Thursday, May 13, 2021

Thắng hay bại? Ngày 30 tháng 4 năm 1975 nhìn từ hiện tại và tương lai Việt Nam


Phạm Trọng Luật

Tháng 4 năm 2005

«Nếu chúng ta cũng ngậm miệng, thì ai sẽ nói thay?»

(Arthur Schopenhauer)

 

1.

«Chiến tranh là sự tiếp nối chính trị bằng những phương tiện khác». Câu văn trứ danh này của Clausewitz, có lẽ ai trong chúng ta cũng từng nghe qua. Nó xác lập sự phụ thuộc của quân sự vào chính trị. Từ khi có những tập hợp người gọi là thành quốc hay quốc gia, người ta không làm chiến tranh đơn thuần nhằm chém giết lẫn nhau, mà để giành lấy quyền định đoạt số phận của một cộng đồng. Và kẻ tham chiến có thể thua hàng trăm trận, miễn là thắng trận cuối cùng, bởi vì chỉ có nó mới mang lại quyền quyết định về việc tổ chức chính quyền trên một lãnh thổ. Nói cách khác, nếu tột đỉnh của quân sự thực chất là chính trị, thì bên tham chiến nào đạt được mục tiêu chính trị - đối tượng của cuộc tranh chiến -, bên đó chính là kẻ thắng trận.

Lịch sử đầy các địa danh mang tên loại chiến thắng quân sự ấy. Nhưng lịch sử cũng không thiếu những trường hợp đầu voi đuôi chuột, khi sự chiếm hữu chính quyền chỉ tạo ra nổi một trật tự công cộng đặt trên thứ kết quả trái ngược, về thực chất đúng là những «phản giá trị» hoàn toàn so với lý tưởng được viện dẫn để biện minh cho chiến tranh. Nghĩa là khi thắng lợi quân sự không được tiếp nối bằng loại thành tựu chính trị phù hợp với nguyện vọng ban đầu, mà đôi khi bằng một sự phá sản toàn diện còn sâu đau hơn thất bại trên trận địa bội phần. Ở đây, để không ai sớm động lòng, ta có thể nhìn vào cổ sử phương Tây xa xôi để tìm hiểu trường hợp có lẽ là nghịch lý nhất của nhân loại.

Thừa hưởng một quá khứ tương tranh triền miên, các thành quốc cổ Hy Lạp thường chỉ tập hợp nổi khá muộn màng trong một thứ liên minh phòng ngự trước tham vọng thôn tính của ngoại bang. Liên minh cuối cùng gọi là Liên Minh Achée [Ligue Achéenne], hình thành vào năm 181 trước Tây lịch, đặt thủ đô tại Corinthe [Korinthos], nhằm chống lại đế quốc La Mã. Ba mươi lăm năm sau, Viện Nguyên Lão [Sénat] Roma gửi một đoàn quân và một đội chiến thuyền đổ vào Bucopétra thuộc thành quốc Corinthe, dưới sự thống lĩnh của hai tướng Mummius và Metellus. Không thiện chiến bằng kẻ xâm lược, quân liên minh ra cự địch bị tiêu diệt gọn trong trận Leucopetra (năm 146 trước Tây lịch): Mummius ra lệnh san bằng Corinthe, chỉ chừa lại thành trên [acropole] và một số đền thờ. Vô số kho tàng văn hoá bị thiêu hủy hay chở về Roma. Hy Lạp từ đây trở thành tỉnh Achaïe [Akhaïa] của La Mã, cho đến khi đế quốc này cũng suy tàn rồi tiêu vong (khoảng thế kỷ thứ 5 sau Tây lịch).

Ở đây, đâu là phán quyết của lịch sử? Leucopetra không phải chỉ là một trận thắng mà chính là chiến thắng cuối cùng, bởi vì sau đó quyền quyết định số phận người dân Hy Lạp không còn nằm ở Corinthe hay một mảnh đất Hy Lạp nào khác, mà trong tay Viện Nguyên Lão Roma. Nó cho phép ta kết luận với Clausewitz: có chiến thắng quân sự khi sự kết thúc chiến tranh dẫn đến một thay đổi chính trị, cụ thể về quyền quyết định tổ chức quốc gia hay thành quốc. Nhưng đây chỉ mới là nửa đầu của câu chuyện thắng bại giữa Hy Lạp và La Mã – cái nửa sự thực của cường lực vật chất.

Đây là nửa sau – cái nửa của sức mạnh tinh thần. Mummius ở lại làm Thái Thú [Proconsul] trên vùng đất ông đã chinh phục. Nhưng người La Mã, dù ở thuộc địa hay chính quốc, dần dần bị thu hút bởi văn minh Hy Lạp. Đến «thế kỷ của Auguste» [1] bao văn hoá phẩm và nếp sống Hy Lạp đã hiển hiện bàng bạc trong đời sống hàng ngày của đế quốc, và Hy Lạp trở thành bậc thầy của La Mã trong hầu hết mọi lãnh vực nhân văn. Đến nỗi thi hào đương thời Horace [2], mà ngay bản thân cũng là đệ tử của nhà hiền triết Hy Lạp Epicure [Epikouros], khi suy ngẫm về quan hệ giữa đôi bên, đã để lại câu chơi chữ bất hủ: rốt cuộc, «Hy Lạp bại trận đã chiến thắng kẻ thắng trận hung tợn!» [bản dịch Pháp ngữ: «La Grèce vaincue vainquit son farouche vainqueur!»]. Hiện thực này cho phép ta thắc mắc: thế nào là một chiến thắng chính trị? Phải chăng, ở đây, thắng lợi quân sự chỉ chuyển hoá thành chiến thắng thật sự, khi sự thay đổi chính trị (sự chiếm hữu quyền quyết định tổ chức quốc gia hay thành quốc) là tiền đề cho việc phổ biến những giá trị văn hoá của kẻ đã giành được thắng lợi cuối cùng trên trận địa?

Tất nhiên, Hy Lạp là một ngoại lệ hãn hữu. Không phải kẻ thất trận nào cũng cao hơn bên chiến thắng về mặt văn hoá. Nhưng cũng hiển nhiên, không phải giá trị văn hoá nào của kẻ thắng trận cũng đáng được phổ biến. Nói cho cùng, làm sao Roma có thể La Mã hoá Hy Lạp, khi trong lãnh vực thể dục và tiêu khiển chẳng hạn, phe thắng chỉ đẻ ra nổi trò giác đấu mọi rợ, so với những cuộc thi điền kinh đậm nét nhân văn của bên thua? Cả đấu trường lẫn tượng đền Colisée [Colosseum] [3] hoành tráng xưa, nay chỉ còn trơ trẽn đấy như một tàn dư hầu nhắc nhở du khách về cái thú tính luôn luôn còn tiềm năng bật dậy từ thâm sâu con người, trong khi ngọn đuốc thiêng từ Olympia, cứ bốn năm một lần lại chạy vòng quanh trái đất để vinh danh một lý tưởng cao quý của cả nhân loại… Tất nhiên, quan hệ Hy - La chỉ là một trường hợp giới hạn - một thứ mẫu lý tưởng -, nhưng đấy lại chính là thứ điển mẫu để từ đó đánh giá lại mọi tiếng gáy chiến thắng. Đấy là lý do duy nhất khiến tôi đề cập đến trường hợp xa xưa trên trong bài mạn đàm này.

Nói cách khác, chiến thắng hay chiến bại, nói cho cùng, là một vấn đề chính trị - hơn thế nữa, một vấn đề chính trị cấp cao là giá trị văn hoá. Bởi vì không ai hy sinh xương máu giành chánh quyền để chẳng làm gì, chẳng thực hiện gì cả, hãy chỉ cho chúng tôi xem cái nền tảng giá trị mới trên đó anh muốn xây dựng lại trật tự quốc gia của anh, cùng những thành tựu đã hoạch đắc, chúng tôi sẽ nói, rốt cuộc, anh là người chiến thắng hay kẻ chiến bại. Đấy là thách thức phổ quát cho bất kỳ một cuộc chinh phục nào đã kết thúc bằng thắng lợi quân sự, chứ không riêng gì cho cuộc chiến tranh nửa giải phóng, nửa nội chiến ở Việt Nam.

 XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

Bộ sưu tập "Chiến Ca Mùa Hè 1972" - Thơ Phạm Lê Phan, Phạm Duy phổ nhạc

 

Thơ Phạm Lê Phan, Phạm Duy phổ nhạc

Tuyển tập Nhạc Tiên Rồng 1

18 bài hùng ca yêu nước

Tổng phát hành: Mỹ Hạnh, Sống Mới - Saigon 1972

 


1. Qua Cầu Ái Tử.

2. Bên Giòng Thạch Hãn.

3. Lời Dặn Dò.

4. Suối Trăng Hờn.

5. Đêm Hội Máu.

6. Một Tình Thiêng.

7. Đêm Hội Pháo.

8. Bất Khuất.

9. Đưa Mẹ Về.

10. Trị Thiên Thương Mến.

11 & 12. Đưa Mẹ Về, Hội Gió Trường Sơn.

13 & 14. Đưa Mẹ Về, Sữa Trắng Rừng Xanh.

15. Mặc Niệm.

16. Xin Tha Thứ.

17. Hành Trình Anh Thủy Quân Lục Chiến. [tức 12 Tháng Anh Đi].

18. Điệp Khúc Trần Thế Vinh.

 

Đoạn viết sau đây là đoạn nhạc sĩ Phạm Duy có nhắc đến tập nhạc này 

Rồi tôi phổ những bài thơ của Phạm Lê Phan, một thi sĩ làm việc tại Đài Phát Thanh Quân Đội (***), thành một Liên Khúc gồm 16 chiến ca nhan đề Chiến Ca Mùa Hè... 

Bài Mười Hai Tháng Anh Đi soạn theo thơ của Phạm Văn Bình thì nói tới hành trình trong 

12 tháng của một chiến sĩ trong Thủy Quân Lục Chiến:


Tháng giêng xuôi quân ra Huế
Cố đô hoang vu điêu tàn
Bãi học chiều, em vắng bóng
Tóc thề đã quấn khăn tang.
Tháng hai về trấn ven đô
Chong mắt hoả châu, giữ cầu.
Gió thoảng vào hơi rượu mạnh
Qua làn sương ánh đèn mầu... Tháng ba, tháng tư thì :
Ba lô lên vai tới miền Tây Đô
Quê hương em xanh, xanh rợp bóng dừa...
. . .Tháng năm theo vì sao biếc
Hoa phượng nở quanh sân trường...
...Tháng sáu anh vẫn miệt mài
Hành quân chưa về thăm em...
...Tháng bẩy mưa ngâu, nước mùa bay mau
Ô hay ta sao trong lòng rưng sầu...
...Tất cả bầu trời thơ ấu
Ai làm tháng tám cằn khô...
... Tháng chín ta về Cửu Long
... Cuối năm mùa Đông đan áo
Cuối năm trời đã lạnh rồi.
Thiên hạ thì may áo cưới
Ta thì hẹn tới năm sau..."

 



Thế là tuy đôi chân của tôi đang bị trói lại trong thành thị, tâm hồn tôi lại được theo anh lính Thủy Quân Lục Chiến đi giang hồ một phen qua bài hát này.

Rồi khi cởi trói đôi chân, cùng với Duyên Anh, Nhật Trường ngồi trên xe thiết giáp M113 đi ra chiến tuyến, tôi có cảm hứng để đi vào một công trình khá lớn là Liên khúc Chiến Ca Mùa Hè 72, phổ thơ của Phạm Lê Phan với những đoản khúc như:

 Qua Cầu Ái Tử

Bên Giòng Thạch Hãn

Lời Dặn Dò

Suối Trăng Hờn

 Đêm Hội Máu

Một Tình Thiêng

Đêm Hội Pháo

Bất Khuất

Đưa Mẹ Về Trị-Thiên Yêu Dấu

Đưa Mẹ Về Sữa Trắng Rừng Xanh

Mặc Niệm

Xin Tha Thứ... 

Bản trường thi của Phạm Lê Phan có nhiều đoạn rất sắt máu nhưng lại có đoạn kết rất nhân bản :

Xin một lúc mặc niệm
Cho triệu người đã chết
Chết trong lòng cuộc chiến
Xin một phút bồi hồi
Cho những người tinh khôn
Cho những đứa dại khờ

Xin cúi đầu thật thấp
Xin âm thầm được khóc
Những oan hồn bè bạn
Những oan hồn kẻ thù
Cùng đi thăm mộ tối
Từng làn hương mờ khói
Xin cho phủ mầu cờ
Rồi khấn nguyện chung một lời :

Là người Việt Nam là xin tha thứ
Tha thứ cho nhau tha thứ cho đời.
Tủi hờn cùng chung, cùng chung kiêu hãnh
Chung kiếp gian nan, chung kiếp u buồn.
Cùng một mẹ cha, chung lời chung tiếng
Xâu xé tan hoang hai mươi năm ròng.
Xin thổi kèn lên, tiếng kèn u uất
Xin đốt nén nhang, đốt nến hai hàng
Việt Nam hãy khóc khóc cho thật nhiều !

 



Hai thi sĩ quân đội Phạm Lê Phan, Phạm Văn Bình mà tôi mang ơn vì đã cho tôi hai bài thơ hay để phổ nhạc, cả hai đều là thanh niên của thời đại, do định mệnh mà trở thành quân nhân, đi vào cuộc chiến với tâm hồn ướt át và tấm lòng đầy nhân bản như vậy... "

(Phạm Duy)

.

"Anh Phạm Lê Phan làm việc tại Phòng Văn Nghệ cùng Anh Việt Thu, Nguyễn Đat.. voi trưởng phòng là thiếu tá Tô Thuỳ Yên, thuộc cục Tâm Lý chiến của đai tá Cao Tiêu, chứ không phải là Đài Phát Thanh " (bổ sung của nhà văn/ nhà thơ/ nhạc sĩ Hà Thúc Sinh)

Phạm Duy - Chiến Ca

Sau thời gian soạn thương ca chiến trường thì xẩy ra mùa hẻ đỏ lửa 1972. Tôi tạm quên những bài hát cho quê hương tồi tệ để soạn cho Không Lực Việt Nam những bài tích cực hơn như: ÐIỆP KHÚC TRẦN THẾ VINH, VÙNG TRỜI MANG TÊN TA, LÊN TRỜI, TRONG BÃO CÁT MƯA RỪNG v.v...

ÐIỆP KHÚC TRẦN THẾ VINH

Này mặt trời nhỏ bé phương Nam
Mặt trời từng sưởi ấm cô đơn
Cho ta bay ngang qua lửa đạn
Cho quê hương yên vui ngày loạn
Này mặt trời hãy khóc đi thôi
Vì người tình của nắng lên ngôi
Con chim xanh bao la tình người
Thành vị thần : TRẦN THẾ VINH ơi !
Này Thần Ðất giữ dùm thân tôi
Ngăn xâm lăng dưới đất trên trời
Này Thần Gió giữ hồn cho tôi
Xin dâng cho Tổ Quốc muôn đời.

Này bầu trời, này ánh trăng xanh
Này cả rừng sao sáng lung linh
Nghe anh VINH đêm đêm hiện hình
Trên quê hương trong cơn chuyển mình
Này cả dòng sông nước chia ngăn
Một người hùng gẫy cánh cho dân
Xin nhân danh yêu thương vẹn toàn
Hẹn một ngày thống nhất quê hương.
Này Thần Ðất giữ dùm thân tôi
Ngăn xâm lăng dưới đất trên trời
Này Thần Gió giữ hồn cho tôi
Xin dâng cho Tổ Quốc muôn đời.

Này người tình yêu dấu không tên
Phận đàn bà cuộc chiến trao duyên
Quân xâm lăng gây nên sự tình
Không ai mang khăn tang một mình
Này người tình hãy nín đau thương
Vì người dù xa vắng giai nhân
Nhưng quê hương ta thêm thần tượng :
Một người hùng trần thế vinh quang.
Này Thần Ðất giữ dùm thân tôi
Ngăn xâm lăng dưới đất trên trời
Này Thần Gió giữ hồn cho tôi
Xin dâng cho Tổ Quốc muôn đời.

Rồi tôi phổ thơ của Phạm Lê Phan thành 16 chiến khúc của Trường Ca CHIẾN CA MÙA HÈ. Tôi còn đem bài thơ MƯỜI HAI THÁNG ANH ÐI của Phạm văn Bình làm thành bài hát HÀNH TRÌNH ANH THỦY QUÂN LỤC CHIẾN. Tôi gọi tất cả là chiến ca.

HÀNH TRÌNH ANH THỦY QUÂN LỤC CHIẾN
hay là
MƯỜI HAI THÁNG ANH ÐI


theo thơ Phạm Văn Bình

Tháng giêng xuôi quân ra Huế
Cố đô hoang vu điêu tàn
Bãi học chiều, em vắng bóng
Tóc thề đã quấn khăn tang
Tháng hai về trấn ven đô
Chong mắt hoả châu, giữ cầu
Gió thoảng vào hơi rượu mạnh
Qua làn sương ánh đèn mầu
. . . . . . . . .
Ba lô lên vai, tới miền Tây Ðô
Quê hương em xanh, xanh ngợp bóng dừa
Ðêm ngủ bìa rừng, thèm làn môi ấm
Ngọt trái sầu riêng, này lúc sang mùa...
. . . . . . . . .
Bây giờ trời mây vào hạ
Mẹ em bận đi lễ chùa
Em cầu nguyện cho chiến sĩ
Trên đường nắng sớm, chiều mưa
Tháng năm theo vì sao biếc
Hoa phượng nở quanh sân trường
Ngày xưa những tờ lưu bút
Bây giờ phong thư gói quà
Tháng sáu anh vẫn miệt mài
Hành quân chưa về thăm em
Ðừng khóc ve sầu mùa hạ
Xa thì xa vẫn chưa quên...
. . . . . . . . .
Sang Thu mưa ngâu, nước mù bay mau
Ô hay ta sao trong lòng dâng sầu
Tráng sĩ xưa hề vượt cầu sông ấy
Người đứng đầu sông, người cuối sông này
. . . . . . . . .
Bây giờ còn đâu huyền thoại
Hằng Nga của em bé thơ
Tất cả bầu trời thơ ấu
Ai làm tháng Tám cằn khô
Tháng Chín ta về Cửu Long
Vú sữa căng của mẹ hiền
Anh đi cho đồng tươi thắm
Tặng em này chiến công vang...
. . . . . . . . .
Về Cà Mâu, một phong thư
Gửi cho em, lời gió thương mây, lời chim nhớ rừng,
Lời gió thương mây, lời chim nhớ rừng
Lời gió thương mây, lời chim nhớ rừng, lời ta chờ nhau
. . . . . .
Cuối năm mùa Ðông đan áo
Cuối năm trời đã lạnh rồi
Thiên hạ đua áo cưới, ta thì hẹn tới mai sau.
. . . . . . .
Hoa mai nở đầy, em đang chờ đợi
Mười hai tháng rồi, dài ước mơ say
Nhớ má cho hồng, nhớ môi em ngọt
Anh về cùng em, vui đón giao thừa.


CHIẾN CA MÙA HÈ, thơ của Phạm Lê Phan do tôi phổ nhạc là một trường ca gồm 16 đoản khúc.

CHIẾN CA MÙA HÈ
theo thơ Phạm Cao Phan

PHẦN I : TRỊ THIÊN
1.- Qua Cầu Ái Tử
2.- Bên Giòng Thạch Hãn
3.- Lời Dặn Dò

PHẦN II : TAM BIÊN
4.- Suối Trăng Hờn
5.- Ðêm Hội Máu
6.- Một Tình Thiêng

PHẦN III : BÌNH LONG
7.- Ðêm Hội Pháo
8.- Bất Khuất

PHẦN IV : CHIẾN THẮNG SAU CÙNG
9.- Ðưa Mẹ Về
10.- Trị-Thiên Yêu Dấu
11.- Ðưa Mẹ Về
12.- Hội Gió Trường Sơn
13.- Ðưa Mẹ Về
14.- Sữa Trắng Rừng Xanh

PHẦN KẾT : MẶC NIỆM

15.- Mặc Niệm
16.- Xin Tha Thứ

Phạm Duy

Source:

https://phamduy.com/vi/am-nhac/chu-de/nhac-chien-tranh/5294-chien-ca

.

Hình ảnh Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu hôm nay 12/5/2021

 

 



CHẮC KHÔNG CÒN LÂU NỮA!

Dưới đây là bức ảnh mới nhất của một ông cụ già, được chụp ngày hôm qua 12/05/2021, tại nhà riêng của ông số 176 Nguyễn Thượng Hiền,P1, Gò vấp (Cafe tượng đá) với bước đi khó nhọc, ông cụ hầu như không còn khả năng giao tiếp với mọi người nữa,do bị điếc đặc (Hậu quả của những ngày bị tra tấn sau năm 1975), và có lẽ do bị ám ảnh của những ngày tù ngục, nên bây giờ thấy ông lê những bước chân khó nhọc, tôi tính bước tới dìu ông đi, nhưng bị người thân của ông cản lại và bảo rằng: Ông sẽ giật mình và phản ứng lại, khi bất kỳ ai đụng vào người của ông...!

Với đôi mắt mờ đục, lạc thần,đôi tai bị điếc...khả năng nhận thức rất kém, cùng bước chân chập choạng ,run rẩy...Những ngày cuối đời của ông, bây giờ là thế đấy. Thế hệ sau này ít người biết đến ông, cuộc sống của ông trong hiện tại như đèn treo trước gió. Nhưng cuộc đời của ông đã trở thành huyền thoại, từ đỉnh cao của vinh quang và danh vọng, xuống đến tận cùng đau khổ của kiếp người....! Bằng tài hoa của mình tác phẩm của ông đã làm lay động con tim của biết bao thế hệ, đã từng là biểu tượng cho quân đội của một chính thể , đặc tả được thân phận của người lính VNCH trong cuộc chiến vừa qua, đó là bức tượng THƯƠNG TIẾC và bức tượng đã trở thành ký ức," Tình yêu và nỗi nhớ " trong tâm tưởng của biết bao người...! Người có khả năng làm được chuyện đó, chính là cụ già áo đỏ trong hình, cụ là NGUYỄN THANH THU, điêu khắc gia lỗi lạc và kiệt xuất của Việt Nam thời đương đại !

Chúng ta có hân hạnh và diễm phúc được là người cùng thời với ông, xin hãy trân trọng những khoảnh khắc này, vì nay mai theo quy luật, sự vô thường sẽ tiễn huyền thoại ấy đi về cõi hư vô, chắc không còn lâu nữa...!

Hãy đến thăm ông, nếu có thể, trước khi quá muộn, chỉ là vậy thôi....!

Saigon, trưa 13/05/2021 

Nguyễn Tiến - THỜI LUẬN

.