn trại trên hội trường, tên Chính Uỷ Trung Đoàn đến nói chuyện với tù nhân đã ngược ngạo, láo khoét tuyên bố rằng:
- Tên Trung Tá Võ Vàng là một tên mang rất nhiều tội ác với nhân dân và chiến sĩ cách mạng. Tên này độc ác đến nỗi mỗi khi sát hại một chiến sĩ cách mạng, hắn đều cắt tai rồi xâu thành chuỗi đeo tòng teng trước ngực, đi nghênh ngang trong thành phố Đà Nẵng.

Thật rõ ràng là chỉ những người cộng sản chuyên nghề lừa đảo mới tuyên bố được những lời gian trá trắng trợn như thế. Thử hỏi vào thời điểm đó, thành phố Đà Nẵng có khoảng tám trăm ngàn dân, liệu có một người dân nào nhìn thấy anh Võ Vàng đeo tai Việt cộng trước ngực, đi nghênh ngang trong thành phố?
Song song với sự chuẩn bị yếu tố tâm lý, chúng đã tiên liệu thời gian anh Vàng sẽ có thăm nuôi, vì qui chế của tổng trại Kỳ Sơn lúc đó là 3 tháng được thăm một lần. Một tên quân báo từ quân khu 5 đã xuống chờ sẵn tại trại 1. Đến ngày anh được thăm nuôi, chúng cử một cảnh vệ tên Bốn, là một tên có máu lạnh, hướng dẫn bốn năm người trong danh sách ra khu thăm nuôi gặp gia đình. Sau ít chục phút gặp người thân, tên Bốn ra lệnh cho mấy anh em chuẩn bị về trại. 

Anh Vàng cũng cùng với mấy anh em khác sẵn sàng trở lại trại, thì tên quân báo nói trên đã chờ sẵn tại khu thăm nuôi, lấy uy quyền của một cấp lớn hơn cho phép ở lại với gia đình thêm một thời gian. Tên Bốn lại hô tất cả mọi người tập họp đầy đủ để trở lại trại. Anh Vàng thi hành lệnh, tên quân báo này lại một lần nữa ra lệnh cho anh Vàng được ở lại. Dĩ nhiên là lẽ thường tình được một cấp lớn hơn cho phép, lại thêm yếu tố tình cảm gia đình thì đương nhiên anh Vàng nghiêng về phía ở lại. Tên cảnh vệ đành tức tối dẫn toán được thăm nuôi trở về trại, trong đó không có anh Võ Vàng. Đây là một yếu tố tâm lý vô cùng thâm độc, chúng cố tình kích động vào sự tự ái của tên Bốn hầu gây lòng hận thù với tên vệ binh này, để chúng xử dụng tên này một cách đắc lực và hiệu quả trong chủ đích sát hại anh trong vài ngày sau.
Dường như linh tính được báo trước nên tuy được thăm nuôi và lại được hưởng thời lượng gấp đôi, gấp ba những anh em khác, nhưng khi về trại mặt anh lại lộ rõ vẻ không vui như lẽ thường tình. Và quả đúng, đến chiều anh bị gọi lên ban chỉ huy trại để nhận lệnh.

Xin được tản mạn ra ngoài đề, để mô tả căn nhà chúng tôi ở. Cũng giống như tất cả các nhà khác trong trại là có bốn sạp ở bốn góc, được ghép bằng những cây rừng do chính những người tù đi chặt về ghép lại với nhau thành bốn sạp để nằm. Bốn sạp bốn góc đã tạo thành chữ thập dùng làm lối đi ở giữa. Tôi may mắn được nằm ngay trung tâm chữ thập, còn anh Vàng thì ngược lại, xuyên tâm đối với tôi, nghĩa là anh nằm tuốt phía ngoài bìa. Mô tả như vậy để quí độc giả hiểu được rằng chỗ tôi nằm là đắc địa, vì tại tâm của chữ thập có đào một cái hố để tối đến đốt lửa, hun khói để vừa đuổi muỗi, vừa sưởi ấm cho bớt lạnh. Củi đốt thì khỏi lo, sống ở rừng, mỗi khi hết giờ lao động, mỗi người tù đều phải vác về một cây củi để dùng cho chính mình vào buổi tối.

Chính vì vị trí đắc địa này mà mỗi tối anh Vàng thường lân la đến chỗ tôi nằm để hút thuốc lào với anh Phạm Ngọc Bảo. Anh Bảo là người có quan hệ mật thiết với anh Vàng, vì hai anh có nhà ở cạnh nhau trong vùng bãi biển Thanh Bình, Đà Nẵng. Hơn nữa, anh Bảo thuộc khóa 12 còn anh Vàng khóa 17 Võ Bị. Phần tôi là em út của cả hai anh vì tôi thuộc khóa 20. Vì tình Võ Bị này mà ba anh em chúng tôi rất thương yêu và tuyệt đối tin tưởng nhau. Yếu tố tin tưởng này rất quan trọng, vì ở trong tù một sự kiện vô cùng ô nhục là tình trạng “ăng ten”, nên không ai dám hở miệng tâm sự với người khác. Ba anh em chúng tôi thì không phải e ngại về yếu tố này.
Và rồi, như thường lệ, ngay buổi tối hôm thăm nuôi định mệnh này, anh đã kể hết một cách tường tận về chuyện được thăm nuôi thêm giờ, gây tức tối cho tên vệ binh và trại bắt anh phải làm kiểm điểm, vì đã cưỡng lệnh cảnh vệ. Anh hỏi ý kiến tôi và anh Bảo xem nên viết kiểm điểm như thế nào. Tôi đã rất chân tình góp ý với anh là chỉ viết thật ngắn gọn rằng: “Khi tôi được anh cảnh vệ ra lệnh về lại trại, tôi đã nghiêm chỉnh thi hành và chuẩn bị trở về, thì cán bộ của quân khu đã có nhã ý cố giữ tôi được ở lại với gia đình thêm ít phút nữa. Tôi cam đoan đây là lời khai sự thật của tôi v. v...”
Sáng thứ hai, ngày 12 tháng 4 năm 1976, anh viết xong bản kiểm điểm ngắn gọn như tôi đã góp ý và nộp cho ban giám đốc trại, rồi trở về tiếp tục đi lao động cùng chúng tôi.
Buổi tối, anh lại đến chỗ tôi nằm và hút thuốc cùng anh Bảo, nhưng tâm trạng của anh vô cùng bồn chồn và lo lắng. Dường như tử thần đã báo trước cho anh thời điểm chấm dứt cuộc sống sắp tới. Tôi và anh Bảo trấn an anh cách nào cũng không làm anh giảm được sự bồn chồn lo lắng ấy.
                        
NGÀY ĐỊNH MỆNH
      
Hôm nay là thứ Ba, ngày 13 tháng 4 năm 1976, như thường lệ, nhà chúng tôi được phân công đi phát rẫy trên đồng Cò Bay, lối đi lên vùng mỏ vàng Bồng Miêu và do chính tên Bốn dẫn đi. Khi vài anh có nhiệm vụ trực trong nhà, ra nhà kho để nhận dụng cụ phát rẫy gồm dao tông và rựa về, anh Vàng đã nhận một con dao tông giống như tôi. Và dường như muốn đè nén nỗi lo âu, anh luôn luôn đi cạnh tôi và trò chuyện cho khuây khoả... Đến khi vào khu vực phát rẫy, những người cầm rựa thì đốn những cây tương đối nhỏ, còn những người cầm dao tông như anh và tôi thì phải hạ những cây có đường kính lớn hơn. Gặp những cây quá lớn cành lá xum xuê thì hai anh em chúng tôi cùng đốn một cây.

Bỗng nhiên khoảng 10 giờ sáng, chúng tôi đã tiến lên cao được khoảng mươi thước cách đường mòn, thì từ phía dưới đường, tên Bốn nói với lên trên:
- Anh trưởng toán đâu, cho tôi mười người cầm dao tông đi theo tôi lên phía kia đốn những cây lớn hơn.
Lúc đó anh nhà trưởng đi kiếm những người cầm dao tông. Anh Vàng nói với tôi:
- Ê mày, thôi tụi mình xuống đi, nó đang kiếm người cầm dao tông kìa.
- Kệ cha nó, mình cứ lơ đi, coi như không nghe thấy. Tôi trả lời.
Chỉ một lát sau đó, tên Bốn đứng ngay sau lưng chúng tôi dưới đường mòn, vừa nói vừa chỉ thẳng vào anh Vàng:
-Anh kia! (Làm như tên này không biết tên anh Vàng) Xuống đây đi đốn chỗ khác.
Thế là anh Vàng rời tôi đi xuống, trong khi tôi vẫn đứng nguyên tại chỗ mà tên này không gọi tôi. Đấy là giây phút cuối cùng, sau đó tôi vĩnh viễn không bao giờ còn đứng cạnh anh nữa.

Anh mới rời tôi khoảng vài chục phút thì một loạt đạn chát chúa vang lên. Tôi chẳng hiểu chuyện gì xảy ra nhưng vẫn nhủ trong lòng chắc có chuyện chẳng lành....
Mãi cho đến giờ nghỉ trưa, tôi tụt xuống đường mòn để chuẩn bị ăn trưa thì gặp ngay anh Lê Văn Lộc, Thiếu Tá Cảnh Sát, nguyên Trưởng Khối CTCT, ty Cảnh Sát Thừa Thiên – Huế, hôm nay làm nhiệm vụ anh nuôi, nấu nước cho anh em uống. Thấy tôi, mặt anh chảy dài, mắt đỏ ngầu, ứa nưóc mắt và nói ngay với tôi rằng:
-Anh Vàng chết rồi!

Tôi hết sức bàng hoàng, tay chân bủn rủn. Lần lần tôi mới vỡ lẽ. Số là, sau khi tên Bốn tách mười người đi đốn cây ở chỗ khác, y đã dẫn toán này đi xa nơi cũ, chỉ chừng vài ba chục mét về hướng đồng Cò Bay, gần cây cầu lủng, điạ danh "cây cầu lủng" anh em trại 1 Kỳ Sơn ai cũng biết, tên Bốn chỉ cho mọi người lên đó mà đốn. Khu vực này cây cối cũng có lớn, nhỏ, có hơn chỗ cũ gì đâu, mục đích chính chỉ là y muốn tách rời mười người này ra xa khỏi toàn khối 2 của chúng tôi. Sau đó, Bốn lại lấy hai người trong số mười người dao tông này, để đi đốn đót về làm chổi cho trại! Màn trình diễn này quá tồi. Nếu đốn đót thì phải gọi những người cầm rựa mới đúng vì dễ khoèo, dễ phứt, chứ sao lại lấy người cầm dao tông?
Hai người mà Bốn chỉ định là anh Võ Vàng và anh Nguyễn Văn Bá, Trung Tá Thủ Khoa khóa 13 Võ Bị....
        
Rõ ràng quá! Ý đồ của Bốn là lấy anh Vàng ra khỏi đám đông để dễ dàng động thủ, che dấu dã tâm đầy thú tính của mình. Khi hai anh vừa rời toán được mấy chục thước, thì Bốn chỉ tay nói anh Vàng xuống suối mà tìm đót còn anh Bá thì đi thẳng qua bên kia cầu lủng, chứ hai người cùng đi với nhau thì đót đâu cho cả hai người cùng đốn!
Anh Vàng vừa xuống hướng suối không đầy mười thước, thì một tràng đạn AK nổ dòn. Mấy chục con người mang thân tù tội đang cặm cụi đốn cây, đều ngừng tay. Linh tính cho biết là chắc chắn có chuyện gì bất thường.
Phần tôi, tôi biết được chi tiết vừa trình bày là do anh Bá kể lại. Và rồi, tiến xa hơn một chút, tôi càng được tường tận hơn khi tên Bốn cất tiếng hỏi:
- Ai là nhà phó trong toán này?
Anh em chỉ vào tôi, trong tù ai cũng biết nhà phó là người chịu trách nhiệm về "cơm, áo, gạo, tiền."

Bốn đã nhìn tôi và chỉ xuống hướng suối để khiêng xác anh Vàng lên. Tôi và anh Trần Hữu Cảnh, Thiếu tá Phòng 2 Quân Đoàn I, cùng đi xuống suối. Vừa rẽ khỏi đường mòn chừng mươi thước, thì chứng kiến cảnh đau lòng đến xé ruột diễn ra trước mắt mình. Anh Vàng nằm úp mặt xuống dòng suối cạn. Từ thắt lưng lên đầu thì ướt, phần còn lại từ lưng xuống chân thì vẫn khô. Anh nằm úp mặt dưới suối. Hai anh em, tôi và Cảnh lật xác anh lên, chúng tôi muốn oà khóc vì thấy những phát đạn quá tàn bạo. Tôi đếm được tất cả bẩy vết đạn đều bắn từ sau ra trước, mà trong đó hình ảnh của hai phát đạn xuyên ra phía trước thân thể anh, đã ám ảnh, đã hằn sâu, trong tâm trí tôi cho đến suốt đời, vì hai phát này đã kết liễu đời anh, một phát từ sau lưng bắn toác ra phía trước ngực, hơi chếch về trái, có nghĩa là anh đã bị vận tốc xoáy của viên đạn phá tan tim và lồng ngực, phát thứ hai từ hàm phải xuyên qua cửa miệng trái, vỡ hết hàm răng khiến cho miệng anh không còn khép lại được nữa. Năm phát còn lại thì rải rác ở cánh tay, mông và ống chân...

Khiêng thi thể của anh lên mặt đường, đặt gần nơi anh Lộc làm anh nuôi, lúc này tôi mới lục trong túi của anh lấy ví, mở ra, thấy trong đó có tấm hình vợ con và số tiền 200 đồng. Một nhẫn vàng khoảng hai chỉ trên ngón tay và cổ tay còn đeo chiếc đồng hồ Longine. Xin mở ngoặc là thời điểm này do bên quân đội quản lý, nên các tù nhân vẫn còn được giữ các tư trang. Chỉ sau này, khi bọn bò vàng (công an) quản lý thì tư trang và tiền bạc mới bị ký gửi.
 
Khi làm biên bản, một sự lưu manh, xảo trá chuyên nghiệp của bọn cộng sản lại được thể hiện: cụ thể là chiếc nhẫn vàng thì chúng buộc tôi phải viết lại là chiếc nhẫn màu vàng và không ghi rõ trọng lượng! Sau này khi sang Hoa Kỳ, duyên may tôi được gặp chị Võ Vàng, tôi mới vỡ lẽ là họ trả lại cho chị chiếc đồng hồ hiệu Seiko. Quá lạ! Đồng hồ Longine đã bị “cải tạo” thành Seiko.
     
Sau khi làm biên bản, thi hài anh Vàng vẫn được để nằm tại chỗ cho đến khi ăn cơm trưa xong, một số anh em mới được phân công khiêng thi hài của anh về trại. Những anh này gồm anh Nguyễn Văn Tố, Trung tá nguyên Tỉnh Trưởng Phú Yên, anh Nguyễn Văn Chước, Trung Tá, nguyên gốc Biệt Động Quân cùng thời với anh Vàng, anh Đ H X, Thiếu Tá thuộc Thiết Đoàn M48, Quảng Trị, và anh Trần Hữu Cảnh, Thiếu tá P 2/QĐI.
 
Một chuyện lạ rất huyền bí không chứng minh được do chính anh Trần Hữu Cảnh kể lại cho tôi nghe, đó là khi về đến gần cổng trại, phía bên tay phải là một căn nhà nhỏ chúng tôi thường gọi là chuồng cu, dùng để nhốt những anh bị kỷ luật, cảnh vệ đã chỉ cho toán khiêng xác anh Vàng vào trong đó, thì bỗng nhiên xác anh nặng trĩu hai người khiêng bị trì hẳn xuống, không cách gì khiêng nổi. Anh Cảnh chợt nghĩ ra rằng đây là nhà kỷ luật chắc anh Vàng nhất định không chịu vào. Anh Cảnh bèn khấn vái với anh Vàng rằng:
- Xin anh hãy thông cảm cho chúng tôi được khiêng anh vào, vì đây là lệnh của trại bắt tụi tôi phải đưa anh vô, chứ không phải tụi tôi muốn như vậy.
Sau nhiều lời khấn vái thì xác anh bỗng nhẹ hẳn đi để anh em khiêng vô.

Chưa hết, sau này tôi lại được một vài anh em ở ngoài Tổng trại kể lại rằng tên Bốn sau này dường như bị điên điên, khùng khùng, suốt ngày cứ lảm nhảm vừa đi vừa nói:
- Tôi đâu có muốn giết anh! Tôi đâu có muốn giết anh!
Việc này tôi chỉ nghe kể lại chứ không được chứng kiến nên không hiểu thực hư ra sao, xin chỉ viết lại với sự dè dặt tối đa.

Về việc mai táng cho anh thì đến xế chiều, khi đào huyệt chôn anh lại gặp nhiều rắc rối. Những người đào huyệt đang đào nửa chừng thì người trưởng trại tên Nhất đi họp ngoài Tổng trại về, trông thấy bèn cho biết là chôn ở đây không được, vì vị trí này, sau này người ta sẽ phóng đường để cho xe cộ có thể chạy được lên mỏ vàng Bồng Miêu. Mọi người phải dừng tay, lấp hố, đi đào huyệt khác. Đến vị trí thứ hai mới đào sâu được vài chục phân, thì gặp phải đá tảng, không cách gì đào nổi, nên lại phải đi kiếm chỗ khác. Huyệt thứ ba ở khá cao trên triền núi. Lúc này đã sẫm tối toán chôn cất mới hoàn tất việc mai táng cho anh.

Kiểm chứng lại việc chúng muốn phục thù, cướp mạng sống của anh, mới thấy rõ là chúng chuẩn bị một kế hoạch rất tỉ mỉ. Từ việc cử một tên cán bộ quân báo của Quân Khu 5 xuống chờ sẵn, đợi dịp anh Vàng được thăm nuôi, chọn một tên vệ binh có máu lạnh dẫn anh đi, gây cho hắn lòng căm phẫn với anh Vàng. Sau ngày chủ nhật được thăm nuôi, ngày thứ hai bắt nộp bản kiểm điểm, rồi đánh giá là lời khai tránh trớ, quanh co, ngoan cố không nhận lỗi, ngày thứ ba cho đi lao động, cố ý cắt cử tên vệ binh Bốn hướng dẫn đi phát rẫy, rồi xuống tay hạ thủ và kết quả đã đúng như dự tính.

Thế nhưng nói như thế không có nghĩa là chúng không để lộ ra những màn diễn xuất quá tồi. Ngay sau khi bắn anh Vàng, tên Bốn đã xuống suối nhúng nước cho quần ướt đến đầu gối rồi thất thểu vác súng về trại, biết bao nhiêu cặp mắt anh em tù chúng tôi thấy khẩu súng của y còn nguyên vẹn, nhưng đến xế trưa, khi bọn cán bộ từ trung đoàn đến hiện trường làm biên bản thì báng súng lại có vết chém! Biên bản ghi rằng tên Vàng phản động, tính chém vệ binh để cướp súng khiến vệ binh buộc lòng phải bắn để tự vệ, nhưng lố bịch thay vết đạn bắn lại toàn từ phía sau ra phía trước! Về điểm này xin được nói thêm là nhà 9 chúng tôi, tối tối thường có một y tá người Bắc, thường lân la xuống trò chuyện và hút thuốc lào với anh em chúng tôi. Ngay buổi tối hôm đó, như thường lệ, anh y tá này lại xuống, vừa bước vào nhà anh đã buột miệng nói ngay:
- Đ.m. chúng nó, chúng nó đang tâm bắn một người vô tội, vết đạn rõ ràng bắn từ sau ra trước mà bảo người ta là phản động, cướp súng của vệ binh! Ngày mai ghi vào biên bản xác minh, bố mày sẽ ghi rõ ràng là vết đạn bắn từ sau ra trước.
Và tiếc thay, chỉ vài ngày sau khi mộc mạc thốt ra những lời kể trên, người y tá còn chút nhân tính này không thấy xuất hiện tại nhà 9 chúng tôi nữa.

Cướp đi mạng sống của anh Vàng, chúng vẫn chưa thỏa mãn được lòng hận thù của chúng. Chị Vàng sống tại Đà Nẵng cũng không được yên thân. Sau này khi được gặp chị, tôi mới được biết, chị bị cắt hết nguồn sống của mẹ con bằng cách không cho chị được tiếp tục dạy học tại trường trung học Phan Chu Trinh, Đà Nẵng nữa.  Đồng thời còn cô lập gia đình chị bằng cách phao tin Võ Vàng là một tên phản động khát máu, mặc dầu được đưa vào "trại cải tạo" để giúp hắn trở nên người lương thiện nhưng vẫn giữ bản chất cũ, đã cố tình cầm dao chém cảnh vệ để cướp súng, nên đã bị đền tội. Thế là tất cả bà con chòm xóm, ngay cả người thân trong gia đình cũng phải xa lánh mẹ con chị, vì sợ bị liên lụy, ấy là chưa kể nhiều người quá ngây thơ khờ dại, tin lời bịa đặt, đã chê trách anh Vàng quá dại dột, dùng dao mà đọ sức với súng đạn thì làm sao mà thắng nổi! Anh hùng rơm!
           
Mãi sau này, trong một dịp nhà báo Huy Phương phụ trách chương trình “Huynh Đệ Chi Binh” của đài SBTN có nhã ý tìm gặp tôi và muốn được tôi kể lại chuyện Trung Tá Võ Vàng bị thảm sát trong tù, tôi mới có dịp tường thuật khá đầy đủ cùng khán thính giả của đài. Chị Vàng đã xem được cuộc phỏng vấn này và chị đã phần nào được an ủi:
- Xem như anh Vàng đã được rửa mặt. (Rửa mặt ở đây có nghĩa là rửa nhục, lấy lại danh dự).
Chỉ tiếc một điều là sao lại có một số người quá nhẹ dạ cả tin, nhất là tin lời tuyên truyền của cộng sản. Có lẽ họ chưa được nghe lời chỉ giáo của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
            
Mặt khác, mới thời gian ngắn trước đây tôi lại được dịp đọc một bài viết của anh Đ.H.X, cũng viết về cái chết của anh Vàng. Với anh Đ.H.X, tôi cũng biết khá nhiều về anh ngay từ khi mới nhập trại. Kẹt một nỗi là nay anh vẫn còn ở Việt Nam, bởi một lý do tôi không tiện nói ra vì sẽ rất có hại cho anh trong cảnh ngộ quá ngặt nghèo này. Đọc bài viết của anh, tôi vô cùng cảm phục cái tâm của anh, vì sau khi chứng kiến cái chết của anh Vàng, phải khiêng anh về trại, mai táng cho anh, anh đã nguyện trong tâm rằng sẽ kể lại đầy đủ cái chết đau thương này, thì anh mới yên lòng trước khi nhắm mắt. Chỉ tiếc là hoàn cảnh của anh vẫn còn trong tình trạng cá chậu chim lồng, nên chưa nói hết được những gì anh muốn nói. Vả lại, anh mới chỉ viết được phần anh chứng kiến kể từ đoạn thi hài anh Vàng được khiêng về trại và anh bị buộc phải làm biên bản sai sự thực, trái hẳn với những gì anh được chứng kiến rồi tiếp theo phải ký vào biên bản trước họng súng.
       
Tựu trung lại cái chết của anh Võ Vàng tính đến nay, năm 2017, đã trôi qua hơn bốn thập niên, nhưng hình ảnh quá đau thương tàn bạo, đối với người được chứng kiến tận mắt như chúng tôi lúc nào cũng vẫn còn hiện rõ mồn một…!
       Nếu được đọc lịch sử về cuộc nội chiến Nam-Bắc của Hoa Kỳ, sự ứng xử của đoàn Bắc Quân chiến thắng với đội Nam Quân chiến bại hết sức mã thượng, danh dự của kẻ chiến bại vẫn được tôn trọng, hoặc gần hơn nữa, sự kiện bức tường Bá Linh sụp đổ, người Tây Đức cũng tiếp đón người Đông Đức vô cùng quân tử, không một chút hận thù, mà có ai đó mơ mộng rằng nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng đối xử nhân đạo, tử tế với Việt Nam Cộng Hoà thì quả là người đó đã mắc bệnh… hoang tưởng!
         
Mặt khác, cuộc cải cách ruộng đất còn đó, vụ án Nhân Văn Giai Phẩm còn đó, và mới đây nhất làn sóng đỏ tràn ngập miền Nam còn đó, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, các trại tù khổ sai, nhục hình mang danh "cải tạo" mọc lên như nấm gặp mưa, cách đối xử với người tù vô cùng dã man, ác độc, mà vụ sát hại anh Võ Vàng là một điển hình, thế mà lũ người Xạo - Hết - Chỗ - Nói vẫn lải nhải kêu gọi xóa bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải dân tộc thì quả là chúng đang bị chứng...mộng du!

California, ngày 23 tháng 9 năm 2017
            Phạm Văn Hồng

SOURCE:


.

*** Nhắc lại những kỷ niệm đau thương ‘Dưới Tầng Địa Ngục’


Oct 10, 2017

Vận nước chuyển đổi, sau ngày 30 Tháng Tư, 1975 cuộc chiến tranh giữa Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) kết thúc!
Thay vì hòa hợp, hòa giải dân tộc để cùng nhau xây dựng một nước Việt Nam phú cường thì ngược lại nhà cầm quyền Hà Nội say men chiến thắng, tạo dựng lên hằng trăm nhà tù lớn, nhỏ với mỹ từ “cải tạo” để giam giữ: Quân, Dân, Cán, Chính. Ðảng phái, tôn giáo, giới trí thức, văn nghệ sĩ,… của Việt Nam Cộng Hòa còn ở lại trong nước vì nhiều lý do khác nhau.
Qua thông cáo của Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn và các địa phương họ đã ra lệnh tập trung thành phần trên trong thời hạn một tháng để học tập chính sách của Ðảng Cộng Sản. Bản chất Cộng Sản đã lộ nguyên hình khi họ ấn định thời gian ngắn hạn là “một tháng” để đánh lừa sự thành tâm của các viên chức và sĩ quan của miền Nam Việt Nam muốn thi hành đúng đắn mọi yêu cầu của kẻ chiến thắng để rồi an phận trở về với công việc canh tác, sản xuất,… của người công dân trong thời hậu chiến. Nhưng tiếc thay, họ đã tráo trở lợi dụng cơ hội này để giam giữ những người chiến bại một cách dài hạn “không bản án” và được mệnh danh “trại tập trung cải tạo.” thời gian bị tù đã kéo dài ít nhất là 3 năm, còn lại đa số chịu đựng khổ nhục trong vòng 7, 10, 18 hay 20 năm.
Trong số tù nhân có hơn 30 tướng lãnh và trên 400 Đại tá. Căn bản chính yếu để giam tù được căn cứ theo lý lịch của tù nhân để trả hận thù bằng nhiều hình thức như bắn bỏ, tra tấn, nằm nhà cùm, giam vào ngục tối để chịu đói lạnh, lao động khổ sai, bệnh nặng không thuốc men làm cho nhiều người phải vùi thây dưới tầng địa ngục.
Trong vòng ba mươi năm nữa, những quân nhân thuộc vào thế hệ trẻ nhất của cả hai bên đã tham gia vào cuộc chiến 1945-1975 sẽ lần lượt qua đời. Thế hệ kế tiếp muốn tìm hiểu lịch sử của thời cha ông sẽ phải tìm đọc những tài liệu, sách báo, phim ảnh có tính cách lịch sử do những người trong cuộc lưu lại.

Là tù nhân qua hai trại Kỳ Sơn và Tiên Lãnh, tôi xin ghi lại những chuyện đau thương nhất mà chính tôi đã từng chứng kiến.

Các chuyện được hình thành không nhằm mục đích gây thêm lòng hận thù và chia rẽ mà chỉ nêu lên những kinh nghiệm đau thương trong lịch sử cận đại để cho các thế hệ tiếp nối học được những kinh nghiệm quý báu hầu tránh được những lỗi lầm tai hại của những người đi trước vì thiếu đạo đức cũng như kiến thức trong việc lãnh đạo toàn dân mà chỉ dựa trên lòng đố kỵ và mưu đồ trả thù khiến cho tương lai của dân tộc Việt mỗi ngày một tuột xuống hàng thấp nhứt của lịch sử nhân loại.

Cộng quân tiến vào Ðà Nẵng

Vào ngày 29 Tháng Ba, 1975, Cộng quân tiến vào thành phố Ðà Nẵng không gặp một sự kháng cự nào đáng kể vì những đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) đã triệt thoái bằng không và hải vận vào Nha Trang hay Sài Gòn…

Tổ chức hành chánh của thành phố Ðà Nẵng và tỉnh Quảng Nam:
Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, thành phố Ðà Nẵng trực thuộc Trung Ương còn hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Tín được biệt lập. Khi Cộng quân cưỡng chiếm thành phố Ðà Nẵng và 2 tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín, họ đã sát nhập lại gọi là tỉnh Quảng Nam Ðà Nẵng.

Các trại tù tại Quảng Nam Ðà Nẵng:
Những trại tù mang tên của những địa danh: Hội An, Vĩnh Ðiện, Hiếu Ðức, Hòa Cầm, Phú Túc, Thượng Ðức, An Ðiềm, Kỳ Sơn, Tiên Lãnh,… là nơi ngục tù của các sĩ quan và viên chức Việt Nam Cộng Hòa.

Lừa bịp ngay ngày đầu:
Cưỡng chiếm các thành phố miền Nam, Ủy Ban Quân Quản kêu gọi những viên chức, sĩ quan của chế độ cũ mang theo tiền ăn 1 tháng để học tập. Nhưng tại Ðà Nẵng vào sáng ngày 5 Tháng Tư, 1975 Ủy Ban Quân Quản thông báo, “Ðúng 8 giờ sáng hôm nay, tất cả sĩ quan chế độ cũ tập trung đầy đủ, không chậm trễ tại số 2, Ðống Ða để nghe nói chuyện tình hình đất nước.” Tập đoàn Cộng Sản đã dùng nơi này như cái “nôm” để tóm gọn các sĩ quan. Ðến tối họ chuyển tất cả những người đã đến trình diện về Vĩnh Ðiện, Hội An để giam giữ.

Không đưa tù quan trọng ra Bắc:
Cuối năm 1975, trung ương ra lệnh chuyển ra Bắc tất cả các sĩ quan chế độ cũ trước đây giữ chức vụ quan trọng đang bị giam giữ tại Kỳ Sơn, Tiên Lãnh và An Ðiềm. Viên Tỉnh Ủy Quảng Nam Ðà Nẵng liền trình xin Trung Ương giữ tại chỗ các cải tạo viên qua các lý do sau đây:
– Quân đội Mỹ đã chọn Ðà Nẵng để đổ bộ đầu tiên 2 Tiểu Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến vào ngày 8 tháng 3, 1965.
– Quảng Nam Ðà Nẵng đi đầu trong công tác diệt Mỹ cứu nước.
– Bộ đội, Công An Quảng Nam-Ðà Nẵng có đủ khả năng, kinh nghiệm để quản lý cải tạo tốt, làm ra nhiều của cải vật chất để nuôi tù, cung cấp cho tỉnh và đóng góp về trung ương.
Trung ương đã chấp thuận đề nghị trên.

Trại tù “cải tạo” Kỳ Sơn:

Kỳ Sơn là tên của một xã thuộc huyện Tam Kỳ gần mỏ vàng Bông Miêu chừng 3 cây số, có đường trải nhựa và sông Bông Miêu chảy qua, rừng già âm u, thời tiết rất lạnh, có nhiều thung lũng để canh tác. Kỳ Sơn có 4 trại tù: trại 1, 2, 3 và 4 giam giữ toàn sĩ quan từ cấp chuẩn úy đến cấp đại tá, phần đông phục vụ tại Quân Ðoàn I. Các trại trên trực thuộc Tổng trại 2 do bộ đội quản lý. Trung Tá Việt Cộng Ngô Câu làm tổng trại trưởng. Ðến ngày 28 tháng 9, 1978, tổng trại chuyển giao tù còn lại cho công an quản lý tại hai trại Tiên Lãnh và An Ðiềm.

Sau đây là những chuyện đau buồn nhất đã xảy ra tại địa ngục Kỳ Sơn:
Trung Tá Lê Ðình Ái, Ðại Úy Nguyễn Văn Lộc vượt thoát khỏi trại tù Kỳ Sơn.
Trung Tá Lê Ðình Ái, sinh ngày 12 Tháng 3, 1943 tại Huế, khóa 13 Ấp Chiến Lược, sĩ quan Trừ bị Thủ đức, quận trưởng quận Tiên Phước.
Ðại Úy Nguyễn Văn Lộc, số quân 58/600.570, sinh Tháng 10, 1938 tại Ðịnh Tường, Trường Không Quân Việt Nam, phi công quan sát Sư Ðoàn 1 Không Quân.

Hai anh Ái và Lộc bị tù trại 1 Kỳ Sơn. Tuy khác tổ trong lao động thường gặp nhau trò chuyện, cả hai đồng tâm muốn trốn trại nên bàn kế hoạch vượt thoát. Móc nối được người thân cung cấp cho giấy tờ. Ðúng 9 giờ sáng ngày 20 Tháng Mười Một, 1975 hai người trốn khỏi nơi lao động gặp nhau tại điểm hẹn rồi tức tốc di chuyển nhanh bằng xe Honda chờ sẵn ra khỏi khu vực, băng theo đường rừng vượt thoát về hướng Nam. Hay tin tù trốn, Tổng trại 2 bủa vây lục kiếm suốt 2 tuần không tìm được. Cuộc vượt thoát hết sức gian nan. Hai anh biết rất rõ địa thế rừng núi của 2 tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi vì thường hành quân trước đây. Bài học mưu sinh thoát hiểm lúc học sĩ quan được áp dụng để sống còn.

Qua 27 ngày len lỏi trong rừng già khi ra đồng trống hết sức mừng vui nhìn thấy xe chạy ở Quốc Lộ 1 nên bàn nhau ra lộ đón xe đò đi tiếp. Tắm rửa, cạo râu, thay quần áo dân sự xong điền tên vào giấy tờ, nghĩ lấy lại sức rồi đến cầu Bà Di, Ðập Ðá Bình Ðịnh đón xe. Khi xe ngừng xui ơi là xui! Lại gặp ngay đoàn xe chở công an từ Bắc vào công tác trong Nam. Lỡ rồi, hai anh vẫn lên xe tự nhiên. Phụ xe cho ngồi ghế xếp phía sau. Qua cặp mắt nghi ngờ của tên công an ngồi cạnh. Ðến trạm kiểm soát Cam Ranh tên công an ngồi cạnh báo nhân viên kiểm soát để xét giấy tờ. Kiểm soát giấy thấy không nghi ngờ nên tiếp tục cho đi. Hú hồn! Hai anh vui mừng không xiết kể.

Về đến Sài Gòn, anh Lộc tìm đường vượt biển. Thật tội nghiệp về sau nghe tin anh Lộc đã mất tích trên biển cả. Còn anh Ái gia nhập Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam. Ðến ngày 27 Tháng Mười Hai, 1977 lại bị bắt, tiếp tục ăn cơm tù. Tháng Chín, 1986 được thả ra rồi tổ chức vượt biển thành công. Tháng Tư, 1990 cả gia đình định cư tại Hoa Kỳ.
(Tuy cuộc vượt thoát của anh Ái thành công song những đau thương tan vỡ gia đình rồi tù tội từ ngày về lại Sài Gòn qua câu chuyện dài chính anh Ái kể lại hết sức thương tâm cho một chiến hữu VNCH đã gãy súng theo vận nước).

Y Sĩ Thiếu Tá Phạm Văn Lương tự tử sau một năm trong tù!

Thiếu Tá Phạm Văn Lương số quân 54/226- 453, sinh vào Tháng Mười Một, 1934 tại Quảng Trị, xuất thân khóa 4 Cương Quyết Thủ Ðức, sau theo học ngành quân y, nguyên bác sĩ trưởng khu Ngoại Thương, Tổng Y Viện Duy Tân Ðà Nẵng.
Trước 1975, qua hệ thống truyền thông và báo chí khá đông người Miền Nam biết đến Thiếu Tá Phạm Văn Lương qua các việc ông đã làm:
– Mang lựu đạn đến tiền đình Hạ Viện yêu cầu Hạ Viện điều tra làm sáng tỏ việc bắn chết Y Sĩ Ðại Úy Hà Thúc Nhơn, người bạn cùng khóa quân y, phục vụ tại quân Y Viện Nguyễn Huệ Nha Trang đã can đảm đứng lên chống bọn tham nhũng giết một sĩ quan tố tham nhũng tại bãi biển Nha Trang.
– Thực hiện thành công cuộc giải phẫu lấy đầu đạn M79 ghim trong người quân nhân Ðinh Né.
Trách nhiệm tổ chức việc gom tử thi trên đại lộ Kinh Hoàng (Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972) đưa về mai táng, lập bia kỷ niệm tại Quảng Trị.
– Xây dựng làng Ðồng Thạnh tại Hội An, Quảng Nam định cư đồng bào phía Bắc Quân Khu 1 lánh nạn Cộng Sản (ngân khoản do Bác Sĩ Phan Quang Ðán, Quốc Vụ Khanh, tài trợ).
– Ngày 29 Tháng Ba, 1975, Cộng quân cưỡng chiếm Ðà Nẵng, Bác Sĩ Lương cùng một số bác sĩ khác ở lại nhiệm sở Tổng Y Viện Duy Tân cứu chữa đồng bào và thương binh. Cùng lúc Ðài BBC Luân Ðôn loan tin Bác Sĩ Phạm Văn Lương đã được Cộng Sản cử làm thị trưởng Ðà Nẵng.

– Ngày 5 Tháng Tư, 1975, Cộng quân tập trung các bác sĩ đưa vào giam tại Hội An, trong số có Bác Sĩ Lương, rồi di chuyển đến Tổng trại 2 Kỳ Sơn, Quảng Tín. Các Bác Sĩ đều bị đưa về Trạm Xá Kỳ Sơn làm việc chuyên môn ngoại trừ Bác Sĩ Vương Ngọc Lâm cho đi lao động bởi gia đình ông chống Cộng triệt để.

– Ngày 25 Tháng Tám, 1975 có thêm Y Sĩ Trung Tá Nguyễn Văn Cơ (gốc y sĩ dù) nguyên chỉ huy trưởng Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương, Huế từ trại giam Hiếu Ðức chuyển lên trạm xá.
Qua một năm trong Trạm Xá Tổng Trại 2 tù Kỳ Sơn, Bác Sĩ Lương cùng các bác sĩ khác tận tình cứu chữa các bệnh nhân gồm Bộ đội, tù binh và dân chúng trong vùng.

– Chủ Nhật, 28 Tháng Ba 1976, bà Ðỗ Khánh Niệm lên thăm chồng, trong dịp này Bác Sĩ Lương ngồi bên vợ, Bà Lương sắp thức ăn mời chồng. Ông không thiết tha việc ăn uống mà chỉ than cùng vợ: “Chắc anh khó về lắm em ơi!!! Có người tố cáo anh cùng Bác Sĩ Phan Quang Ðán là CIA,…”

Hai vợ chồng đang bịn rịn dặn dò việc nuôi dạy các con, bỗng có tiếng la lớn của vệ binh: “Hết giờ thăm nuôi, về lại trạm xá.” Bác Sĩ Lương và vợ đứng dậy, nước mắt bà Lương trào ra, chân ông Lương không dỡ lên được, đàng sau lưng tên vệ binh mang súng AK hối thúc đi về, bà Lương lau nước mắt nhìn đồng hồ lúc ấy là 12 giờ trưa. Ðó là giây phút biệt ly định mệnh của hai vợ chồng Bác Sĩ Phạm Văn Lương. Khoảng cách giữa hai người mỗi lúc một xa thêm, rồi hình bóng Bác Sĩ Lương khuất dần dưới ngọn đồi thăm nuôi trại Kỳ Sơn.
Một tuần sau, vào ngày 3 Tháng Tư, 1976, Bác Sĩ Lương đã uống nhiều viên thuốc ngủ cùng 10 viên cloroquine làm người ông quay cuồng, lăn lộn. Bằng mọi cách các bác sĩ tại trạm xá cố gắng cứu chữa nhưng ông Lương báo là đã uống quá nhiều thuốc nên không thể cứu được. Sau khi thốt lên lời từ biệt mọi người, mắt ông từ từ nhắm lại.
Tin Bác Sĩ Lương tự tử được loan truyền nhanh chóng trong anh em tù, ngược lại Ban Chỉ Huy trại cho biết Bác Sĩ Lương chết vì trúng gió!
Ít ngày sau, thân nhân thăm nuôi đưa tin về Ðà Nẵng: Bác Sĩ Lương đã tự tử chết.
Nhận được hung tin, bà Lương lên trạm xá khóc lóc đòi biết rõ nguyên nhân cái chết của chồng mình. Lúc đầu cán bộ trạm xá cho biết không có chuyện Bác Sĩ Lương chết nhưng bà tiếp tục than khóc và la ầm lên. Thiếu tá Việt Cộng Ðinh Văn Nhất là Trưởng trại 1 liền tới cho bà biết: Bác Sĩ Lương chết vì trúng gió. Viên y sĩ Việt Cộng nói thêm là đã chôn cất Bác Sĩ Lương cẩn thận. Số ván dự trù để đóng bàn mổ cho Bác Sĩ Lương sử dụng lại được dùng vào việc đóng quan tài cho ông. Bà Lương xin chuyển xác chồng về Ðà Nẵng nhưng trại không chấp thuận.

1984, mộ phần Bác Sĩ Lương được dời về Hội An, an nghĩ trong nghĩa trang gia đình người bạn thân.
1985 Bà Quả phụ Phạm văn Lương cùng 7 người con (4 trai, 3 gái) và các cháu được thân nhân bảo lãnh sang định cư tại Hoa Kỳ.

Trung Tá Võ Vàng bị bắn chết như thế nào?

Trung Tá Võ Vàng, số quân 60/211.412, sinh tháng 10 năm 1940 tại Quảng Ngãi, khóa 17 Lê Lai, Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 21/BÐQ.
Quân Sự Vụ Trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 5, Sư Ðoàn 2 Bộ Binh.

Ðược chỉ thị của Ban Chỉ Huy trại 1 Kỳ Sơn, hai vệ binh Ðinh văn Hương và Âu thái Trương tức Bốn hướng dẫn toán tù binh thuộc nhà 9, khối 2 đi lao động tại khu Cò Bay, Bông Miêu. Sau khi cắt đặt lao động, hai vệ binh gọi đích danh anh Võ Vàng đi theo vệ binh Trương cắt đốt về làm chổi.
Ðộ chừng 15 phút, một loạt AK nổ dồn lúc ấy là 10 giờ sáng ngày 13 Tháng Tư, 1976. Anh em tù nghi là vệ binh Trương đã bắn anh Vàng vì ngày hôm trước có sự sắp đặt để cãi nhau giữa vệ binh này và anh Vàng tại khu thăm nuôi. Quả thật liền thấy tên Trương chạy ra hớt hải la lên: “Tên Vàng đá, đạp tôi để giật súng, may phát hiện kịp nên bắn chết nó rồi.”
Thật ra đây là một hành động sắp xếp bắn anh Vàng để trả thù của Cộng Sản. Trước đây Trung Tá Vàng đã chỉ huy Tiểu Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân tham chiến vào dịp Tết Mậu Thân 1968 tại Huế. Ðến năm 1973, anh chỉ huy Trung Ðoàn 5, Sư Ðoàn 2, tái chiếm cửa khẩu Sa Huỳnh. Tại hai nơi này đều gây tổn thất nặng cho Cộng quân thuộc Liên khu 5.
Ít ngày sau bà Võ Vàng nhận được hung tin tức tốc đến trại Kỳ Sơn, tại đây Ban Chỉ Huy trại đã báo cho Bà biết là chồng bà đã đánh vệ binh, cướp súng nên bị bắn chết. Trại có trao cho bà 1 biên bản về sự việc xẩy ra trong đó có 5 chữ ký của đại diện trại và tù, cùng 1 biên bản kiểm kê tư trang.

Sau khi Trung Tá Vàng bị bắn chết, bà quả phụ Võ Vàng nhũ danh Lê Thị Ðường, giáo sư trung học tại Quảng Ngãi, bị nhà trường thông báo cho nghỉ dạy (trước 1975 bà Ðường là hiệu trưởng trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi).
Ðể tránh hậu quả của việc xét lý lịch ba đời cho các con nên bà cùng 6 con (2 trai, 4 gái) đành liều chết vượt biển qua Hồng Kông. Cuối cùng gia đình cố Trung Tá Võ Vàng được may mắn định cư tại Hoa Kỳ vào Tháng Tám, 1984.
Ngôi mộ anh Vàng được cải táng vào năm 1997.

Âm mưu ám hại Trung Tá Võ Vàng đã được nhân chứng sống, Thiếu Tá Phạm Văn Hồng, số quân 61/203.947, sinh Tháng Mười, 1941 tại Nam Ðịnh (cựu SVSQ khóa 20 Nguyễn Công Trứ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, bị Trung Cộng bắt giữ tại Quảng Châu, sau cuộc hải chiến với VNCH ngày 20 Tháng Giêng, 1974 tại quần đảo Hoàng Sa) trình bày rất chi tiết trong chương trình Huynh Ðệ Chi Binh của đài Truyền Hình SBTN do nhà văn Huy Phương phụ trách vào Tháng Tư năm 2008.

Trung Tá Nguyễn Văn Tố và Hải Quân Thiếu Tá Nguyễn Công Anh Kiệt thoát chết trong đêm tối.

Trung Tá Nguyễn Văn Tố, sinh Tháng Năm 1930 tại Thừa Thiên. Số quân 50/201.605, khóa 2 VBÐP Huế.
+ Tham mưu trưởng tiểu khu Thừa Thiên
+ Phó thị trưởng thành phố Huế.
+ Tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Phú Yên.
+ Trung tâm phó Trung Tâm Ðiều Họp Bình Ðịnh Phát Triển Quân Khu 1.

Hải Quân Thiếu Tá Nguyễn Công Anh Kiệt sinh Tháng Sáu, 1940 tại Sài Gòn, số quân 60/701.173, khóa 13 Ðệ Nhị Dương Cưu Trường HQNT.
Phân cuộc Trưởng Hải Cảng Sâu Tiên Sa Ðà Nẵng. (Con rể ông Nguyễn Văn Kiểu, nguyên Ðại Sứ VNCH tại Ðài Loan, bào huynh cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu).

Vào lúc 12 giờ 30 một đêm đầu Tháng Bảy, 1976 tại trại 1 Kỳ Sơn, một vệ binh mang súng AK vào nhà 9 gọi anh Nguyễn Văn Tố và sang nhà 6 gọi anh Nguyễn Công Anh Kiệt đi nhanh ra ngoài rồi dẫn đến phía ngoài vọng gác cổng chính của trại. Nơi đây có sẵn vệ binh Trương tức (Bốn) tay cầm AK chờ sẵn. Anh Tố và Kiệt đoán chúng sắp đem mình đi bắn rồi vì trước đây vệ binh Bốn đã được chọn bắn Trung Tá Võ Vàng vào ngày 13 Tháng Tư, 1976 tại khu Cò Bay Bông Miêu.
Sau khi Bốn nhận 2 anh Tố và Kiệt xong chỉ tới ngồi nơi tảng đá gần đó. Tại đây anh Tố nói nhỏ với anh Kiệt: “Chắc chúng đưa mình ra bờ rào bắn rồi hô hoán là trốn trại. Sự tù tội chắc còn lâu dài lắm. Thôi chết sớm khỏe xác mình, vợ con bớt khổ trong việc lặn lội lên rừng sâu, núi thẳm thăm nuôi.” Qua lời anh Tố, anh Kiệt thở dài!!!
Thời gian lo lắng lần đến 2 giờ 30 sáng, thấy đèn pile lập lòe sáng rồi lần hồi một cán bộ từ Bộ Chỉ Huy xuống nói nhỏ gì với tên Bốn xong về lại. Lúc này hai anh Tố và Kiệt rất hồi hộp, chắc chúng sắp đem mình đi bắn rồi. Hai anh thầm cầu nguyện theo tôn giáo của mỗi người. Năm phút sau, tên Bốn gọi anh Tố và Kiệt đến rồi bảo hai anh về lại nhà ngủ để mai tiếp tục lao động. Suốt đêm này hai anh không sao ngủ được và cứ lo lắng mãi, kể từ sáng hôm sau hai anh Tố và Kiệt luôn được quản giáo theo dõi sát cho đến khi chuyển qua trại 4 rồi đến trại Tiên Lãnh.

Ðến ngày 28 Tháng Chín, 1978, toàn bộ tù nhân Kỳ Sơn được chuyển đến trại Tiên Lãnh. Ba ngày sau khi đến Tiên Lãnh, hai anh Tố và Kiệt liền vào nhà cùm cùng với một số sĩ quan khác chúng cho là nguy hiểm.
Hai tháng sau khi đến Tiên Lãnh, một buổi chiều qua âm thanh rùng rợn của 2 tiếng kẻng, tất cả mọi tù nhân vào phòng đóng cửa sắt. Công an trang bị vũ khí rải canh giữ từng phòng một. Các cửa nhà cùm được mở ra, khoảng 100 tù nhân từ các phòng biệt giam được đưa ra ngoài trói lại bằng giây dù cột vào nhau với 5 người một do một công an canh giữ rồi chuyển đến trại Ðồng Mộ, Nhà Trắng để giam tiếp, trong số tù trên có hai anh Tố và Kiệt bị giam cho đến 1983.
Ðến 1988, cả hai anh Tố và Kiệt mới nhận giấy ra trại sum họp gia đình. Ngày 24 Tháng Sáu, 1992, anh Tố cùng vợ và 4 người con được các con cháu cùng đông thân hữu vui mừng chào đón tại phi trường Los Angeles theo diện HO. 10.
Anh Kiệt đã sang Hoa Kỳ và định cư tại Houston Texas. Chắc chắn hai anh Tố và Kiệt chỉ quên đêm tối ấy tại trại 1 Kỳ Sơn khi nào được thuyên chuyển về Vùng 5 Chiến Thuật (thế giới bên kia, hy vọng bên ấy không có hận thù).

Thiếu Tá Nguyễn Tâm Miên trốn trại thành công, thời gian sau bị bắt lại

Thiếu Tá Nguyễn Tâm Miên sinh Tháng Giêng, 1946 tại Thừa Thiên, Số quân 66/100.004, Thiếu Sinh Quân, khóa 20 Nguyễn Công Trứ/ Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Khối Kế Hoạch, tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 2 SVSQ Trường Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị. Tiểu Ðoàn Trưởng/Sư Ðoàn 3 Bộ Binh.
Vận nước đổi thay, Thiếu Tá Nguyễn Tâm Miên cũng như hằng trăm ngàn chiến hữu của mình không thoát khỏi ngục tù khổ sai Cộng Sản. Chúng đưa anh vào trại 1 Tổng trại 2 Kỳ Sơn Quảng Nam Ðà Nẵng.
Ngày 5 Tháng Chín, 1976: Sau khi thả một số tù, trại 1 giải tỏa, số tù còn lại nhập vào trại 4. Chúng tôi khoảng 40 người đưa vào Nhà 9, Khối 4. Ða số cấp bậc trung tá, về thiếu tá có các anh Nguyễn Tâm Miên, Phạm Văn Hồng, Nguyễn Văn Lai và tôi. Ðặc biệt ít ngày sau có Thiếu Úy Ông Văn Tụng nhập vào! Từ đó chúng tôi rất dè dặt qua các câu chuyện khi có viên thiếu úy này!

Những chiến hữu xuất thân từ Thiếu Sinh Quân, Võ Bị Quốc Gia trong tinh thần giúp đỡ bao bọc khắng khít nhau với các bạn đồng khóa, đồng môn bất cứ hoàn cảnh nào nhất là trong lao tù Cộng Sản. Một phần thời gian họ học ở trường lâu dài, hơn nữa với nội quy, chương trình học được sắp xếp rất ư khoa học để khi tốt nghiệp trở thành cán bộ có đạo đức, văn võ song toàn. Cùng xuất thân khóa 20 Ðà Lạt nên hai Thiếu Tá Miên và Hồng chơi thân nhau, luôn chia xẻ ngọt bùi, lại có tâm ý trùng hợp là muốn trốn trại. Ðến khi thực hiện trốn trại tiếc thay Thiếu Tá Hồng không cùng đi được lý do bệnh hoạn kéo dài.
Sắp xếp xong với người thân qua chuyến thăm nuôi trước đó, người nhà đã đưa cho Miên 1 thẻ bầu cử chưa điền tên với đầy đủ chữ ký, con dấu cùng vài giấy tờ khác. Trước đó 1 ngày, chính Hồng là người đã điền tên vào chỗ trống lý lịch cho Miên sử dụng trong lúc đi đường.
Là nhà trưởng nên việc cắt đặt lao động do chính Miên phụ trách.

Một ngày đầu Tháng Chín, 1977, sau khi phân công anh em đi lao động, Miên liền lấy cây rựa ra cổng trại báo cáo vệ binh đi đốn củi. Thật nhanh đến điểm hẹn có người chờ sẵn với xe Honda. Thay xong quần áo dân sự chạy nhanh vào hướng Sài Gòn. Chiều lại, điểm danh thấy thiếu Miên. Trại báo động, tìm kiếm thâu đêm, lúc này Miên đã thoát ra khỏi khu vực trách nhiệm của Quân Khu 5 Việt Cộng.
Cuộc vượt thoát thành công, sống tại Sài Gòn ít tháng, đáng tiếc! Vì lý do nào đó cán bộ trại tìm được vào tận Sài Gòn bắt Miên đem về trại đưa vào nhà cùm.

Ngày 28 Tháng Chín, 1978: Tất cả tù do bộ đội quản lý được chuyển giao công an trại Tiên Lãnh trong đó có Miên và không thoát khỏi cảnh vào phòng biệt giam, qua nhiều năm kế tiếp.
Sau này nghe tin Thiếu Tá Miên đã sang Hoa Kỳ qua chương trình H.O.

Trung Tá Ngô Hoàng, bị bắn tại Kỳ Sơn!

Trung Tá Ngô Hoàng, sinh vào Tháng Hai, 1932 tại Thừa Thiên. Số quân 52/200.968, Khóa 10, Trần Bình Trọng, Võ Bị Ðà Lạt.
– Trưởng Phòng Phản Gián An Ninh Quân Ðội Quân Khu 2.
– Trưởng Ty An Ninh Quân Ðội, Tham Mưu Trưởng Tiểu Khu Phú Yên.
– Sĩ Quan Thanh Tra Trung Tâm Ðiều Hợp Bình Ðịnh và Phát Triển Quân Khu 1.

1977: Từ trại 1, Trung Tá Ngô Hoàng, Khối Phó Khối 4 chuyển qua trại 4 Kỳ Sơn. Ông bị cận thị rất nặng. Sau thời gian dài cùng anh em tù đến Phú Ninh, Tam Kỳ để khai hoang làm lòng hồ, khi trở về trại 4 được ít tuần lễ thì xảy ra vụ Thiếu Tá Nguyễn Tâm Miên trốn trại. Hai anh Hoàng và Miên thường ăn cơm chung với nhau.

1978: Vào một ngày đầu năm, khối 4 được lịnh sang trại 2 để đào sắn. Cơm trưa vừa xong, vệ binh tên Tư đến bảo Ðại Úy Công Binh Nguyễn Ðắc Phúc (khối trưởng) cho người theo anh ta để đi xem bãi sắn khác để ngày hôm sau đào tiếp.
Anh Phúc hỏi: Tôi đi với cán bộ? Vệ binh Tư lắc đầu và nói: Anh ở lại trông coi anh em. Anh cho anh Hoàng, Khối Phó, theo tôi. Anh Hoàng liền xách cúp đi theo. Vệ binh Tư bảo: rẫy có nhiều gai, anh đem theo rựa để phát quang tiện hơn. Sau khoảng 20 phút, nghe tiếng nổ của một loạt AK. Anh em tù nhìn nhau thở dài, ai nấy đều lo lắng, vì thầm nghĩ chắc anh Hoàng bị tên Tư sát hại. Quả nhiên, vài phút sau tên Tư cầm súng AK chạy ra và hô lớn:
– Các anh ngồi yên tại chỗ, thằng Hoàng lấy rựa chặt tôi định giật súng, may tôi nhanh tay đỡ kịp, đã bắn nó chết rồi. Lúc này anh em tù nhìn khẩu súng của tên Tư không thấy dấu rựa chặt nơi báng súng. Nhưng đến khi Bộ Chỉ Huy trại lập biên bản cần có chữ ký của anh Phúc, đại diện tù, thì khẩu súng trưng bày có dấu rựa chặt vào báng súng.
Liền sau đó, một số anh em tù trong đó có Trung Tá Lê Văn Thành (số quân 60/211.374, khóa 17, Lê Lai, Ðà Lạt) lấy ván tại khu nhà trại 2 đóng quan tài chôn anh Ngô Hoàng tại rẫy sắn.
Có điều gây chú ý về con số 4 là con số “kỵ” đối với Trung Tá Võ Vàng và Trung Tá Ngô Hoàng vì hai vệ binh sát thủ gây cái chết cho hai anh, một có tên là Trương tự “Bốn” và một có tên là “Tư.”

Sau 2 cái chết oan nghiệt của anh Vàng và Hoàng, anh em tù Kỳ Sơn hết sức hoang mang lo lắng nhất là các anh cấp tá. Người lo nhiều nhất là anh Tố và anh Kiệt vì khi anh Nguyễn Văn Tố làm tỉnh Trưởng Phú Yên thì anh Hoàng là tham mưu trưởng tiểu khu. Anh Tố muốn báo tin cho chị Hoàng biết là anh Hoàng bị bắn rồi, chôn ở rẫy sắn, cây cối um tùm rất khó tìm. Khổ nỗi vì chị Tố đã đi thăm anh trong tuần vừa qua, nên anh phải chờ 3 tháng sau, trong lần thăm nuôi kế tiếp, anh mới nhờ vợ về báo tin cho chị Hoàng biết.

Nhận được hung tin, chị Hoàng cùng gia đình liền đến trại Kỳ Sơn 2 để tìm hiểu cái chết của anh Hoàng và xin bốc mộ chồng. Khi khai quật mộ, thi thể anh Hoàng chưa bị phân hủy nên phải dùng rượu để tuốt thịt ra đốt tại chỗ, còn xương thì đem về để mai táng. Cái chết đau thương đầy tủi hận này đã gieo vào lòng chị Hoàng một nỗi buồn sâu đậm khiến chị Hoàng phải lâm bệnh nặng trong một thời gian rất dài.

1992: Khi lập hồ sơ theo chương trình H.O. vì các con đã lớn và có gia đình, không hội đủ tiêu chuẩn để xuất ngoại nên chị Hoàng đã quyết định cùng ở lại quê nhà với con cháu.

1994: Từ Hoa Kỳ, anh Tố nhận được thư của chị Ngô Hoàng nhũ danh Nguyễn Thị Hương Thủy, nguyên là Y tá của bệnh viện Tuy Hòa trước năm 1975, cho biết về tình trạng gia đình đang gặp khó khăn. Anh Tố cùng một số anh em cựu tù Tiên Lãnh đóng góp được 700 Mỹ kim để gửi giúp chị Hoàng. Chị dùng số tiền này để mở quán cơm chay, rồi chuyển sang bán xì dầu, nhưng tiếc thay công việc mưu sinh của chị đều bị thất bại và từ đó anh Tố mất liên lạc với chị Hoàng.

Ngoài những chuyện nêu trên, Tổng Trại 2 Kỳ Sơn còn xảy ra những cái chết đau lòng khác:
Thiếu Tá Lũy (Trung Tâm Hành Quân Quân Ðoàn I) chết dưới suối do vệ binh sai bắt cá, không may bị đạp phải lựu đạn ném cá từ trước chưa nổ.

Thiếu Tá Khóa (Phi công phản lực) đói lạnh kiệt sức nằm chết trong lùm cây bên bờ sông trong ngày mưa to, gió lớn.

Thiếu Tá Bình (TTHL Hòa Cầm) ăn chay trường, quản giáo bắt ăn mặn, ông tuyệt thực đến chết.

Riêng tại trại 2 Kỳ Sơn có nhiều sĩ quan trốn trại, nhiều ngày sau mới bị phát hiện, một số đã vượt thoát, số người bị bắt lại bị chuyển đến trại An Ðiềm để lãnh án tử hình.

Còn nhiều chiến hữu khác đã qua đời tại các trại 2, 3, 4 do trốn trại, đau bệnh, đói lạnh… (người viết không biết rõ chi tiết).
Ðến ngày 28 tháng 9, 1978, số tù còn lại tại Tổng Trại 2 Kỳ Sơn được Bộ đội chuyển giao cho công an quản lý tại hai trại Tiên Lãnh và An Ðiềm.

Trại tù Tiên Lãnh

Tiên Lãnh là một xã thuộc huyện Tiên Phước Quảng Nam, Ðà Nẵng. Thời VNCH là xã Phước Lãnh, Quận Tiên Phước, tỉnh Quảng Tín. Trại tù mang tên Tiên Lãnh nằm cạnh ngã ba sông Tranh, cạnh trại có đường trải đá. Theo đường tỉnh lộ cách Tam Kỳ 50 cây số.

Ngoài trại chính Tiên Lãnh còn các trại trực thuộc như: trại Thôn Tư, Thôn Năm, Na Sơn, Ðồng Mộ và trại Nữ do Công an quản lý. Khác với trại Kỳ Sơn do bộ đội quản lý chỉ giam sĩ quan chế độ cũ. Trại Tiên Lãnh ngoài sĩ quan còn có thành phần hành chánh, Ðảng phái, văn nghệ sĩ,… VNCH, tù hình sự và tù phạm Cộng Sản. Các nhà giam xây gạch, cửa sắt, bao bọc bởi nhiều rào kẽm gai kiên cố. Ðặc biệt cán bộ quản lý trại đều là cán binh, bộ đội từng hoạt động tại liên khu 5 trước tháng 4, 1975.
Trước 1954 tại Tiên Phước có nhà tù khét tiếng Liên khu 5 mang tên nhà lao Tiên Hội.

Nhắc đến Tiên Lãnh có biết bao nhiêu điều cần nói. Xin kể hai sự cố đau lòng nhất như sau:
Trung Tá Nguyễn Văn Bình và Ðại Úy Trần Văn Quy
Trốn trại Tiên Lãnh không thoát khỏi!

Trung Tá Nguyễn Văn Bình, sinh Tháng Mười 1943 tại Thừa Thiên. Số quân 63/210.574, khóa 19 Nguyễn Trãi, Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 51, Sư Ðoàn 1 Bộ Binh.
Ðại Úy Trần văn Quy, sinh Tháng Chín 1939 tại Kiến An. Số quân 59/153.270,
Sĩ Quan Thủ Ðức. Tiểu Ðoàn 39 BÐQ.

Ngày 28 Tháng Chín, 1978: Từ trại tù Kỳ Sơn chuyển giao công an quản lý tại trại tù Tiên Lãnh. Sau khi đến trại chừng 2 tháng, một buổi sáng nhân cơ hội đi vác củi từ xa về trại. Trung Tá Nguyễn Văn Bình cùng Ðại Úy Trần Văn Quy liền bỏ trốn. Ðoàn tù về đến trại, điểm danh lại thấy thiếu 2 người tù. Ban Chỉ Huy trại tức tốc báo động lùng kiếm suốt một tuần không thấy. Trại báo các Buôn Thượng trong khu vực để theo dõi. Qua tuần lễ thứ 2 không rõ hai anh Bình và Quy qua mưu sinh thoát hiểm thế nào không may bị địch phát hiện. Anh Bình bị bắn chết còn anh Quy bị bắt sống. Thi hài anh Bình đưa về chôn bên vệ đường mòn nơi anh em tù thường đi lao động ngang qua. Anh Quy đưa vào nhà cùm sau một ngày trói ngay nơi cổng để dằn mặt anh em tù.

Nhân dịp này người viết xin ghi lại cử chỉ bất khuất của anh Nguyễn Văn Bình: Sáng hôm sau ngày nhập trại Tiên Lãnh, anh em tù tập họp trình diện viên đại úy công an để xác nhận lý lịch. Mỗi tù khi nghe đọc tên phải lấy mũ xuống rồi hô lớn có mặt. Ðến lượt anh Bình (đứng trước tôi) không lấy mũ, chỉ nói nhỏ có thay vì “có mặt” như anh em khác. Tên Ðại úy nhìn thẳng anh Bình giận dữ lớn tiếng: “Anh có biết lấy mũ xuống không? Anh coi thường tôi. Giờ này anh là tù phạm, không phải tù binh hay trung tá “ngụy” đâu.” Anh Bình hết sức tức giận, trước kẻ thù anh đành nuốt hận!
Hành động của anh Bình, in đậm tâm trí tôi không bao giờ quên.

Thiếu Úy Trần Quang Trân với bản án tử hình

Thiếu Úy Trần Quang Trân, sinh 30 Tháng Chín, 1949 tại Phú Lộc, Thừa Thiên. Sĩ quan An Ninh, chi An Ninh Phú Lộc, Thừa Thiên.
Nói đến trại tù Tiên Lãnh phải kể vụ án Trần Quang Trân, một vụ án chấn động Quảng Nam Ðà Nẵng. Cuối 1975 tại Kỳ Sơn có phái đoàn địa chất của Tỉnh Quảng Nam Ðà Nãng đã sử dụng máy dò tìm địa chất của Trung Cộng để tìm vàng tại Bông Miêu. Máy bị hỏng về Ðà Nẵng không tìm ra chuyên viên sửa chữa. Phái đoàn nhờ Tổng Trại 2 tìm cho người sửa. Anh Trân nhận sửa và máy hoạt động tốt trở lại. Từ đó anh Trân được đưa về Bộ Chỉ Huy Tổng trại để sửa máy. Cán bộ có radio hỏng đều nhờ anh Trân sửa. Anh lén nghe đài BBC, VOA,… có tin hay tìm cách phổ biến cho các bạn tù được tin tưởng biết hầu an tâm.

Ngày 28 Tháng Chín, 1978, bộ đội bàn giao số tù còn lại tại Kỳ Sơn cho công an trại Tiên Lãnh. Anh Trân được giao theo danh sách chuyên viên. Qua tin đồn anh Trân sửa máy giỏi công an trại nhờ sửa Radio. Có máy anh lén nghe các đài ngoại quốc về sau ráp 1 máy nhỏ để nghe. Những tin quan trọng như: Tôn Ðức Thắng qua đời, Việt Nam đánh qua Campuchia, Trung Quốc xâm lăng miền Bắc, nhất là Hoa Kỳ và Việt Nam thương thảo để chuyển tù Việt Nam Cộng Hòa sang định cư tại Hoa Kỳ,…
Ðược tin anh em tù hết sức vui mừng và phổ biến cho nhau. Ðầu 1981 vụ nghe lén Radio bị bại lộ. Ban Chỉ Huy trại cho điều tra, gom bắt gần 100 tù nhân liên quan trong tổ chức nghe radio đưa vào nhà cùm. Ðến ngày 5 Tháng Mười Một, 1981 Tòa án nhân dân Quảng Nam, Ðà Nẵng mở phiên tòa suốt một ngày tại Tiên Lãnh để xét xử 92 tù nhân với tội: Âm mưu tổ chức lật đổ Chính Quyền Nhà Nước Việt Nam.

Bản án tuyên đọc anh Trần Quang Trân tử hình. Một số khác từ chung thân, 20, 18, 13, 12, 10, 5 và nhẹ nhất là 3 năm còn lại 75 người miễn truy tố chỉ bị phạt giam. Ðặc biệt trong phiên xử anh Trân không gọi Ban xử án là Quan Tòa mà gọi các ông. Anh nói: “Các ông không xứng đáng và có quyền xử chúng tôi, lịch sử Việt Nam sẽ xử tội các ông..”

Viên chánh án luôn đập bàn gọi anh Trân phải thưa quan tòa không được gọi các ông. Sau khi tuyên án tử hình viên chánh án cho anh Trân nói lời cuối cùng. Anh không mất tinh thần, không sợ hãi và hùng hồn tuyên bố: “Tôi không có gì nói với các ông, Chỉ tiếc là khả năng của tôi không có cơ hội để phục vụ tổ quốc sau khi chế độ cộng sản sụp đổ!!!”

Vào lúc 12 giờ trưa ngày 19 Tháng Sáu, 1982, chúng đưa xe đến tận phòng giam rồi bịt mắt anh Trân để chuyển ra pháp trường. Khi xe ra đến cổng trại anh cố hô to: “Ðả đảo Hồ chí Minh! Ðả đảo Cộng Sản.”

Khoảng hai mươi phút sau nhiều tiếng súng oan nghiệt nổ để tiễn đưa linh hồn của một anh hùng Việt Nam Cộng Hòa thuộc trại Tiên Lãnh đã hiên ngang đi vào lòng dân tộc.
Ngày 10 tháng 5, 1989 mộ phần anh Trân được gia đình cải táng và chôn tại xã Lộc Ðiền, Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên.
Chị Trân nhũ danh Vũ Thị Rần cùng hai con là Trần Diễm Trang và Trần Diễm Nga đã lập thủ tục xin định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O. Công An Ðà Nẵng từ chối không cấp giấy khai tử nên hồ sơ chưa được giải quyết. Ngày 30 Tháng Giêng, 2008, Ban Ðại Diện Hội Tù Tiên Lãnh gửi đơn đến Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn, nhờ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cứu xét và giải quyết nguyện vọng của chị Trân.

Những người tù không bản án tại trại Tiên Lãnh không thể nào quên được. Hàng trăm người đã chết trong tù hoặc mang bệnh về nhà rồi chết. Trong số người chết trong trại người viết chỉ nhớ các bạn như sau:

Trung Tá Trần Phước Xáng, khóa 10, Trần Bình Trọng Ðà Lạt, tiểu khu phó Quảng Nam chết tại khu Nhà Trắng Thôn 5 do bệnh kiết lỵ kéo dài quá lâu.

Trung Tá Nguyễn Trinh, khóa 4 Cương Quyết Thủ Ðức, tham mưu phó CTCT Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Ðoàn I, chết vì bệnh nặng tại Tiên Lãnh.

Trung Tá Huỳnh Như Xuân, khóa 19 Nguyễn Trãi Ðà Lạt, trung đoàn phó Trung Ðoàn 3 Sư Ðoàn 1 BB chết tại Ðồng Mộ do bệnh gan.

Ông Ðinh Văn Biền, Bí Thư Quốc Dân Ðảng Quảng Nam chết tại Ðồng Mộ do bệnh suyễn kinh niên.

Thiếu Tá Hồ Minh, phó ủy viên Chính Phủ Tòa Án Quân Sự Thường Trực Quân khu 1 nhịn đói đến chết tại Nhà Trắng Thôn 5.

Thiếu Tá Ðoàn Văn Luyến, Tiểu Khu Quảng Nam, vì đói quá nên ăn nhiều lá sắn và môn, bị phù thủng và qua đời tại Tiên Lãnh.
Thiếu Tá Trương Ðình Phước, xuất thân trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Thanh tra Quân Tiếp Vụ Quân Khu 1. Chết vì bệnh nặng.

Thành phần Sĩ quan và tù chính trị tại Tiên Lãnh, do bị tù quá lâu nên anh em biết nhau nhiều. Ra hải ngoại rất đông anh em tiếp tục sinh hoạt chính trị, tiêu biểu trong số có người bạn tù chúng tôi hằng quý mến ngay từ trong trại như Bác Sĩ Phùng Văn Hạnh:

Y Sĩ Thiếu Tá Phùng Văn Hạnh cứu sống nhiều tù nhân Tiên Lãnh:

Y Sĩ Thiếu Tá Phùng Văn Hạnh, số quân 51/120.936, sinh Tháng Mười, 1931 tại Quảng Nam, được trưng dụng vào Quân đội. Nhiệm vụ sau cùng là bác sĩ chỉnh hình tại Trung Tâm Y Tế Toàn Khoa Ðà Nẵng đồng thời Ông cũng là giám đốc Dưỡng Ðường Ðộc Lập tại Ðà Nẵng (dưỡng đường tư của bác sĩ).
Anh em trại tù Tiên Lãnh không quên được một bạn tù đặc biệt như Bác Sĩ Phùng Văn Hạnh. Tinh thần chống Cộng rất cao, khi vào tù trại bắt lao động rồi đưa vào trạm y tế chữa bệnh cho anh em tù. Qua lần lao động sau cùng ông đạp nhằm đinh sét bị phong đòn gánh rất nặng phải đưa về bệnh viện Tam Kỳ chạy chữa. Nhờ một số bác sĩ tại đây là học trò cũ của ông đã tận tình chữa khỏi bệnh. Khi trở về Tiên Lãnh ông được tiếp tục giao phó việc chữa bệnh cho các anh em tù. Bác Sĩ Hạnh đã cứu sống biết bao đồng đội bệnh nặng sắp đi vào cõi chết.
Ông được phóng thích sau 12 năm tù, ông vượt biển vào năm 1989, sau đó được sum họp cùng phu nhân là bà Nguyễn Thị Bạch Nhạn và 7 người con gồm 4 trai, 3 gái tại Montréal, Canada. Hiện ông đang vui hưởng tuổi già cùng 8 cháu nội ngoại. Ðiều đáng ghi nhận là tất cả các con của Ông đều thành đạt mỹ mãn.

Ông ghi lại những nỗi vui buồn của cuộc đời mình qua 2 tác phẩm:
– Tình yêu hiện sinh, xuất bản năm 2000.
– Một kiếp người, xuất bản năm 2004.

Thay lời kết:

Qua tâm ý của người viết cố hồi tưởng lại những gì mắt thấy, tai nghe trong thời gian bị tù Cộng Sản tại Kỳ Sơn và Tiên Lãnh cùng nghe qua lời kể của các bạn tù. Tham khảo ít tài liệu Quân đội trước 1975.
Xin cám ơn tất cả mọi người trong cuộc cùng thân nhân và anh em cựu tù Kỳ Sơn, Tiên Lãnh đã cung cấp hình ảnh, tin tức và khuyến khích tôi viết lại các câu chuyện đầy thương tâm để hoàn thành loạt bài này.
Nhân tiện người viết xin có mấy lời cùng các bạn trẻ thân mến:
Sau biến cố năm 1975, các bạn được cha ông tạo cơ hội vượt thoát khỏi chế độ bạo tàn Cộng Sản và may mắn có nhiều cơ hội để học hỏi và tiến thân mưu cầu một tương lại ổn định và tươi sáng. Sự thuận lợi các bạn đang có đã đánh đổi bao sự hy sinh của cha ông đã lâm vào cảnh lao lý. Các chuyện kể trên tiêu biểu cho hàng ngàn vụ đau thương xảy ra trong các trại tù trên toàn quốc.
Hiểu được lý do chính đáng về sự hiện diện của các bạn tại quê người, các bạn nên luôn ghi ơn các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã đóng góp phần xương máu để xây dựng và bảo vệ miền Nam. Trước 1975 cuộc sống của đồng bào miền Nam được tự do, hạnh phúc hơn hẳn một số Quốc Gia trong vùng Ðông Nam Á, thủ đô Sài Gòn được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Ðông. Các bạn hãy hãnh diện về thành quả trước đây, nỗ lực hơn nữa để phục hưng nước Việt trong tương lai được phú cường và không Cộng Sản hầu thực hiện nguyện vọng của toàn dân hiện đang mong ước từng ngày.
Hiện nay, tình hình chính trị trong nước đã chín mùi, ngày toàn dân mong ước không còn xa.

SOURCE:


.