Friday, October 9, 2026

Nhớ ChiếnTrường Xưa - Bài 3 (KÝ SỰ - Trần Văn Ngà)

 

CHIẾN TRƯỜNG VIỆT NAM: THẾ GIỚI TỰ DO & CỘNG SẢN QUỐC TẾ

“…Tuy nói có 2 thực thể CSBV & VC nhưng chúng cùng chung 1 lập trường , 1 kế sách còn VNCH và Hoa Kỳ cũng là 2 thực thể, nhưng 2 thực thể đồng sàng dị mộng, khác biệt lập trường, chính kiến. Mỹ muốn làm vừa lòng CSBV để lấy tù binh và rút quân - một hình thức bỏ của lấy người, mặc cho VNCH bị bức tử sụp đổ như ngày 30.4.1975.
Người Việt quốc gia, không chấp nhận chế độc tài toàn trị của chủ nghĩa cộng sản, rút ra được một bài học cay đắng thành người vong quốc như hiện nay, chúng ta ôn cố tri tân vậy”.

 

 (H: Chiến trường sông nước Miền Tây - Cần Thơ).

 

Đất nước Việt Nam hay cả Đông Dương - Việt Miên Lào, nằm ở vị trí chiến lược - vô cùng quan yếu, làm cái đê, cái bờ ngăn chặn kế sách của cộng sản quốc tế tấn công xâm chiếm. Cộng sản quyết đưa làn sóng đỏ từ lục địa Trung Quốc lan tràn, bước đầu nhuộm cả Việt Nam và Đông Dương, đến vùng Đông Nam Á, từ thập niên 50. Kế tiếp, cộng sản Tàu âm mưu sẽ nhuộm đỏ cả Á Châu và liên minh với Liên Sô nhuộm đỏ cả thế giới.
Để ôn cố tri tân: Sau khi cộng sản chiến thắng ở đại lục Tàu - năm 1959 đánh bại Trung Hoa Dân Quốc - đạo quân khổng lồ của Thống Chế Tưởng Giới Thạch. Vì quân của họ Tưởng đang ngủ quên trên chiến thắng chung của phe đồng minh thời Đệ Nhị Thế Chiến (1939 - 1945) nên bị đạo quân "bần cố nông ngu dốt" cộng sản của họ Mao đánh bại. Đạo quân khổng lồ của "Tưởng xính xáng", phải tìm sinh lộ thoát thân để tồn tại, họ từ bỏ đất liền Trung Hoa trốn chạy ra hải đảo Đài Loan tử thủ. Với cái dù che của "đế quốc vĩ đại" Hoa Kỳ đã cứu giúp Trung Hoa Dân Quốc thoát khỏi nanh vuốt Trung cộng, tồn tại và giàu mạnh cho đến ngày nay.

Nếu làn sóng đỏ không kịp be bờ ngăn chặn ở Việt Nam, trước tiên cả 3 nước Đông Dương nằm trong quỹ đạo của cộng sản quốc tế, sau ngày 30.4.75 đã chứng minh rõ ràng. Theo chánh sách tằm ăn dâu hay chiến thuật domino, theo bài bản vết dầu loang, cộng sản quốc tế, sau Đông Dương, sẽ lần lượt thôn tính toàn cõi Đông Nam Á và tiến tới nhuộm đỏ cả Á Châu và thế giới "đại đồng".
Đảng tính không bằng trời tính. Nước Việt Nam chẳng may phải gánh chịu làm "sân chơi", chiến trường của cả hai thế lực: thế giới tự do và cộng sản quốc tế múa may quay cuồng suốt 20 năm chiến tranh khổ lụy giết chết trên dưới 5 triệu rưỡi người của cả hai miền Nam Bắc Việt Nam - từ năm 1955 đến năm 1975. Chúng ta chưa tính tới số thương vong người Việt trong chiến tranh kháng Pháp từ sau Đệ Nhị Thế Chiến (kết thúc năm 1945) cho đến năm 1954, có Hiệp Định Đình Chiến Genève ký ngày 20.7.1954.

Chủ nghĩa cộng sản thắng thế giới tự do hay tà thuyết thắng chánh nghĩa từ ngày 30.4.1975 tại sân chơi - chiến trường Việt Nam, đã đưa đất nước Việt Nam đến cảnh lụi tàn, suy vong. Dù VN cộng sản có đổi mới hơn 2 thập kỷ qua, VNCS vẫn còn đứng tụt hậu, kém phát triển, lạc hậu về nhiều mặt, khốn khó như hiện nay. Thêm vào đó, nước Việt Nam có nguy cơ bị chủ nghĩa xâm lược bá quyền nước lớn Trung cộng nuốt trọn một ngày không xa (Theo văn bản của Hội nghị Thành Đô năm 1987 giữa CS Tàu và cộng sản Việt đã ký kết thỏa thuận đến ngày 5.7.2020 - còn 5 năm nữa - sẽ thành hiện thực - Việt Nam là một nước tự trị chư hầu nằm trong sự thống lãnh bá quyền của Trung Cộng như Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Quảng Tây...). Năm 2020 là giai đoạn I - Việt Nam là quốc gia tự trị. Hai mươi năm sau, giai đoạn II, đến ngày 5.7.2040 Việt Nam là quốc gia thuộc trị. Giai đoạn cuối cùng, cũng 20 năm, đến ngày 5.7.2060 nước Việt Nam trở thành một tỉnh của nước Tàu với tên mới của nước Việt Nam là Âu Lạc - tỉnh Âu Lạc (dựa theo tài liệu Wikileaks vừa tiết lộ). Nếu toàn dân Việt Nam dưới sự cai trị độc tôn ngu muội của chế độ toàn trị CSVN không nhất tề đứng lên lật đổ bạo quyền cộng sản để thoát khỏi sự kềm kẹp của đế chế cộng sản lưu manh thì Việt Nam sẽ bị Trung cộng đô hộ trở thành 1 tỉnh của Tàu, không thể tránh khỏi.

Trong chiến tranh Việt Nam, đặc biệt, thời điểm khốc liệt nhứt, 1965 - 1975, 10 năm đọ sức giữa 2 thế lực của thế giới dân chủ tự do và chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Cái mạnh và thế yếu của quân đồng minh trong cuộc chiến tự vệ tại Miền Nam Việt Nam.

1.THẾ GIỚI DÂN CHỦ TỰ DO


Dân tộc Việt Nam là một dân tộc kiên cường bất khuất có truyền thống lâu đời được truyền thừa từ các triều đại thời 18 đời Vua Hùng lập quốc cho đến các triều đại đế quyền: Đinh Lê Lý Trần Lê Nguyễn...

Cuộc chiến tranh quốc cộng do cộng sản quốc tế điều hợp chỉ huy, ủy nhiệm cho tên xung kích cộng sản Bắc Việt tiến chiếm xâm lược Miền Nam Việt Nam để nhuộm đỏ toàn thể nước Việt.
Miền Nam VN - một chánh thể cộng hòa tự do dân chủ như Hiệp Đình Đình Chiến Genève quy định, lấy vĩ tuyến 17 - sông Bến Hải - chia đôi Việt Nam thành 2 thể chế chính trị khác biệt, quốc gia và cộng sản. Vì vậy, thế giới tự do đã gởi quân hay hiệp sức, tham chiến khi cộng sản Bắc Việt (CSBV) xua quân xâm lược Miền Nam Việt Nam, cao điểm từ năm 1965 đến 30.4.1975. Ngoài Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, còn có các quân lực đồng minh:
- Hoa Kỳ - Đại Hàn (Nam Hàn) - Vương Quốc Thái Lan - Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan - Cộng Hòa Cao Miên - Vương Quốc Lào và các quốc gia hậu thuẩn, ủng hộ chính thể Việt Nam Cộng Hòa trên chính trường và các diễn đàn quốc tế:
- Phi Luật Tân - Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) - Gia Nã Đại - Tây Đức - Anh Quốc - Nước Hồi Giáo Iran - Tây Ban Nha... Đặc biệt, Phi Luật Tân cũng có gởi quân, dù số nhỏ chỉ tiếp giúp công tác dân sự vụ, y tế...phục vụ dân thường ở vùng lửa đạn chiến tranh. Đoàn quân của Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) cũng gởi quân không nhiều, không trực tiếp chiến đấu tại mặt trận và chỉ nhằm cố vấn, giúp QLVNCH xây dựng tổ chức ngành chíến tranh chính trị thêm vững mạnh. Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị của QLVNCH ra đời chính thức từ thời có Nội Các Chiến Tranh, năm 1965. Với kinh nghiệm xương máu, Trung Hoa Dân Quốc cũng muốn VNCH học cùng bài học với quân đội của họ Tưởng, ngành chiến tranh chính trị phải thật vững mạnh như tổ chức chính trị trong quân đội của cộng sản Tàu. Vì đây là cuộc chiến tranh tổng lực của toàn dân giữa 2 thế lực quốc gia dân chủ và chủ nghĩa cộng sản. Ngành chính trị phải đứng trên, lãnh đạo ngành chuyên quân sự - vũ lực như Trung Hoa Dân Quốc đang thực hiện, bảo vệ hữu hiệu đảo quốc Đài Loan. Nhưng, QLVNCH thực hiện theo kế sách cố vấn của quân đội Trung Hoa Dân Quốc cũng có Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị (như CSBV cũng có Tổng Cục CTCT và lãnh đạo toàn quân). Ngành chính trị trong QLVNCH luôn là thứ yếu, trong đơn vị chỉ đứng hàng phó nên có Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị trong nhiều cấp đơn vị. Từ cấp Đại Đội tác chiến đến cấp Tiểu Đoàn , Trung Đoàn... cũng có cấp Phó CTCT hay là Phụ Tá CTCT... Điều này gây nhiều suy nghĩ không vui cho các sĩ quan hiện dịch CTCT với học trình đại học 2 năm tại Trường Đại Học CTCT (Đà Lạt), tốt nghiệp với cấp bậc thiếu úy thực thụ, trong khi đó tốt nghiệp Thủ Đức ra trường với cấp bậc Chuẩn Úy, học ở quân trường (8-10 tháng), hơn 1 năm sau lên Thiếu Úy có thể giữ chức Đại Đội Trưởng. Khi có Thiếu Úy CTCT về đơn vị, chỉ làm phó, không bao giờ được làm trưởng dù có thời gian thụ huấn lâu hơn, cấp bậc thâm niên hơn... Có nhiều sĩ quan tốt nghiệp CTCT muốn làm trưởng (như Đại Đội Trưởng tác chiến) phải làm đơn ra khỏi ngành để được làm trưởng ở đơn vị thấp hoặc đơn vị cao khi lên cấp bậc... Vì vậy, ngành chiến tranh chính trị QLVNCH "yếu xìu", có phải đây là một trong nhiều yếu tố quan trọng khác đưa đến ngày 30.4.1975 tủi nhục.?

2. CỘNG SẢN QUỐC TẾ

Cộng sản Bắc Việt được thế giới cộng sản ủng hộ, yễm trợ tối đa mọi phương tiện chiến tranh kết thành một liên minh quân sự đoàn kết thống nhất:
- Trung Cộng - Liên sô - Cộng sản Bắc Việt - Việt Cộng (CSBV trá hình) - Khmer Rouge - Pathet Lào.
Cộng sản quốc tế luôn hậu thuẩn vững chắc cho cộng sản Bắc Việt trên chính trường và các diễn đàn quốc tế, ngay cả tại cơ quan Liên Hiệp Quốc:
- Bắc Hàn - Cuba - Tiệp Khắc - Bảo Gia Lợi - Đông Đức - Ba Lan...


(H: QLVNCH hành quân trực thăng vận)

Nếu so sánh dân số các nước của 2 khối, chúng ta sẽ thấy, khối cộng sản quốc tế có dân số, tính theo thời điểm năm 1965, có khoảng trên 1 tỷ rưỡi người. Trong khi đó, thế giới tự do, chỉ có Mỹ với dân số trên dưới 250 ngàn người và các nước của khối thế giới tự do trực tiếp ủng hộ chính thể VNCH của Miền Nam VN vào khoảng xấp xỉ 200 ngàn người nữa. Nếu tính chung dân số của thế giới tự do, chỉ bằng chưa tới 1/3 dân số của khối cộng sản quốc tế ủng hộ CSBV.
Theo tài liệu qua Wikipedia, các nhà phân tích thời sự chỉ ra 2 miền Nam Bắc Việt Nam có những lãnh tụ đứng mũi chịu sào (Commanders & Leaders) tiến hành chỉ huy.

3. CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO CHỈ HUY VIỆT NAM CỘNG HÒA

- Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hòa Ngô Đình Diệm
- Tổng Thống Đệ Nhị Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu
- Thủ Tướng (Phó Tổng Thống VNCH) Nguyễn Cao Kỳ
- Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên
- Trung Tướng Ngô Quang Trưởng (Tư Lệnh QĐ4 & QĐ1)

 

CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO CHỈ HUY HOA KỲ

- Tổng Thống Kennedy - Tổng Thống Johnson - Tổng Thống Nixon - Bộ Trưởng Quốc Phòng Mc Namara - Đại Tướng Westmoreland - Đại Tướng Abrams - Đại Tướng Weyand.
Qua tài liệu này, chúng ta thấy rằng cuộc chiến Việt Nam, phía quốc gia QLVNCH tiến hành cuộc chiến có tính cách phòng thủ, tự vệ chống lại sự xâm lược của CSBV và chịu "lép vế" đối với quân đội Mỹ về sự chỉ huy lãnh đạo chiến lược. Mỹ đã trải qua 3 Tổng Thống - 3 Đại Tướng Tổng Tư Lệnh chiến trường VN và 1 ông Bộ Trưởng Quốc Phòng mà tài liệu không đề cập đến vai trò lãnh đạo chính trị ngoại giao của con cáo già bán đứng VNCH cho cộng sản quốc tế: Ngoại Trưởng & Cố Vấn Chính Trị của Tổng Thống Mỹ là tiến sĩ Kissinger. Trong khi đó cuộc chiến VN chỉ có 2 Tổng Thống, 1 Phó Tổng Thống, 1 Đại Tướng, 1 Trung Tướng được người Mỹ xếp hạng cũng là cấp lãnh đạo chỉ huy của cuốc chiến Việt Nam (hiểu ngầm là đứng sau Hoa Kỳ).
Một trớ trêu, chính phủ VNCH và cố vấn Hoa Kỳ cùng đứng chung chiến tuyến chống cộng nhưng thường có ý kiến trái chìu, được gọi là "đồng sàng dị mộng". Từ thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm có chủ trương và phương cách chống cộng khác biệt với Hoa Kỳ nên Tổng Thống Diệm bị sát hại. Qua thời Đệ Nhị Cộng Hòa, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã kịch liệt chống đối cách hành xử của Mỹ, muốn có Hiệp Đình Ba Lê năm 1973 với bất cứ giá nào dù Hoa Kỳ phải bỏ rơi, hy sinh Miền Nam cho cộng sản Bắc Việt...

4. CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO CHỈ HUY CỘNG SẢN BẮC VIỆT

Tài liệu cũng chỉ cho thấy, các cấp lãnh đạo chỉ huy của cộng sản Bắc Việt hoàn toàn do các lãnh tụ cộng sản VN lãnh đạo chỉ huy không có cấp lãnh đạo chỉ huy công khai là người ngoại quốc (Trung Cộng - Nga Sô) và cộng sản Miền Nam (do CSBV trực tiếp chỉ huy) được gọi là Việt Cộng cũng là cộng sản Bắc Việt trá hình, đội lớp (lốt) từ nón cối (CSBV) sang nón tai bèo (VC):
- Chủ Tịch Đảng CSVN Hồ Chí Minh - Tổng Bí Thư Lê Duẫn - Đại Tướng Võ Nguyên Giáp - Đại Tướng Văn Tiến Dũng - Đại Tướng Lê Trọng Tấn - Thủ Tướng Phạm Văn Đồng.

5. CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO CHỈ HUY VIỆT CỘNG - MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM (MTGPMN)

Nhiều người Mỹ có quan niệm, suy nghĩ sai lầm, có lợi cho thế giới cộng sản tham chiến tại Việt Nam. Cũng là cán bộ cộng sản BV khi xâm nhập thành công vào lãnh thổ Miền Nam, được đổi màu đỏ thành màu hồng cũng là cộng sản, được gọi là Việt cộng, như là 2 thực thể cộng sản Bắc và cộng sản Nam khác nhau. Nhưng, đó chỉ là một thứ cùng loại cộng sản cũng đỏ lòm không nên phân biệt màu đỏ của miền Bắc và màu hồng của miền Nam. Vì vậy, Hội đàm Ba Lê có 2 phía mà 4 bên cùng tham gia hội nghị: VNCH - Mỹ và CSBV - VC. Nếu Mỹ muốn tăng trọng lượng thể diện cho chính thể VNCH thì Mỹ không nên có trong phái đoàn hòa đàm cũng như Việt cộng cũng sẽ không có trong cuộc hoà đàm này.

image


(H: MTGPMN giải phóng dân thường).

 

Như thế, cuộc hòa đàm có thể sẽ không đi đến kết quả có Hiệp Định Ba Lê năm 1973, gọi là tái lập hòa bình cho nước Việt Nam mà kỳ thực VNCH bị Mỹ bán đứng cho CSBV để đổi lấy tù binh Mỹ và rút quân trong "danh dự" như Mỹ rêu rao. Tài liệu này còn ghi rõ phía Việt Cộng "có công" trong cuộc chiến xâm lược VNCH:
- Đại Tướng Hoàng Văn Thái (từng là Tổng TMT/QĐ CSBV) - Thượng Tướng Trần Văn Trà - Tổng Bí Thư (đảng CSVN - những năm 1980) Nguyễn Văn Linh (ngụy danh trong tổ chức VC - MTGPMN là Mười Cúc) - Chủ Tịch MTGPMN - Luật sư Nguyễn Hữu Thọ...
Nhìn qua sân chơi chiến trường Việt Nam, Mỹ chủ động chỉ huy lãnh đạo phía thế giới tự do, thay vì chính thể VNCH phải là người đứng đầu mới có đầy đủ chính nghĩa như dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa với Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Sau cuộc đảo chánh - chính biến sát hại Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm ngày 2.11.1963, Mỹ dành quyền chủ động trong cuộc chiến Việt Nam cho nên khi có hòa đàm Ba Lê, Mỹ coi xem là thành phần trụ cột của thế giới tự do, bí mật, đi đêm với CSBV và gạt VNCH qua 1 bên được coi xem là thứ yếu, ngang hàng với VC - MTGPMN (VC là cánh tay nối dài của CSBV). Tuy nói có 2 thực thể CSBV & VC nhưng chúng cùng chung 1 lập trường , 1 kế sách còn VNCH và Hoa Kỳ cũng là 2 thực thể, nhưng 2 thực thể đồng sàng dị mộng, khác biệt lập trường, chính kiến. Mỹ muốn làm vừa lòng CSBV để lấy tù binh và rút quân - một hình thức bỏ của lấy người, mặc cho VNCH bị bức tử sụp đổ như ngày 30.4.1975.
Người Việt quốc gia, không chấp nhận chế độc tài toàn trị của chủ nghĩa cộng sản, rút ra được một bài học cay đắng thành người vong quốc như hiện nay, chúng ta ôn cố tri tân vậy.

KÝ SỰ - Trần Văn Ngà (Email: tiengvangusa@yahoo.com & Tel: 916.519.8961).

SOURCE:

https://www.baoquocdan.org/2026/10/nho-chien-truong-xua_01865003635.html

 

Nhớ ChiếnTrường Xưa - Bài 2 (KÝ SỰ - Trần Văn Ngà)

(H: Ảnh của Vietnam Magazine)


CHIẾN TRƯỜNG VIỆT NAM: NHỮNG CON SỐ BIẾT NÓI

Qua cuốn sách The Vietnam War - Day by Day của John S.Bowman do Barnes & Noble xuất bản năm 1989, như là tập nhựt ký hành quân tại các Trung Tâm Hành Quân của QLVNCH năm xưa, ghi chép tỉ mỉ các sự kiện quân sự xảy ra hàng ngày - trong cuộc chiến VietNam War...
Dù cuốn sách này, viết còn thiếu sót hay chưa thật trung thực, người Mỹ tô vẽ quân đội Mỹ luôn ngon lành và luôn chiến thắng, còn Quân đội Việt Nam Cộng Hòa thường "yếu xìu". Nhưng, với các sử liệu được ghi chép trong The Vietnam War - Day by Day cũng nói lên được những sự kiện lịch sử mà chúng ta cần suy gẫm, nghiên cứu. Đặc biệt là những con số biết nói trong cuộc chiến giữa ta và địch, đồng minh Hoa Kỳ cùng các đồng minh khác có tham chiến ở Việt Nam: quân số tham chiến, thương vong cũng như những chi phí quân sự, những phương tiện chiến tranh tại chiến trường VN mà Hoa Kỳ và Nga Sô & Trung Cộng sử dụng.

The Vietnam War - Day by Day của Bowman, trong phần đầu, trang 29, tác giả đã mô tả hay lý giải cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ - Cố Vấn Ngô Đình Nhu, Bowman viết như sau:
Major Duong Hieu Nghia and General Minh's body guard, captain Nhung, murder Diem and Nhu on their way for staff headquarters, at Minh's orders. President Kennedy is shocked...

(H: Tổng Thống Ngô Đình Diệm)


Tác giả Bowman đã nói rõ ai (người VN) ra lệnh giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Nhưng, cao hơn nữa, ai "cho phép ra lệnh" giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm, là một bí mật. Chúng ta có thể lý giải, một năm sau Tổng Thống Diệm bị sát hại dã man, quân Mỹ tự do đổ quân vào chiến trường Việt Nam từ ngày 8.3.1965 mà không còn bị ngăn trở như thời điểm Tổng Thống Diệm còn sanh tiền...
Sáng ngày 2.11.1963, khi đoàn xe, dưới sự chỉ huy của Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, đến đón hai anh em Tổng Thống từ nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn đưa về Bộ Tổng Tham Mưu - nơi làm việc (Staff headquarters) của các tướng lãnh đảo chánh ngày 1.11.1963. Hai anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm & Ngô Đình Nhu đã bị đại úy Nguyễn Văn Nhung giết chết dã man sáng sớm ngày 2.11.1963 ngay trong thiết vận xa M113 trước khi về đến Bộ Tổng Tham Mưu. Bowman còn nói rõ, khi hay tin Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị phe đảo chánh giết chết, Tổng Thống Mỹ Kennedy bị sốc. Không sốc sao được, trước đó 6 năm, cả thế giới đều biết rõ, ngày 8.5.1957, chính Tổng Thống siêu cường quốc Hoa Kỳ Eisenhower - một vị anh hùng của Đệ Nhị Thế Chiến - long trọng đón tiếp Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa với lễ nghi cao quý nhứt của Hoa Kỳ. Trải thảm đỏ đón tiếp Tổng Thống Ngô Đình Diệm tại cầu thang máy bay và đích thân Tổng Thống Eisenhower tiếp đón (tương tự Tổng Thống Barack Obama đón tiếp Đức Giáo Hoàng Francis tháng 9.2015 vừa qua).

(H: Ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu)


Trong cuộc công du Hoa Kỳ 11 ngày, từ ngày 8.5 đến 19.5.1957, khi Tổng Thống Hoa Kỳ Eisenhower đọc diễn văn chào mừng Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm, gọi Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một vị lãnh đạo lịch sử - siêu việt - kỳ diệu (A miracle man of Asia and (US) reaffirms support for his regime) của Việt Nam và của châu Á. Tổng Thống Hoa kỳ còn tái khẳng định cam kết hổ trợ (hay viện trợ) cho chế độ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm (trang 18 - The Vietnam War - Day by Day).
Trong phần cuối cuốn sách, Bowman còn công bố một số tài liệu bằng những con số về lực lượng Mỹ và đồng minh tham chiến ở chiến trường Việt Nam cũng như số thương vong của cả các phía và chi phí cho cả cuộc chiến quốc cộng...mà tác giả gọi là cái giá phải trả - The Price of War.
Đây là những con số kinh khủng cho 1 cuộc chiến đáng lý không xảy ra, nếu cộng sản Bắc Việt (CSBV) không mê muội, ngu xuẩn theo quan thầy Liên xô, Trung cộng nhập cảng cái lý thuyết công sản phi nhân, chuyên chính sắt máu và ác độc giết hại đồng bào ruột thịt Việt Nam.
Về phía lực lượng Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam, có đến 8,744,000 lượt chiến sĩ trong 4 quân chủng Hải Lục Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến (và Lực Lượng Đặc Biệt) đến chiến trường Việt Nam. Tất cả các chiến sĩ Mỹ tham chiến ở ViệtNam với 1 nhiệm kỳ là 1 năm, nhưng có rất nhiều chiến binh xin phục vụ thêm 1 hay nhiều năm nữa.
Thời cao điểm, chiến binh Hoa Kỳ chiến đấu trên chiến trường Việt Nam, từ năm 1965 đến năm 1970, có lúc lên gần 600 ngàn quân (536 ngàn quân Mỹ và các đồng minh khác trên dưới 80,000 quân).
Quân bộ chiến Mỹ đã ồ ạt đổ bộ lên bờ biển Đà Nẵng từ năm 1965 mà chẳng có một thỏa thuận cam kết quan trọng gì hết bằng văn bản giữa 2 chánh phủ Việt Mỹ.
Đơn vị Mỹ đầu tiên đổ bộ lên bờ biển Đà Nẵng vào ngày 8 tháng 3 năm 1965, trong đó có 2 tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến thuộc Sư Đoàn 3 TQLC (the first U.S. ground combat troops landing in Vietnam (March 8, 1965), when two battalions from the 3rd Marine Division arrive at Da Nang -Vietnam magazine - Vol.28 No.4 - December 2015). Nghĩa là nhân cơ hội nội tình Việt Nam lúc bấy giờ (1965) chưa ổn định sau cuộc chính biến - đảo chánh sát hại Tổng Thống Ngô Đình Diệm ngày 2.11.1963. Các phe nhóm tướng lãnh, tôn giáo, đảng phái tranh dành quyền lực, hết đảo chánh đến chỉnh lý, rồi đổi sang biểu dương lực lượng, lên đường xuống đường chống đối lẫn nhau. Thời điểm này, là cơ hội thuận lợi bằng vàng CSBV ồ ạt đưa thêm quân chính quy và chiến cụ tối tân xâm nhập vào Miền Nam VN. Vì vậy, cũng là cái lý cớ mà Mỹ tự do đưa các đại đơn vị bộ chiến đến Việt Nam tham chiến để đánh cộng sản "thay thế" hay trợ giúp VNCH.
Trước đây, dưới thời Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm, Tổng Thống Diệm không muốn hay cực lực chống đối Hoa Kỳ đưa đại quân Mỹ vào chiến trường Việt Nam. TT Diệm quan niệm CSBV phát động cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam phải để QLVNCH chủ động trực diện chiến đấu tự vệ mới có đầy đủ chính nghĩa và chủ quyền quốc gia. Mỹ chỉ đứng đàng sau chánh phủ VNCH yểm trợ phương tiện chiến tranh, viện trợ tài chánh, huấn luyện quân sự, giúp đỡ chính quyền VNCH thêm vững mạnh để tự vệ đánh trả lại quân CSBV. Nhưng, chánh sách Mỹ lúc bấy giờ, có lẽ bị thúc ép bởi giới tài phiệt nhằm tiêu thụ vũ khí, hay Mỹ muốn thử nghiệm chánh sách mới nên phải đưa quân Mỹ trực tiếp tham chiến tại chiến trường Việt Nam?.
Đến thời điểm, "sứ mệnh" hoàn thành khi Mỹ "đi đêm" bắt tay được với Trung cộng thì Mỹ tự ý rút quân và cắt viện trợ VNCH cho sớm chết, một hình thức biếu tặng cộng sản Tàu , cộng sản Việt...món quà Miền Nam Việt Nam sụp đổ, ngày 30.4.1975.

 

(H: Lính Dù Mỹ SĐ 101 Airborne tử trận tại chiến trường An Khê - 1965)


Quân Mỹ tham chiến ồ ạt ở Việt Nam cũng là lúc quân số Mỹ lên cao, tính từ tháng 8.1964 đến tháng 1.1973, trong 9 năm. Trước đó, từ năm 1955 và sau tháng 1.73, quân Mỹ vẫn có hiện diện giúp VNCH với 1 số quân nhỏ không trực tiếp chiến đấu.
Năm 1968 là năm có cuộc tổng công kích - tổng nổi dậy của tập đoàn cộng sản Bắc Việt trong dịp Tết Mậu Thân và tiếp theo các tháng sau đó, quân xâm lược cộng sản hoàn toàn thảm bại. Chúng nướng hàng trăm ngàn bộ đội, cán bộ và tất cả cơ sở "nằm vùng" bí mật ở miền Nam đã bị lộ diện phơi bày. Cái đau đớn nhứt của kế sách xâm lăng Miền Nam qua chiến dịch Tết Mậu Thân của Bộ Chánh Trị đảng cộng sản Việt Nam là không có nơi nào trên toàn quốc VNCH dân chúng nổi dậy tiếp tay với CSBV chống phá giựt sập chế độ VNCH. Như CSBV đã tổ chức học tập và các "đỉnh cao trí tuệ" cộng sản tiên đoán chuyện tất thắng phải xảy ra như vậy...
Hoa Kỳ và đồng minh đưa quân vào chiến trường Việt Nam càng nhiều thì số thương vong cũng càng lên cao.

LỰC LƯỢNG THAM CHIẾN CỦA VNCH & ĐỒNG MINH VÀ CỘNG SẢN
Dựa vào tài liệu trong Wikileaks mà cái mốc thời gian là năm 1968, được coi xem như là đỉnh cao của cuộc chiến Việt Nam với quân số của QLVNCH, Hoa Kỳ và các đồng minh lên đến con số chóng mặt 1,830,000 người, phân chia như sau:
- QLVNCH 850,000 (có lúc lên trên 1,1 triệu)
- Mỹ 536,000
Quân đồng minh trên dưới 80,000, gồm có:
- Đại Hàn 50,000
- Thái Lan 11,570
- Úc 7,672
- Phi Luật Tân 2,020
- Tân Tây Lan 552
* Lực lượng cộng sản tham chiến, không kể đến các đại đơn vị và các đơn vị địa phương của cộng sản tại miền Nam (đều do CSBV chỉ huy), được gọi cái tên khá mỹ miều là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (gồm những cán bịnh CS tập kết ra Bắc năm 1954, xâm nhập vào Miền Nam và những cán binh VC được cài đặt lại gọi là nằm vùng). Tài liệu Wikileaks không có con số thống kê những thành phần to lớn này, chỉ có các con số các đơn vị chính quy xâm nhập từ Miền Bắc VN cùng với các "đồng chí" cộng sản quốc tế khác trực tiếp tham chiến. Tổng cộng là 461,000:

- Cộng sản Bắc Việt 287,465 (quân chính huy CSBV tương đương với quân số chính quy trực tiếp tác chiến của QLVNCH).
- Trung cộng 170,000 (từ năm 1965 đến năm 1969)
- Liên xô 3,000
- Bắc Hàn từ 300 đến 600

SỐ THƯƠNG VONG CỦA TA VÀ ĐỊCH (2 PHÍA)
* Số chiến sĩ QLVNCH & Đồng Minh tử trận và bị thương:
- QLVNCH từ 220,357 đến 313,000 tử trận & 1,170,000 bị thương
* Số thương vong của của Quân đội Mỹ và đồng minh:
- Mỹ 58,307 chết & 303,644 bị thương, trong đó có 153,300 bị thương nặng.
- Đại Hàn 5,099 chết - 10,962 bị thương & 4 mất tích
- Úc 500 chết & 3,129 bị thương
- Thái Lan 351 chết & 1,358 bị thương
- Tân Tây Lan 37 chết & 187 bị thương
- Phi Luật Tân 9 chết.


Tổng số quân VNCH - Mỹ và đồng minh:
- Tử trận: từ 479,660 đến 807,303
- Bị thương: 1,490,000.
* Số thương vong của phe cộng sản:
- Cộng sản BV và VC chết từ 444,000 đến 1,100,000 (hay cao hơn nhiều mà CSBV còn
che giấu) & hơn 600,000 bị thương
- Trung cộng 1,100 chết & 4,200 bị thương
- Liên sô 16 chết


Tổng cộng khối cộng sản:
- CSBV & VC và các "đồng chí" Trung cộng & Liên sô chết từ 455,462 đến 1,170,462
và bị thương 608,000.
Đây là con số phỏng đoán của bên phiá Mỹ, cộng sản Bắc Việt hoàn toàn bưng bít giấu kín, có thể số thương vong của phía công sản tăng lên cao gấp đôi, ba...
Chú ý: Số bộ đội cs bị thương cao gấp nhiều lần hơn quân VNCH và đồng minh vì cộng quân hứng chịu nhiều trận mưa phi pháo kinh hoàng, nhưng chúng chỉ còn có khoảng 608,000 còn phe đồng minh bị thương lên đến con số 1,490,000 chiến binh. Lý do chính do cán binh VC hồi chánh cho biết, những thương binh cộng sản thường bị cấp chỉ huy bắn bỏ ngay mặt trận khi đơn vị rút chạy khỏi chiến trường.
Số thường dân Việt Nam bị chết vì chiến tranh từ 627,000 đến trên 2 triệu người. Nếu tính luôn số người chết của cả Đông Dương Việt Miên Lào, thường dân chết từ 847,000 đến hơn 2,500,000 người. Chưa kể, Khmer rouge của cộng sản Miên giết dã man dân của họ lên mấy triệu người sau năm 1975.
Tổn thất nhân mạng tính chung cho cả cuộc chiến Việt Nam, chết cả quân lẫn dân trên 3 triệu rưỡi người (có tài liệu nói 5 triệu rưỡi người) cũng chỉ vì CSBV xâm lăng và du nhập cái gọi là chủ thuyết cộng sản phi nhân vào miền Nam tự do.

CHI PHÍ CHO CUỘC CHIẾN VIỆT NAM

Theo tài liệu thống kê của Mỹ, suốt cuộc chiến tranh Việt Nam gần 10 năm chính thức và tính thêm 12 năm "bán chánh thức" (từ năm 1955 đến năm 1965 và từ năm 1973 đến 30.4.1975), Hoa Kỳ đã chi phí và viện trợ VNCH trên 2 lãnh vực quân sự và cả kinh tế nữa, lên đến con số 150 tỷ đô la. Trong khi đó Liên sô và Trung cộng chỉ tính riêng chi phí quân sự lên đến 2 tỷ đô la của Trung cộng và Nga sô $1 tỷ (con số này chưa chắc trung thực???).

 

image


Về phi cơ, quân Mỹ và QLVNCH bị thiệt hại 4,865 chiếc trực thăng, mỗi chiếc giá trên dưới $250,000, có 3,720 máy bay khác bị tiêu hủy. Một chiếc máy bay cánh quạt lớn hay các phản lực chiến đấu với giá thành cao hơn nhiều so với giá trực thăng.
Trên cả 3 chiến trường Đông Dương Việt Miên Lào, quân Mỹ sử dụng bom trên 8 triệu tấn, cao hơn gắp 4 lần số lượng (2,236,000 tấn) sử dụng trong Đệ Nhị Thế Chiến (1939 - 1945).
Chi phí về bom đạn của 1 phi vụ B52 trên $30,000 chưa kể xăng dầu và các thứ tổn phí khác. Về đạn đại bác các loại, tính trung bình 1 quả đạn thành tiền trên $100 mà quân Mỹ và QLVNCH sử dụng trung bình 1 ngày bắn 10 ngàn quả, trị giá trên $1 triệu...
Trên đây là những con số biết nói về một cuộc chiến phi lý, đáng lẽ không xảy ra nếu cộng sản quốc tế và CSVN không có ý đồ thôn tính cả nước Việt Nam và thế giới. Hơn nữa, cuộc chiến tranh dai dẳng tại Việt Nam giữa 2 đối cực quốc cộng cũng minh chứng rõ ràng thế giới dân chủ tự do và tập đoàn cộng sản quốc tế phải trả một cái giá quá đắt. Với sự đau thương mất mát to lớn về số người thương vong của 2 miền Nam Bắc Việt Nam (trên dưới 5 triệu), hơn 58 ngàn chiến sĩ Mỹ đã hy sinh cùng với nhiều ngàn chiến sĩ đồng minh khác của VNCH cũng đã chết trận. Và với chiến phí kinh hoàng hàng mấy trăm tỷ đô la thật là điên rồ, vô lý cũng vì đế quốc cộng sản quyết chiến chiếm cho bằng được Miền Nam Việt Nam để cào bằng với "xã hội chủ nghĩa" của Miền Bắc VN đang nghèo khổ cùng cực. Phi lý và phi lý - than ôi!!!


TẠP GHI Trần Văn Ngà

 SOURCE:

https://www.baoquocdan.org/2026/10/nho-chien-truong-xua.html

 

 

Nhớ ChiếnTrường Xưa - Bài 1 (KÝ SỰ - Trần Văn Ngà)

 

KÝ SỰ - Trần Văn Ngà

11-16-2015

"Nhớ chiến trường xưa" là loạt bài mới nhất của NT Trần Văn Ngà, tức Anh Phương Trần Văn Ngà, giám đốc Nhà xuất Bản Tiếng Vang USA, một cây bút quân đội nổi tiếng. "Chiến trường xưa" tức cuộc chiến tự vệ của Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa đã qua đi hơn 40 năm và qua nhiều thế hệ, trong đó thế hệ trực tiếp dấn thân đã dần dần ít đi với thời gian, từng người lần lượt ra đi. Những tài liệu sống và mới lạ về cuộc chiến ngày càng quý hiếm. Với cây bút điêu luyện, tác giả đã ghi lại thật chi tiết những gì đã trải qua hay chứng kiến còn tồn tại trong tâm thức qua loạt bài nhiều kỳ. Hội Quán Phi Dũng chân thành cám ơn NT Trần Văn Ngà gởi tặng và trân trọng giới thiệu cùng quý Chiến Hữu cùng Độc giả.

 

Bài 1

CHIẾN TRƯỜNG VIỆT NAM NHỮNG CON SỐ BIẾT NÓI



Nhân một chuyến về quê thăm gia đình, tôi có dịp đi thăm bà con ở nhiều tỉnh Miền Tây - Đồng bằng sông Cửu Long, "những kỷ niệm xưa còn gợi ta chi?!" (một câu thơ của một nhà thơ) như là những mũi kim đâm vào da thịt, làm cho tôi nhớ lại chiến trường xưa ở Miền Tây đã nuốt trọn những năm tháng trai trẻ tươi đẹp nhứt cúa tôi - từ năm 1963 đến năm 1970.
Thời oanh liệt, nay còn đâu?! Sau hơn nửa thế kỷ, bây giờ đã qua tuổi 80, kỷ niệm chiến trường xưa lại dồn dập quay về trong ký ức.
Những biến cố về quân sự khác khắp các Vùng Chiến Thuật cũng trở lại trong tâm thức, những con số tử vong giữa ta và địch (VC), đồng minh. Những con số biết nói về những năm tháng nghiệt ngã trong các trại tù khổ sai "cải tạo" của cộng sản VN đối với những người ngã ngựa, chỉ vì tội yêu nước, yêu dân chủ tự do mà phải trả một cái giá quá đắt cho một kiếp người bị thua cuộc.
Tôi miên man suy tư, nhớ nhiều, vội ghi lại để chúng ta những chiến sĩ già về tuổi tác mà sự nhận xét và suy nghĩ vẫn còn tinh anh và trung thực, ôn cố tri tân.

Tôi còn nhớ một câu nói của một nhà văn Pháp: Tout passe, tout casse, tout lasse, le souvenir seul est vivace (Mọi sự đều qua đi, đều gãy đổ, đều mệt chán, chỉ có kỷ niệm là sống mãi). Người chiến sĩ thứ thiệt lại còn chịu chơi, trong mọi hoàn cảnh “hoạn nạn tương cứu, sanh tử bất ly” nên thường nhớ thời quá khứ xa xưa.
Dấu ấn thời gian một thuở tung hoành, nay tuổi già xế bóng, ngoảnh mặt lại, chỉ còn trông thấy một màu xanh xanh đang nhô lên, ló dạng ở chân trờì hay ống khói cao ngất vẫy gọi...
Nhân ngày Cựu Chiến Binh (Veterans Day) 11 – 11 vừa qua, Mitch Stacy viết một bài, trong mục Remembering WW II veterans, hảng thông tấn Associated Press phổ biến, với tựa đề: U.S. is losing its WWII heroes và với phụ đề bên dưới: Nearly 1,000 vets die each day nationwide; within 15 years the “greatest generation” may be nearly gone. Những chiến sĩ tham dự Đại Chiến Thế Giới II, những năm 40 “thế hệ vĩ đại nhất” của Hoa Kỳ (và nhiều nước khác) đang lụi tàn và sẽ mất hút trong vòng 15 năm nữa.
Hiện nay, mỗi ngày có khoảng 1,000 ngườì cựu chiến binh thời Đệ Nhị Thế Chiến (39 – 45), chỉ riêng ở Hoa Kỳ, đã ra đi.
Hoa Kỳ đã tham chiến ở hải ngoại gọi là Foreign Wars, rất nhiều lần, từ đệ nhất, đệ nhị thế chiến, chiến tranh Hàn Quốc, Việt Nam và gần đây chiến tranh vùng Vịnh, Kuwait, Afghanistan, Iraq... chỉ có cuộc chiến tranh VN có thể nói theo cách nói của các nhà ngoại giao “không thắng không thua”. Nhưng, chúng ta biết, Mỹ chỉ có ôm đầu máu “bỏ của chạy lấy người” và nướng miền Nam Việt Nam vào lò thiêu của tập đoàn CS quốc tế. Còn những cuộc tham chiến khác, Hoa Kỳ đều chiến thắng và vẻ vang nhất là trận chiến thế giới lần thứ hai nên người Mỹ gọi thế hệ tham chiến này là Greatest Generation.
Những chiến binh đệ nhất thế chiến (1914 – 1918), nay nếu còn sống cũng trên trăm tuổi, chẳng còn mấy người. Những chiến binh thời đệ nhị thế chiến, trẻ nhất,18 tuổi vào năm 1945, đến năm 2014, gần trọn 70 năm sau, đến nay cũng đã ngoài 88 tuổi. Chiến tranh Hàn Quốc (50 – 53) và cuộc chiến Việt Nam (65 – 75 ), nói đúng hơn, HK đã bắt đầu tham chiến ở Việt Nam từ năm 1955, nay các cựu chiến binh Mỹ cũng già nua, tàn tạ, xếp hàng chờ lệnh "lên đường" sang qua biên giới khác.
Các thế hệ chiến binh trong các cuộc chiến gần đây, chừng một hai thập niên nữa cũng đến thời điểm giã từ vũ khí, về với cát bụi.
Nghĩ cho cùng, kẻ chiến thắng, người thua cuộc, trước sau gì cũng đến ngày đi về “Cõi Vô Cùng” (tên một cuốn truyện của nhà văn nữ, đang ở Houston - Texas, Nguyên Nhung).
Nhiều vì sao đã lần lượt rơi rụng dần của 2 miền Nam Bắc VN, những vị tướng trẻ nhất trong QLVNCH còn sống khỏe hiện nay, cũng đã qua tuổi 80 như Chuẩn Tướng Mạch Văn Trưởng (cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh - đang sinh sống tại Houston - Texas), Thiếu Tướng Lê Minh Đảo (cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh - định cư ở Connecticut), cuộc đời của 2 Tướng quân này cũng đang lụi tàn dần theo năm tháng.
Thế hệ thanh niên trong cuộc chiến ý thức hệ quốc cộng - hay còn gọi là cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn đẫm máu nhất trong lịch sử Việt Nam rồi cũng tan biến vào cõi hư vô và lúc ấy chế độ cộng sản vào cõi hư không, đất nước Việt Nam sẽ hồi sanh, an bình ấm no thạnh phúc, không còn hận thù và chắc chắn dân giàu nước mạnh, người viết cầu mong như thế!.

QUÂN SỐ QLVNCH & TÙ CẢI TẠO
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 , tất cả quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đều trở thành đối tượng của “chế độ tù lao động cải tạo”, một chính sách do cộng sản Việt Nam du nhập từ Trung cộng và được tôi luyện từ miền Tây Bá Lợi Á của "thiên đường" Nga sô viết.


Tài liệu của Viện Bảo Tàng Việt Nam tại San Jose ghi nhận số lượng tù cải tạo như sau:
* Năm 1975 QLVNCH có 980.000 quân nhân gồm 1/10 cấp Tá và cấp Tướng tổng cộng 9.600, cấp úy là 80.000, còn lại là hạ sỹ quan và binh sĩ.

Thời cao điểm nhứt, quân số Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lên trên 1 triệu 100 ngàn chiến sĩ, được xếp hạng tư (quân số cộng sản Bắc Việt cũng được xếp hạng như vậy) trên thế giới, chỉ đứng sau Trung Cộng, Liên Xô và Hoa Kỳ.
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, gồm có chủ lực quân và địa phương quân & nghĩa quân, với: 11 Sư đoàn Bộ Binh (SĐ: 1 - 2 - 3 - 5 - 7 - 9 - 18 - 21 - 22 - 23 - 25), và đơn vị tổng trừ bị cấp trung ương và cấp Quân Khu hay còn gọi Vùng chiến thuật:

- 1 Sư đoàn Dù

- 1 Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, nhiều Liên đoàn Biệt Động Quân (quân số trên 2 Sư Đoàn và những tháng cuối cùng trước ngày chính thể VNCH sụp đổ 30.4.75, Biệt Động Quân đã thành lập xong 2 Sư Đoàn đặt thuộc dụng Biệt Khu Thủ Đô. Một Sư đoàn BB hay lực lượng tổng trừ bị, ước tính có quân số khả dụng trên dưới 10 ngàn người)

- Quân chủng Không Quân và Hải Quân cũng lập thành sư đoàn: 6 Sư Đoàn Không Quân và Hải Quân cũng có 5 (hay 4) Vùng Duyên Hải và 2 Vùng Sông Ngòi (Vùng III và Vùng IV Sông Ngòi) cũng kể tương đương như Sư đoàn, nhưng quân số ít hơn nhiều so với Sư đoàn BB - Dù - TQLC hay BĐQ...
Còn các binh chủng có quân số cũng khá nhiều như Thiết Giáp, Pháo Binh, Công Binh, Quân Y, Quân Cảnh, Truyền Tin, Nữ Quân Nhân và các binh chủng, binh sở, chuyên môn...Tính chung chủ lực quân, cộng lại cũng sẽ đạt được con số 1/3 hay cao hơn 1 chút của 1 triệu 100 ngàn quân - từ 300 đến 400 ngàn chiến sĩ. Tất cả số quân còn lại là Địa Phương Quân và Nghĩa Quân - những chiến sĩ diện địa - chiếm gần 2/3 quân số của toàn thể QLVNCH, một lực lương hứng chịu nhiều thiếu thốn, gian khổ, trực tiếp đối đầu thường trực với cán binh VC ở điạ phương.

- Cấp Tướng tại ngũ đến 30 tháng 4 năm 75 là 112; bị tù cải tạo: 32 vị, 80 tướng lãnh di tản và còn vài vị tướng không bị bắt giam trong các đợt đi tù cải tạo tập thể.
- Ðại tá có 600, bị tù 366.
- Trung tá có 2.500, bị tù 1.700.
- Thiếu tá có 6.500, bị tù 5.500.
- Cấp úy có 80.000, bị tù 72.000. Trong số này chưa kể đến các thành viên đảng phái và các cấp chính quyền, cảnh sát, cán bộ...

Ðây là con số ghi nhận được từ phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, không có tài liệu của các trại giam phía cộng sản để đối chiếu; và không có con số chính xác tù cải tạo bị chết trong khi giam cầm, một con số khá lớn.
Ghi chú: Tất cả danh từ “học tập cải tạo” thực sự đều là tù chính trị bị khổ sai, không có bản án.

NHỮNG NGƯỜI TÙ KHÔNG ÁN
Không kể thành phần bị bắt trước 1975, nhưng không được trao trả tù binh sau 1973, khi có Hiệp Định Paris, thời gian tù “cải tạo” kéo dài từ 1 năm đến 17 năm. Từ 1975 đến 1992. 

Năm 1988 gần như là năm cuối cùng, hầu hết tù được trả tự do. 

Suốt 4 năm tiếp theo - đến năm 1992 - chỉ còn lại 120 tù bị giam tại Z30D gọi là Trại Thủ Ðức (Rừng Lá) Hàm Tân. Trong số này có 9 vị tướng lãnh. Ðại tá Phạm Duy Khang khóa 6 Võ bị, làm thư ký Trại còn nhớ tên từng người. 4 Thiếu tướng: Lê Minh Ðảo, Ðỗ kế Giai, Trần Bá Di, Hoàng Lạc, và 5 Chuẩn Tướng: Lê Văn Thân, Nguyễn Ngọc Sang, Mạch Văn Trường, Trần Quang Khôi, Phạm Duy Tất.
Cấp Ðại tá có 22 người, 20 thiếu tá và các thành viên cảnh sát, đảng phái...

 

image

Cảnh 1 trại tù cải tạo ở miền Nam hay miền Trung, miền Bắc, 

cũng đều rập khuôn như trong hình).


Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai tả lại quang cảnh khi tất cả mọi người được thả hết chỉ còn mấy ông Tướng. Trại Hàm Tân hoàn toàn vắng lặng. Cộng sản cho xe chở 5 ông tướng về chuyến cuối cùng. Vì đường đi thuận tiện, xe về Saigon, chạy đến nhà các vị Tướng, hết 1 vòng, Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai (hiện đang định cư tại tiểu bang Texas) là người về sau cùng. Ông bước xuống xe, tâm trạng thực băn khoăn khó tả, tù vừa tròn 17 năm. Những ông tướng khác về trước ông chừng nửa giờ nên Tướng Giai là người sau cùng, theo ý nghĩa tiêu biểu của lịch sử.
Hỏi chuyện ngục tù, ông Giai nhắc lại câu danh ngôn của người xưa: “Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng“ (Tướng quân thua trận, không thể nói mạnh).
Lại hỏi rằng, suốt thời kỳ 17 năm có thấy các nhà báo cộng sản hay thế giới tự do vào quay phim hay chụp hình để bây giờ có thể đi tìm dấu tích của những năm dài “cải tạo”; vị Chỉ Huy Trưởng binh chủng Biệt Động Quân cho biết, dường như chẳng thấy gì.

NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN:
1975 : Hàng trăm ngàn quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa bị cộng sản tập trung “cải tạo” (bị bắt bỏ tù).
1980 : Sau 5 năm tranh đấu, dư luận Mỹ và thế giới áp lực Hà Nội phải thả tù .
1982 : Tại Pháp, Phạm văn Ðồng, Thủ tướng Hà Nội thách thức sẽ trả tự do nếu Mỹ nhận hết tù cải tạo.
1982 : Ngoại trưởng Mỹ điều trần tại Quốc Hội cho biết sẽ nhận 10.000 tù chính trị Việt Nam (tù cải tạo) và gia đình.
1985 : Lần đầu tiên , cơ quan IRCC,Inc. tại San Jose (của cựu Đại Tá Vũ Văn Lộc) nhận được 1 video tape do phóng viên tự do Hoa Kỳ quay tại Việt Nam. Trong đó có ba đoạn hết sức đặc biệt:
1) Phi công Việt Nam Cộng Hòa, vừa được tự do
2) Vợ con tù thăm nuôi tại Hàm Tân;
3) Ban văn nghệ của Trại Hàm Tân;
4) Phỏng vấn 1 người tù cụt chân cấp Thiếu tá.
1985 : Hoa Kỳ và Việt Nam gặp nhau tại New York bàn về việc thả tù cải tạo.
1987 : Lần đầu tiên nhà báo Thụy Ðiển được vào làm phóng sự tại Trại Nam Hà, tiếp theo Hà Nội bắt đầu chuyển thêm tù cải tạo vào Nam và trả tự do từng đợt .
Tháng 7 năm 1988 : Phái đoàn Hoa Kỳ Funseth đi Hà nội họp về việc nhận tù cải tạo.
Tháng 8 năm 1988 : Hà Nội đơn phương loan báo (làm eo, đưa thêm yêu sách) đình chỉ việc thảo luận.
Tháng 1 năm 1989 : Lần đầu tiên Hồng Thập Tự Hoa Kỳ được phép gửi quà cho tù “cải tạo”.
Một chiến dịch gửi quà rầm rộ được phát động tại hải ngoại .
Tháng 4 năm 1989 : Phái đoàn Quốc hội Cali về Việt Nam thảo luận về đề tài xã hội và tù “cải tạo”. Có các thành phần tỵ nạn Việt Nam cùng đi. Ðại diện IRCC trách nhiệm tiểu ban tù chính trị. Phái đoàn yêu cầu trả tự do cho ông Võ Ðại Tôn. Phỏng vấn thu thanh nhà văn Quân Đội Phan Nhật Nam vừa được tự do tại Saigon.
Tháng 6 tháng 1989 : Thượng viện Mỹ tuyên bố yêu cầu Hà Nội trả tự do cho tù “cải tạo” và Hoa Kỳ sẽ đón nhận .
Tháng 7 năm 1989 : Phái đoàn Hoa kỳ về Việt Nam ký thỏa ước nhận định cư tù “cải tạo” (với nhiều điều kiện, giới hạn...)
Tháng 8 tháng 1989 : Báo San Jose Mercury News gửi phóng viên về Saigon làm một loạt bài phỏng vấn “tù cải tạo” sắp ra đi có gia đình chờ đợi tại San Jose.
Tháng 1 tháng 1990 : 15 gia đình H.01 đi chuyến đầu tiên đến phi trường San Francisco, có 4 gia đình về Bắc Cali. 11 gia đình chuyển tiếp đến các tiểu bang khác và Quận Cam.
Tháng 8 năm1992 : Ðại tá Phạm Duy Khang, sau 17 năm tù đã trở về đợt sau cùng với 120 người. Ông đến San Jose và dự lễ thượng kỳ ngày 8/8/1993 .


Sau đó các đợt HO bổ túc và chương trình đoàn tụ gia đình HO lần lượt tiếp diễn suốt 15 năm từ 1994 đến 2009. Cho đến tháng 4 năm 2009 vẫn còn gia đình thuộc diện “tù cải tạo” đến Hoa Kỳ.

KÝ SỰ - Trần Văn Ngà

(Email: tiengvangusa@yahoo.com - Tel: 916.519.8961)

11-20-2015

SOURCE:

https://www.baoquocdan.org/2026/10/nho-chientruong-xua.html

 

Thursday, October 1, 2026

Bốn cuộc triệt thoái lịch sử khi Miền Nam đang hấp hối (Anh Phương Trần Văn Ngà)

 

Anh Phương Trần Văn Ngà - Cựu SVSQ/TB/ Thủ Đức K.13

Sacramento ngày 31.01.2007 (edit lại 2.4.2021)

. 

Từ đầu tháng 3 năm 1975, khi chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không được Quốc Hội Hoa Kỳ chấp thuận viện trợ 300 triệu Mỹ kim (rất nhỏ, so với tiền Việt Kiều gởi về VN ngày nay, tính bằng tỷ đô la). Và cũng từ ngày giờ đó, miền Nam Việt Nam đang đi vào cảnh hấp hối, không còn cơ may xoay đổi được tình thế. Cuộc chiến đang hồi ngặt nghèo, bi thảm về phía Việt Nam Cộng Hòa, có thêm bàn tay lông lá của Nixon và Kissinger đã bóp nghẹt cổ, dứt sữa Việt Nam Cộng Hòa, họ đã đi đêm dàn xếp với Tàu cộng và Việt công, kể cả Quốc Hội cũng a dua cúp 300 triệu Mỹ kim để sớm đưa VNCH tiêu diêu tắt thở.

Với Hiệp Định Balê quái ác ký ngày 21 tháng 1 năm 1973 cộng với cái gọi là Việt Nam Hóa Chiến Tranh để Hoa Kỳ rút quân hay nói cách khác “Bỏ Của Chạy Lấy Người” mà người Mỹ khoác cho danh từ hão: rút quân trong danh dự. Như vậy, Hoa Kỳ bỏ mặc chính phủ, dân chúng và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từng là đồng minh thân thiết với họ làm tiền đồn chống cộng cho thế giới tự do… đang bị khan kiệt tiếp liệu về quân dụng, kinh tế…để đương đầu với CSBV được tập đòan cộng sản quốc tế trang bị, tiếp tế đầy đủ và tiến quân công khai vào xâm chiếm miền Nam.

Cuộc tấn công của cộng sản Bắc Việt đánh chiếm Ban Mê Thuột vào ngày 10 tháng 3 năm 1975, mở màn cho sự sụp đổ hoàn toàn cả Quân Khu II do Thiếu Tướng Phạm Văn Phú làm Tư Lệnh.

Trong vòng 45 ngày từ ngày 16 tháng 3 đến ngày 29 tháng 4 năm 1975 với 4 cuộc triệt thoái, rút quân lịch sử đầy bi thương đã đưa đẩy miền Nam Việt Nam vào con đường bại vong về tay cộng sản Bắc Việt (CSBV), đánh dấu bằng ngày Quôc Hận 30.4.1975.

 

1 - CUỘC TRIỆT THOÁI THỨ NHẤT

Sau cuộc họp lịch sử ngày 14.3.75 tại Cam Ranh với đầy đủ các vị đầu não ở trung ương: Tổng Thống, Thủ Tướng, Tổng Tham Mưu Trưởng, Phụ Tá Quân Sự… Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu quyết định, chỉ thị Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đang là Tư Lệnh Quân Đoàn II và Quân Khu II, rút bỏ Cao Nguyên gọi là tái phối trí lực lượng ở vùng duyên hải để tương lai có thể tái chiếm lại Ban Mê Thuột, Kontum và Pleiku…Nay, Quân Khu II có trách nhiệm củng cố bảo toàn vùng duyên hải đông dân và dễ chuyển vận tiếp

 

Thiếu Tướng Phạm Văn Phú

Kế hoạch cuộc triệt thoái Kontum, Pleiku được vị Tư Lệnh chiến trường soạn thảo một cách vội vàng. Hai ngày sau cuộc họp tại Cam Ranh, ngày 16.3.1975, cuộc rút quân bắt đầu và chọn đường liên tỉnh lộ số 7 nhỏ hẹp, nối Pleiku và Phú Yên, sử dụng yếu tố bất ngờ như Thiếu Tướng Phạm Văn Phú suy tính, thay vì dùng quốc lộ 19 nối liền Pleiku với Qui Nhơn vì đã bị CSBV chiếm đóng nhiều nơi nên ông Tướng e ngại? Cuộc triệt thoái này đã bị thất bại ngay từ đầu vì lệnh của cấp trên và ngay cấp thừa hành cũng vấp phải sự thiếu chuẩn bị, yếu kém, không ước tính được tình hình diễn tiến cuộc rút quân quy mô nhất từ trước đến lúc bấy giờ của nền đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa miền Nam Việt Nam. Kế hoạch triệt thoái của Tướng Phạm Văn Phú đã tan vỡ từ khi bị quân CSBV chận đánh ở đèo Tuna, phía đông Phú Bổn. Cả Quân Khu II bị thất thủ kéo theo Quân Khu I và sau đó cả miền Nam Việt Nam. (Trách Nhiệm Làm Mất Miền Nam VN - Lữ Giang - Những Biến Cố Cần Được Ghi Laị do Hội HO Sacramento xuất bản năm 1996). Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh chiến trường Quân Khu II và là cấp chỉ huy trực tiếp trách nhiệm cuộc triệt thoái bi thảm nhất trong 4 cuộc triệt thoái lịch sử của chính thể Việt Nam Cộng Hòa, trước ngày mất nước 30.4.1975.

Sinh vi tướng, tử vi thần, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã can đảm chọn cái chết hào hùng, tuẫn tiết tại Sài Gòn khi đoàn quân xâm lược của CSBV tiến chiếm Thủ Đô VNCH ngày 30.4.1975

 

CUỘC TRIỆT THOÁI THỨ HAI :

Ngày 13.3.1975, trong một cuộc họp tại Sài Gòn , Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cho Trung Tướng Ngô Quang Trưởng Tư Lệnh Quân Đoàn I & Quân Khu I biết sẽ rút hết SĐ Dù và SĐ Thủy Quân Lục Chiến về làm lực lượng tổng trừ bị và ra lệnh cho Tướng Trưởng rút quân về phòng thủ vùng duyên hải từ Huế tới Chu Lai.

Ngày 19.3.1975, QLVNCH rút khỏi Quảng Trị, về lập phòng tuyến ở Mỹ Chánh, giữa Huế và Quảng Trị. Tướng Trưởng vào Sài Gòn gặp Tổng Thống Thiệu trình bày kế hoạch giữ ba “đầu cầu” (enclaves) Huế, Đà Nẵng và Chu Lai, Tổng Thống Thiệu chấp thuận (Trích trong bài Trách Nhiệm Làm Mất Miền Nam của Lữ Giang, sách dẫn thượng). Nhưng, tối 20.3.1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lại ra lệnh rút thêm Lữ Đoàn 2 Dù về Sài Gòn. Như vậy, QK1 chỉ còn Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến đang tăng cường, Tướng Trưởng bối rối trước sự việc quân cộng sản Bắc Việt càng ngày gây áp lực nặng nề và 4 Sư đoàn trừ bị CSBV đang sẵn sàng vượt sông Bến Hải kết hợp với các đơn vị của CSBV đã có sẵn ở Quân Khu I, tiến chiếm toàn bộ QK I.

 

Trung Tướng Ngô Quang Trưởng

 

Ngày 21.3.1975, CSBV đã cắt đứt Quốc Lộ 1 ở Truồi, giữa Huế và Đà Nẵng và đóng chốt ở đèo Phú Gia. Đường bộ giữa Huế và Đà Nẵng đã bị quân CS cắt đứt.

Ngày 25.3.1975, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng quyết định cho các đơn vị TQLC rút ra cửa Thuận An. Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Biệt Động Quân và Địa Phương Quân được lệnh xuống cửa Tư Hiền đề tàu Hài Quân đến đón. Hai đoàn quân rút lui đã tan rả tại 2 cửa biển này, về tới Đà Nẵng chỉ còn 1 phần 3 quân số. Sự rút lui của Sư Đoàn 2 Bộ Binh tương đối thành công hơn vì chỉ phải di chuyển từ Chu Lai ra bờ biển để được tàu Hải Quân chở ra Cú Lao Ré ở gần đó và Sư Đoàn 2 về tới Bình Tuy, quân số cùng chỉ còn một nửa.

Ngày 27.3.1975, tình hình Đà Nẵng vô cùng nghiêm trọng, CSBV pháo kích liên tục gây bất ổn làm cho nhân tâm thêm xao xuyến. Hơn nữa, dân chủng từ Quảng Trị, Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quãng Tín… đổ về đây quá đông. Khi tình hình Đà Nẵng không còn kiểm soát được, Tướng Trưởng ra lệnh bỏ Đà Nẵng. Ngày 28.3.1975, tàu Hải Quân đến Đà Nẵng đón binh sĩ và dân chúng, ưu tiên cho TQLC, đưa vào Nha Trang, Cam Ranh, Vũng Tàu…

Ngày 29.3.1975, Quân Khu I hoàn toàn thất thủ.

Trung Tướng Ngô Quang Trưởng là vị Tư Lệnh Chiến Trường Quân Khu I đổ lỗi chỉ thị, lệnh lạc của trung ương tiền hậu bất nhất làm cho Tướng Quân lừng danh nhất trong QLVNCH đành phải bó tay để cho cuộc “di tản chiến thuật” của QK I chìm trong cảnh hổn loạn. Có nguồn tin khác nói rằng chuyện rút quân Quân Khu I hổn loạn, phần lớn các Tư Lệnh chiến trường đầu óc quá căng thẳng, rối mù nên không kiểm soát được lệnh của mình, và nhận lệnh của cấp trên không thi hành được…

Sư triệt thoái không thành công và Tướng Trưởng khi về tới Saìgòn bị khiển trách, làm bản tường trình, bị Trung Tướng Trần Văn Đôn Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng ra lệnh bắt giam (ngay sau đó Tướng Trưởng được thả ra?) cùng với nhiều vị tướng, tá khác chờ xét xử sau…

Mặc dù vậy, các nhà quân sự ngoại quốc, đặc biệt là nhiều tướng lãnh Hoa Kỳ thông cảm và chấp nhận sự viêc triệt thoái toàn bộ lực lượng của QK I dù có nhiều cảnh hỗn loạn trên đường rút quân. Nhưng, họ luôn chiêm ngưỡng và kính trọng Tướng Quân Ngô Quang Trưởng, uy danh của ông vẫn sừng sững oai hùng trên trang quân sử VNCH và chiếm trọn sự kính mến của nhiều người và đặc biệt của các chiến sĩ gần gũi và trực tiếp dưới quyền ông.

Ngày 22.1.2007, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đã “giã từ vũ khí” tại Tiểu Bang Virginia, ông ra đi để lại bao sự tiếc thương cho nhiều người.

Trên tờ nhật báo Sacramento Bee, mục Metro, của Thủ Phủ Sacramento, phát hành ngày chủ nhật 28.1.07 đã đăng lại nguyên văn một bài viết của tờ nhật báo có thể nói là tờ báo uy tín và lớn nhất Hoa Kỳ, Washington Post, về một vị Tướng tài giỏi của QLVNCH đã từ trần tại Mỹ.

Từ năm 1968, trong trận tổng công kích và nổi dậy của VC vào dịp Tết Mậu Thân và cuộc chiến đẫm máu nhất trong quân sử QLVNCH mùa hè lửa đỏ 1972, Tướng Quân (từ của nhà văn Phan Nhật Nam) Ngô Quang Trưởng đã chứng tỏ khả năng điều binh của nhà quân sự nổi danh nhất của QLVNCH mà Đại Tướng Creighton Abrams, Tư Lệnh các lưc lượng Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam, khẳng định khả năng cầm quân của Tướng Trưởng sẽ chỉ huy được cả sư đoàn chính quy của Quân Lực Hoa Kỳ.

Đại Tướng Norman Schwarzkopf, một tướng tài của Quân Lực Hoa Mỹ, từng là Tư Lệnh Chiến Trường Bão Táp Sa Mạc ở Iraq vào thập niên 90. Trong cuốn hồi ký autobiography xuất bản 1992, Đại Tướng Schwarzkopf đã viết về Tướng Quân Ngô Quang Trưởng: Mr. Truong was “the most brilliant tactical commander I’d ever known”, Tướng Schwarzkopf khi tham chiến ở Việt Nam với cấp Tá và từng làm Cố Vấn Trưởng cho Đại Tá Ngô Quang Trưởng, mối thâm tình đó và ông biết rõ khả năng điều động, chỉ huy đơn vị và sự liêm khiết của Tướng Trưởng, Tướng Schwarkkopf nói rằng ông đã học hỏi nhiều nơi Tướng Trưởng, áp dụng trong cuộc chiến ở Iraq và ông đã chiến thắng.

Trong hàng mấy mươi vị tướng lãnh chỉ huy các đại đơn vị trong QLVNCH, chỉ có Tướng Quân Ngô Quang Trưởng là vị tướng được nhiều tướng lãnh Hoa Kỳ không tiếc lời khen ngợi và kính trọng.

 

CUỘC TRIỆT THOÁI THỨ BA:

Sau khi Quân Khu II và Quân Khu I triệt thoái không thành công, các đơn vị tinh nhuệ của QLVNCH nay bị tan tác và quân số khiển dụng của 2 quân khu này không còn được một nửa, khí thế chiến đấu giảm sút đáng kể. Quân của các đại đơn vị CSBV tự do di chuyển từ vùng vĩ tuyến 17, vùng cao nguyên và con đường mòn Hồ Chí Minh rộn rịp chuyển quân vào Quân Khu III như chỗ không người. Nhiều sư đoàn chính quy của CSBV sau khi “bôn tập” về vùng Xuân Lộc - Long Khánh, CSBV quyết “nhổ” mặt trận này để chúng nhanh chóng tiến quân thẳng về Thủ Đô Sài Gòn . Những trận mưa pháo ngày đêm của cộng quân rót vào Xuân Lộc, tỉnh lỵ Long Khánh, nơi có sự hiện diện của Sư Đoàn 18 Bộ Binh dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo. Nơi đây là nơi thử sức cuối cùng giữa các đơn vị thiện chiến của CSBV và SĐ 18 BB cùng với các đơn BĐQ, ĐPQ, NQ, Thiết Giáp, Pháo Binh… và các đơn vị tăng phái đã diễn ra một cuộc chiến dữ dội nhất của tháng tư đen năm 1975. Vinh dự thay cho đơn vị thiện chiến SĐ 18 BB và các đơn vị tăng phái, chận đứng được làn sóng tiến công vũ bão của CSBV về điểm hẹn là Thủ Đô Sài Gòn.

 

Thiếu Tướng Lê Minh Đảo

 

Mặt trận Xuân Lộc – Long Khánh là nơi chôn vùi hàng chục ngàn chiến binh CSBV và danh dự của QLVNCH đã được khôi phục mà nhiều ký giả chiến trường ngoại quốc và Việt Nam không tiếc lời ca ngợi. Lúc bấy giờ, từ vĩ tuyến 17 xuyên qua lãnh thổ QK I và QK II, đã nằm dưới quyền kiểm soát của CSBV, chưa kể hậu phương lớn của toàn thể miền Bắc như bỏ ngõ, CSBV đưa hết quân vào cưỡng chiếm miền Nam cho bằng được mà địa danh Xuân Lộc - Long Khánh là cửa ngõ dẫn về Thủ Đô Sài Gòn.

Một con mãnh hổ SĐ 18 BB không thể đương cự được vơí một tập đoàn hồ ly vây quanh. Vì vậy, dưới quyền chỉ huy của Tướng Lê Minh Đảo đã mở một cuộc triệt thoái thành công thoát hiểm trước nanh vuốt của hàng chục sư đoàn quân CSBV định nuốt trửng đơn vị tinh nhuệ này.

Tuy nhiên, SĐ 18 BB vừa thoát cảnh bị bao vây tiêu diệt, con đường bộ lui binh ngắn, tương đối an toàn về hướng Biên Hoà và Sài Gòn. Cuối cùng cả đơn vị này cùng số phận chung của các đơn vị QLVNCH đều phải vứt bỏ vũ khí, quân trang, quân dụng và tan hàng, rã ngũ khi Đại Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng CSBV sáng ngày bi thảm 30.4.1975.

Người chỉ huy cuộc lui binh cùng đi bộ với các đơn vị của ông an toàn về tới Sài Gòn, nhưng. Sau đó, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo đã phải trả một cái giá đắt trong lao tù cộng sản, ông đã gở lịch, đến cuốn thứ 17, đã được định cư ở Hoa Kỳ theo diện HO. tại Tiểu Bang Connecticut và Thiếu Đảo qua đời năm 2020 tại tiểu bang Connecticut.

 

CUỘC TRIỆT THOÁI THỨ TƯ

 

Đô Đốc Chung Tấn Cang

 

Cuộc Triệt Thoái Tuyệt Vời - Đô Đốc Chung Tấn Cang

Thủ Đô Sài Gòn trong những giờ phút hấp hối, khi các đại đơn vị CSBV áp sát tất cả bốn hướng đông, tây, nam, bắc, sau khi Sư Đoàn 18 Bộ Binh và Bộ Tư Lệnh QĐ III cùng các đơn vị trực thuộc di tản về Sài Gòn từ đêm 28.4.1975. Xung quanh Thủ Đô Sài Gòn hàng chục sư đoàn CSBV hiện diện, những trận mưa pháo vào phi trường Tân Sơn Nhất, nội thành Sài Gòn và các đơn vị đồn trú trong lãnh thổ của Biệt Khu Thủ Đô. Saì Gòn náo loạn, chính phủ mới của Đại Tướng Dương Văn Minh không biết phải làm gì để đối phó với tình hình nguy kịch này. Lúc bấy giờ nhiều phái đoàn của cái goị là thành phần thứ ba, các Nghị Sĩ, Dân Biểu gọi là thiên tả, đối lập hay xìu xìu ển ển, thường chống chính quyền và kể cả phái đoàn chánh thức của chánh phủ Dương Văn Minh – Vũ Văn Mẫu, chạy tới chạy lui vào Camp Davis trong khu vực phi trường Tân Sơn Nhất để xin yết kiến xin xỏ VC tìm giải pháp. Nhưng, VC trên đà chiến thắng, họ không “quởn” nói chuyện với các phái đoàn đó

Trong bối cảnh, các đơn vị lớn nhỏ QLVNCH đang hiện diện trong nội thành Sài Gòn và vùng ngoại ô, không nhận được lệnh lạc gì của cấp trên, Bộ Tổng Tham Mưu hay của chính phủ mới. Các đơn vị trưởng còn bám trụ ở đơn vị, không vọt đi ra đường biển hay đi bằng phi cơ thì tùy nghi quyết định lấy số phận của đơn vị mình, tiếp tục chiến đấu đến viên đạn cuối cùng hay bỏ đơn vị về nhà hay tìm cách vượt thoát ra biển Đông…

Ngày 29.4.75 Sài Gòn hổn loạn, cảnh người chen chúc đến Toà Đại Sứ Mỹ để hy vọng được lên trực thẳng di tản hay người ta đổ xô xuống các bến tàu tìm chỗ để ra đi khỏi Sài Gòn đang ngột ngạt dẫy chết.

Trong khi đó, Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang Tư Lệnh Hải Quân, ông mới về đảm nhận chức vụ này lần thứ 2 chỉ được một thời gian rất ngắn. Với tầm nhìn của vị tướng lãnh sáng suốt, sau khi 2 Quân Khu II & I thất thủ, Đô Đốc đã tự hoạch định một phương cách bảo toàn lực lượng Hải Quân để có` thế ứng phó với cơn dầu sôi lửa bỏng đang ầm ập lao tới.

Với tư cách là Tư Lệnh Hải Quân mới, ông thường xuyên mở những cuộc họp tham mưu và những cuộc họp lớn có tất cả các đơn vị trưởng các Hạm Đội, Vùng Duyên Hải, Vùng Sông Ngòi… đang có mặt tại 4 Quân Khu để Đô Đốc nắm chắc những gì Hải Quân sẽ sử dụng hiệu quả khi có đột biến, cần tới.

Qua bài viết của Hải Quân Đại Tá Nguyễn Bá Trang được phổ biến trên các diễn đàn sau khi Đô Đốc Chung Tấn Cang qua đời ngày 24 tháng 1 năm 2007 tại Thành Phố Bakersfield - California, hưởng thọ 82 tuổi. Chúng ta đọc không khỏi ngậm ngùi thương cảm cho một vị Tướng Hải Quân kỳ tài vì có quá ít thời gian phục vụ ngành chuyên môn của mình. Đô Đốc Chung Tấn Cang dù phục vụ trong Hải Quân, thời gian chỉ có 5% cuộc đời binh nghiệp của ông, như Hải Quân Đại Tá Nguyễn Bá Trang viết, nhưng, Tướng Cang biểu tỏ thiên tài của ông về sự chỉ huy, điều động các đơn vị Hải Quân dưới quyền.

Đô Đốc Cang tâm sự với người viết bài này, cách đây 6 năm khi đến thăm ông vì tình thầy trò trong Quân Đội, ông nói rằng rất tiếc, Bộ Tư Lệnh Hải Quân đặt tại một địa điểm nhỏ hẹp tại Thủ Đô Sài Gòn, cách biển khá xa mà Hải Quân là quân chủng cần vẫy vùng hoạt động hữu hiệu ở vùng sông nước, biển cả. Lúc bấy giờ, tôi (ĐĐ Cang) có ý nghĩ, cấp lãnh đạo quốc gia chưa có tầm nhìn đúng về khả năng tinh nhuệ của quân chủng Hải Quân, họ phải hoạt động ở trên mặt nước, khi đưa Hải Quân lên bờ là chặt tay chặt chân họ. Đô Đốc Cang có ý ám chỉ về số phận của ông, là một Phó Đô Đốc (tướng lãnh 3 sao), cấp bậc cao nhất trong Quân Chủng Hải Quân lại phải xa rời màu nước xanh biên biếc của biển cả, ông không được phục vu hay chỉ huy ngành chuyên môn của mình một thời gian quá dài.

Cuộc chính biến 1.11.1963, Tư Lệnh Hảỉ Quân, Hải Quân Đại Tá Hồ Tấn Quyền bị giết tàn nhẫn và Quân Chủng Hải Quân là đại đơn vị không được quân đảo chánh tin dùng vì sợ còn trung thành với chế độ của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm? Đại Tá Tư Lệnh Hải Quân Hồ Tấn Quyền?

Vật đội sao dời, có một thời gian ngắn, sau cuộc đảo chánh 1.11.1963, Đô Đốc Chung Tấn Cang cũng được về làm Tư Lệnh Hải Quân và sau đó ông bị cho “lên bờ”, ông đi lang thang trên bộ, giữ những chức vụ như Chỉ Huy Trưởng Trường Chỉ Huy Tham Mưu ở tận cao nguyên Đà Lạt, cách xa Sài Gòn và xa biển cả mênh mông. Sau đó, Đô Đốc Cang được đổi về làm Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô kiêm Tổng Trấn Sài Gòn - Gia Định vài năm mà người viết bài này được may mắn làm việc dưới quyền của một vị Tướng mà tôi kính trọng nhất trong cuộc đời binh nghiệp 13 năm của mình. Đô Đốc Chung Tấn Cang đã chứng tỏ, đặc biệt là cựu chiến sĩ QLVNCH, rất hãnh diện có một vị tướng tài, có tầm nhìn chiến thuật, chiến lược sâu rộng và Đô Đốc Cang xứng đáng là vị tướng tài nhất trong QLVNCH về phương diện hành quân triệt thoái thành công và tuyệt vời nhất

Mới đây, trước ngày Trung Tướng Nguyễn Văn Minh tức Tướng Minh Đờn ra đi ngày 24.11.06 ở Thành Phố San Diego - California. Khoảng hơn một tuần trước đó, tôi có dịp đi viếng thăm ông thầy cũ, Đô Đốc Chung Tấn Cang sau nhiều lần đi bệnh viện về, dưỡng bệnh tại nhà riêng ở Thành Phố Bakersfield, một thành phố buồn hiu so với miền Nam Cali. Trong một ngôi nhà khiêm nhường, cũ kỹ tuổi thọ của ngôi nhà cũng 3, 4 chục năm. Phu nhân của Đô Đốc tuổi cũng vào hàng gần 80, bà còn khỏe mạnh chuẩn bị sẵn bữa ăn trưa để đãi khách. Chúng tôi, gồm có cựu Trung Tướng Đặng Văn Quang, bà Đặng Văn Quang, ông Đỗ Bá Ngữ, một người bạn đồng môn cùng học Trường Hàng Hải Thương Thuyền vơí Đô Đốc Cang và cùng khóa với cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vào thập niên 40. Hai ông cụ lại đồng tuế tuổi Bính Dần, năm 1926, và đồng cư ngụ ở Sài Gòn cạnh nhau hàng mấy chục năm dài và vợ chồng tôi là đàn em của các cụ. Trước đây, hễ mỗi lần vợ chồng chúng tôi đến thăm viếng Đô Đốc Cang, phu nhân của ông đều mời chúng tôi ăn cơm, đặc trưng của người gốc miền Nam chân chất, thành thật và hiếu khách. “Khách đến nhà không gà thì vịt”, đó là bản chất thật của người dân Nam Bộ

Lần này gặp bạn xưa và gặp ông bà Tướng Quang, Đô Đốc Chung Tấn Cang mời khách uống rượu vang mà thứ rượu qúy ông cất giữ lâu ngày. Gặp bạn xưa là cụ Đỗ Bá Ngữ, ông Đô Đốc vui gọi xưng mầy tao giữa hai ông cụ già 82 tuổi, tôi nghe sao dễ thương quá như thấm vào tim mình và sẽ có thể viết về tình thâm giao của hai cụ cao niên này trong một bài khác.

Trở lại cuộc triệt thoái của Quân Chủng Hải Quân, tất cả hạm đội được Đô Đốc Chung Tấn Cang ra lệnh “Lên Neo”, nghĩa là sẵn sàng tham dự cuộc hành quân triệt thoái vĩ đại nhất của Quân Chủng Hải Quân và điểm hẹn là đảo Côn Sơn và Phú Quốc. Lệnh hành quân triệt thoái lịch sử được ban ra vào ngày N tức là sáng sớm ngày 29 tháng 4 năm 1975 trong khi chính phủ Dương Văn Minh – Vũ Văn Mẫu hết có thuốc chửa, không ngăn chận được sự tiến quân như vũ bão, bôn tập, của CSBV về cưỡng chiếm Thủ Đô Sài Gòn. Lúc này, Đô Đốc Chung Tấn Cang không nhận được bất cứ một lệnh lạc gì của chính phủ của Bộ Tổng Tham Mưu. Tướng Quân Chung Tấn Cang chứng tỏ khả năng nhìn xa hiểu rộng của một vị tướng tài trong QLVNCH, ông đã có kế hoạch sẵn sàng chờ lệnh là thi hành, nhưng lệnh không có thì không lẽ ông bó tay chờ CSBV đến tiếp thu Bộ Tư Lệnh Hải Quân mà Tướng Quân đang ngồi ở đó. Đô Đốc Chung Tấn Cang tự ý ra lệnh cho Hạm Đội cuả Quân Chủng Hải Quân Lên Neo và tất cả những chiến hạm, tàu tuần duyên, các giang đoàn còn khiển dụng nhổ neo ra khơi theo lệnh của ông để khi được lệnh của thượng cấp là quay tàu về giải cứu Sài Gòn. (Xin quý độc giả tìm đọc bài viết Một Thoáng Suy Tư của Hải Quân Đại Tá Nguyễn Bá Trang, nguyên Tư Lệnh đơn vị Đặc Nhiệm Thủy Bộ 211 để biết rõ về cuộc hành quân triệt thoái này). Đô Đốc Cang tâm sự với tôi, đàn em gần gũi thân tình với ông, đến bây giờ, nghĩa là 6 năm trước đây, ông tự cho mình là một quân nhân vô kỷ luật, không chờ lệnh thượng cấp, tự ý ban lệnh hành quân triệt thoái cho các đơn vị dưới quyền. Đô Đốc vừa nói đến đó. bỗng ông nở một cười tươi dù mình vô kỷ luật nhưng đã cứu được hơn 40 chục ngàn nhân mạng được các chiến hạm Hải Quân VNCH chở ra khơi và đến bến bờ tự do an toàn. Đô Đốc Cang sau khi uống thêm một ngụm rượu vang nữa, ông cười tươi hơn, ông nhìn tôi nói thật tình với lòng ông: “Chú nghĩ coi, tôi đã bảo toàn được hầu hết các chiến hạm, tàu thuyền của Hải Quân QLVNCH, đưa đi an toàn, nếu trị giá bằng đô la Mỹ, các tàu chiến cũng trị giá hàng triệu triệu, người Mỹ để vậy hoặc tân trang lại viện trợ cho các nước khác mà họ cũng tính ra bằng đô la. Nếu người Mỹ biết điều, họ thưởng cho chúng tôi, Hải Quân VNCH, chừng vài trăm ngàn hay vài chục ngàn đô mỗi chiếc tàu chiến , chắc ngày nay cuộc sống của tôi và anh em Hải Quân không phải cơ cực làm việc lao động tầm thường như tôi đã từng trải qua”. Những lời nói chân tình của Đô Đốc Chung Tấn Cang, dù nói chơi hay nói thật cũng làm cho chúng ta suy nghĩ. Chính phủ Mỹ lúc bấy giờ không muốn cho nhiều người VN di tản ồ ạt sang Hoa Kỳ, họ muốn bỏ lại tất cả tài sản và QLVNCH cũng phải làm như vậy.

Một hay hai ngày trước cuộc triệt thoái 29.4.75, một Phụ Tá Bộ Quốc Phòng Mỹ cùng đi với một người Mỹ nói tiếng Việt rất giỏi đến thuyết phục Đô Đốc ra đi bằng chiếc trực thăng họ đã lái tới đậu ở BTL Hải Quân. Nếu Đô Đốc Chung Tấn Cang chỉ biết mình mà không lo đến sự an toàn sinh mạng của các chiến sĩ dưới quyền và đồng bào, thân nhân của Hải Quân, lên trực thăng cùng với gia đình bay ra khơi, an toàn cho gia đình ông, dễ dàng quá. Nếu thế, chúng ta không có gì để phải nói nhiều vế Đô Đốc Chung Tấn Cang. Chính Đô Đốc là người anh hùng bảo toàn được tài sản quý giá hàng triệu triệu Mỹ kim của quốc gia VNCH và của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, không để lọt vào tay địch. Quan trọng hơn, có trên 40 ngàn người VN đã được di tản an toàn đên bến bờ tự do, biết bao gia đình nhờ có cuộc ra đi của vị chỉ huy “vô kỷ luật” chưa có lệnh của thượng cấp mà tự ý cho lệnh Lên Neo mà ngày nay nhiều gia đình ăn nên làm ra.

Chúng ta hãy hiệp ý cầu nguyện hương linh Gioan Baotixita Chung Tấn Cang sớm về hưởng Nhan Thánh Chúa nơi cõi Thiên Đàng.

Kết Luận:

Qua 4 cuộc triệt thoái, lui binh, cuộc rút quân của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo có tầm vóc nhỏ hơn 3 cuộc triệt thoái khác ở cấp Quân Đoàn và Quân Đoàn cộng mà cuộc triệt thoái do Đô Đốc Chung Tấn Cang điều động chỉ huy là cuộc triệt thoái thành công và tuyệt vời nhất.

Về danh tiếng, Tướng Quân Ngô Quang Trưởng là người chỉ huy tài giỏi và thanh liêm, ai cũng nghe danh và khi Tướng Quân Trưởng ra đi có biết bao người thương tiếc và kể cả báo chí Mỹ cũng viết bài, đưa tin, chia buồn và vinh danh ông… Tôi không có may mắn làm việc dưới quyền ông nên không dám có bài viết về Tướng Quân Ngô Quang Trưởng.

Còn Đô Đốc Chung Tấn Cang, Tướng Quân sống âm thầm tại một nơi đìu hiu, ít người Việt. Cuộc sống của Đô Đốc cũng lặng lẽ như bản tính của ông. Suốt cuộc đời binh nghiệp, ông tỏ ra một cấp huy tài giỏi, thanh liêm, mẫu mực và đến khi ông ra đi cũng lặng lẽ, ít có người viết về ông. May mắn có Hải Quân Đại Tá Nguyễn Bá Trang đã viết một bài có thể gây sự chú ý, tôi chưa dám nói là làm chấn động tâm tư tình cảm của nhiều người vì biết được sự thật về Đô Đốc Chung Tấn Cang (người có cặp nạng trước ngực là cố Đô Đốc Chung Tấn Cang và cạnh bên là cụ Đỗ Bá Ngữ - nay cũng qua đời tại Sacramento).

Người viết bài này sẽ còn cố gắng viết tiếp 2 bài nữa nói đến một vị chỉ huy Hải Quân kiệt xuất của QLVNCH. Tôi sẽ kể lại những sự việc mà tôi có dịp làm việc dưới quyền và gần gũi Đô Đốc tại Biệt Khu Thủ Đô. Một bài khác, tôi sẽ viết Tình Bạn của hai người bạn già giữa Đô Đốc Chung Tấn Cang và cụ Đỗ Bá Ngữ gặp lại nhau sau hàng mấy chục năm xa vắng.

Cụ Đỗ Bá Ngữ đang sống âm thầm tại một một nhà dưỡng lão - nursing home ở đường 24, gần nhà hàng Rice Bowl - góc đường Florin và 24 Sacramento.

Cụ Đỗ Bá Ngữ, tuổi Bính Dần sanh năm 1926 ở tỉnh Mỹ Tho, cụ là em ruột của cố Giáo sư Đỗ Bá Khê - nguyên Khoa Trưởng Phân Khoa Khoa Học Đại Học Cộng Đồng American River College - ARC. Trước năm 1975, Giáo Sư Đỗ Bá Khê giữ chức vụ Thứ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục.

Sacramento ngày 31.01.2007 (edit lại 2.4.2021)

Anh Phương Trần Văn Ngà - Cựu SVSQ/TB/ Thủ Đức K.13

SOURCE:

https://www.baoquocdan.org/2026/10/bon-cuoc-triet-thoai-lich-su-khi-mien.html