Wednesday, July 1, 2026

Sài Gòn 50 năm đổi tên: Những gì đã mất và những gì trường tồn

 

BBC News

30/6/2026

“...Theo nhiều nhà nghiên cứu, điều này xuất phát từ việc Sài Gòn không chỉ là một địa danh hành chính mà đã trở thành một biểu tượng văn hóa.

PGS-TS Hoàng Dũng nói với BBC rằng cái tên Sài Gòn đã tồn tại mấy trăm năm, vừa là vấn đề lịch sử, vừa là vấn đề văn hóa, tâm lí xã hội.

"Cái tên Sài Gòn khó mà gạch bỏ đi được và nó cũng chẳng có tội lỗi gì mà gạch bỏ. Cho nên người dân và ngay cả chính quyền người ta dùng từ Sài Gòn cũng là bình thường," ông nêu quan điểm.

Đối với nhà thơ Hoàng Hưng, người đã sống ở thành phố này gần 50 năm, cái tên TP HCM không cho ông những cảm xúc như tên Sài Gòn, "có lẽ vì nó chỉ mang ý nghĩa chính trị, hành chính đơn thuần, không gợi lên cái gì tha thiết, gắn bó"”

 

.com/img/a/

Nguồn hình ảnh,Getty Images

Chụp lại hình ảnh,Quang cảnh chợ Bến Thành vào ngày 20/1/1970

Được đăng30 tháng 6 2026

Thời gian đọc: 14 phút

 

Nửa thế kỷ trước, Sài Gòn mất tên, nhường chỗ cho Thành phố Hồ Chí Minh sau một quyết định của "bên thắng cuộc". Qua bao vật đổi sao dời, tên gọi Sài Gòn vẫn có sức sống mãnh liệt đời sống.

Trong một số phát biểu vào năm 2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nói rằng Sài Gòn trước năm 1975 như một "Hòn ngọc Viễn Đông", đồng thời nhận xét vào những năm 1960, Sài Gòn là điểm sáng và "Singapore cũng không bằng".

Những phát biểu này thu hút sự chú ý không chỉ vì góc nhìn về lịch sử phát triển đô thị, mà còn bởi việc tên gọi "Sài Gòn" được nhắc đến một cách tự nhiên trong diễn ngôn chính thức của người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đã 50 năm kể từ khi Quốc hội Việt Nam quyết định đổi tên Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1976, nhưng cái tên Sài Gòn vẫn hiện diện mạnh mẽ trong đời sống – trong trao đổi hằng ngày, trong văn chương, âm nhạc, thương hiệu và trong ký ức của nhiều thế hệ.

"Đi vô Sài Gòn", "lên Sài Gòn", "mưa Sài Gòn", "người Sài Gòn", hay thậm chí câu rao bán hàng: "Bánh mì Sài Gòn, đặc ruột thơm bơ, bánh mì Sài Gòn, một ngàn một ổ..." không chỉ thân thuộc tại miền Nam mà còn lan ra tới tận miền Bắc.

Đó vẫn là cách nói quen thuộc của hàng triệu người dân trong và ngoài thành phố, kể cả những người sinh ra nhiều năm sau khi Sài Gòn đã chính thức mang tên Thành phố Hồ Chí Minh.

Hai tiếng ấy vẫn xuất hiện trên biển hiệu quán xá, trong tên doanh nghiệp, bài hát, tác phẩm văn chương và trong cách người dân gọi thành phố hằng ngày.

Nhưng ngoài cái tên vẫn được gìn giữ qua nhiều thế hệ, thành phố đã thay đổi ra sao sau nửa thế kỷ?

 

.com/img/a/

Nguồn hình ảnh,Getty Images

Chụp lại hình ảnh,Những cô gái trẻ chạy xe Honda trên đường phố Sài Gòn năm 1972

 

Sài Gòn xưa: 'như ở nước ngoài'

Điều khiến thành phố này nổi bật trong nửa đầu thế kỷ 20 là một đời sống đô thị sôi động, một nền giáo dục phát triển và bầu không khí cởi mở hiếm có trong khu vực.

Trao đổi với BBC News Tiếng Việt, nhà thơ, dịch giả Hoàng Hưng, một người "Hà Nội phố" đã chuyển vào Sài Gòn sinh sống từ năm 1977, cho biết trước khi thành phố đổi tên, ông đã có dịp vào Sài Gòn thăm mẹ và họ hàng di cư từ năm 1954.

"Còn nhớ khi từ trên xe đò đi từ Đà Nẵng vào bước chân xuống đường Trần Quang Khải, tôi đã choáng ngợp tưởng như mình ra nước ngoài!

"Cảm nhận của tôi về Sài Gòn sau vài tháng sống ở đó thật rõ ràng: một thành phố đầy sức sống, với sự năng động của nền kinh tế thị trường, hàng hóa hết sức phong phú, đa dạng...

"Chỉ một gói mì tôm lúc đó cũng bao nhiêu ý nghĩa," ông chia sẻ.

Là trung tâm hành chính của Nam Kỳ thuộc Pháp, Sài Gòn đã sớm trở thành nơi hội tụ của nhiều nền văn hóa.

Người Việt, người Hoa, người Pháp, người Ấn và nhiều cộng đồng khác cùng sinh sống, tạo nên một đô thị đa sắc màu với những khu phố, chợ, nhà hàng, quán cà phê và nhà hát hoạt động nhộn nhịp.

.com/img/a/

Nguồn hình ảnh,Getty Images

Chụp lại hình ảnh,Đường phố Sài Gòn năm 1970

 

Những tờ báo như Gia Định Báo – tờ báo quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam, Nông Cổ Mín Đàm, Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Pháp Thời Báo, Thần Chung, hay sau này là Chính LuậnSài Gòn Mới, Tự Do... trở thành diễn đàn của giới học giả, nhà văn, nhà báo và công chúng đô thị.

Trên các sạp báo ở trung tâm Sài Gòn, người dân có thể dễ dàng tìm thấy cả báo tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp lẫn tiếng Hoa, thậm chí cả tạp chí Playboy, cho thấy mức độ đa dạng về ngôn ngữ, văn hóa và đời sống công cộng mà ít đô thị nào trong khu vực khi đó có được.

Sài Gòn cũng là một trong những trung tâm giáo dục quan trọng nhất của Đông Dương. Nơi đây tập trung nhiều trường học danh tiếng như Petrus Ký, Gia Long, Marie Curie hay Viện Đại học Sài Gòn, đào tạo nhiều thế hệ trí thức, nhà văn, nhà báo, chính khách và doanh nhân.

Sinh viên từ khắp miền Nam và cả Campuchia, Lào tìm đến Sài Gòn để học tập, góp phần biến thành phố thành trung tâm tri thức của khu vực.

Cùng với sự phát triển của giáo dục là một đời sống văn hóa phong phú. Sài Gòn có các nhà hát, rạp chiếu bóng, phòng hòa nhạc, hiệu sách, thư viện và các tụ điểm giải trí hiện đại. Âm nhạc, điện ảnh, cải lương và sau này là tân nhạc đều phát triển mạnh, tạo nên một không gian văn hóa năng động mà nhiều đô thị trong khu vực khi đó chưa có được.

Tinh thần cởi mở và khả năng tiếp nhận cái mới là một nét đặc trưng của Sài Gòn. Đây là nơi những xu hướng thời trang, âm nhạc, ẩm thực và lối sống mới thường xuất hiện đầu tiên trước khi lan ra các địa phương khác. Chính sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại đã tạo nên bản sắc riêng của thành phố.

Nhà thơ Hoàng Hưng, tác giả của những tập thơ tạo tiếng vang như Ngựa biển, Người đi tìm mặt, Hành trình,... cho biết ông rất ấn tượng với một nền giáo dục tốt đẹp, học sinh lễ phép kỷ luật ở Sài Gòn khi đó.

Bên cạnh đó, ông còn đề cập đến kho sách khổng lồ, đa dạng của một nền văn học, nghiên cứu và dịch thuật cởi mở, nhiều chiều, khai thác văn hóa dân tộc, đặc biệt là Phật giáo, và cập nhật kiến thức quốc tế; những tình khúc du dương, lãng mạn, đặc biệt là ca khúc Trịnh Công Sơn đầy ám ảnh da diết.

"Gần đây, có nghe Tổng Bí thư Tô Lâm khen ngợi Sài Gòn những năm 1960 còn văn minh hiện đại hơn Singapore cùng thời gian, thì thấy cái tên Sài Gòn quả là gắn với một cuộc sống tốt đẹp đáng nhớ," nhà thơ Hoàng Hưng nói.

 


'Lịch sử sang trang'

Sau khi Sài Gòn sụp đổ năm 1975, chính quyền cộng sản đổi tên thành phố bằng tên lãnh tụ Hồ Chí Minh, thay nhiều tên đường cũ bằng tên các nhà cách mạng, đảng viên cộng sản.

Vào ngày 2/7/1976, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa 6, Quốc hội đã thông qua nghị quyết chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn - Gia Định là Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong phần mở đầu của nghị quyết, Quốc hội nêu rằng nhân dân Sài Gòn - Gia Định "luôn luôn tỏ lòng kính yêu vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và tha thiết với việc thành phố mang tên Người", đồng thời khẳng định thành phố "xứng đáng được vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại".

Vào thời điểm đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Dũng đang học đại học ở Huế.

"Những người đọc văn chương chữ nghĩa như chúng tôi thì chỉ thấy một điểm thôi: là lịch sử sang trang," ông nhớ lại.

Theo nhà ngôn ngữ học này, việc đổi tên Sài Gòn không phải là sáng kiến của Quốc hội năm 1976, mà thật ra là một ý định đã được nung nấu từ lâu.

Ông Dũng chỉ ra rằng trong bài thơ Ta đi tới ra đời vào năm 1954, nhà thơ Tố Hữu đã viết: Ai đi Nam bộ/ Tiền Giang, Hậu Giang/ Ai vô thành phố/ Hồ Chí Minh/ Rực rỡ tên vàng...

"Người chiến thắng thì họ làm cái gì tùy họ, nếu có ý kiến gì chắc là rất dễ dàng bị gán mác phản động. Còn những người có suy nghĩ xa hơn thì chưa chắc họ đồng ý, nhưng tôi không tin có ai đủ can đảm mở miệng can ngăn.

"Thành ra cái tên Thành phố Hồ Chí Minh được thông qua một cách nhẹ nhàng. Tâm lý xã hội người thì phấn khởi, người thì cay đắng, nhưng tất cả đều phải chấp nhận," ông nói với BBC.

 

Sài Gòn thành tên phường

Vào giữa thập niên 1970, khu vực Sài Gòn - Gia Định có khoảng hơn ba triệu dân. Đây là trung tâm kinh tế, thương mại và hành chính lớn nhất miền Nam Việt Nam, với hệ thống cảng, ngân hàng, trường đại học và các khu dân cư được hình thành qua nhiều thời kỳ.

Không gian đô thị khi ấy chủ yếu tập trung ở khu vực các quận (cũ) nội thành như Quận 1, Quận 3, Quận 5, Phú Nhuận và một phần Bình Thạnh. Xa hơn là những vùng ngoại ô với ruộng lúa, kênh rạch và làng xóm.

Ngày nay, sau nhiều lần mở rộng địa giới và đặc biệt sau khi sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu vào năm 2025, TP HCM đã trở thành siêu đô thị với diện tích và dân số lớn nhất Việt Nam (khoảng 6.772 km² và dân số hơn 14 triệu người).

Sài Gòn hiện nay là tên của một phường ở trung tâm thành phố, được thành lập trên cơ sở sáp nhập toàn bộ phường Bến Nghé cùng một phần phường Đa Kao và phường Nguyễn Thái Bình của Quận 1 cũ.

Với diện tích hơn 3km2 và dân số hơn 47.000 người, phường này được xem là trái tim của thành phố, nơi tập trung nhiều công trình mang tính biểu tượng như phố đi bộ Nguyễn Huệ, Nhà hát Thành phố, trụ sở UBND TP HCM, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Trung tâm và bờ sông Sài Gòn.

Theo PGS-TS Hoàng Dũng, người đã cùng gia đình chuyển vào TP HCM sinh sống từ hơn 30 năm trước, Sài Gòn bắt đầu chỉ là khu vực trung tâm.

"Ví dụ như tôi ở Gò Vấp, mà nói là mai 'lên Sài Gòn', thì có nghĩa chính là lên khu trung tâm đó. Bây giờ gọi là phường Sài Gòn thì là phù hợp," ông nhận xét.

Trong khi đó, nhà thơ Hoàng Hưng nói rằng, với cá nhân ông "thôi thì phải chấp nhận" việc cái tên Sài Gòn được lưu giữ tới tư cách là một phường để nó không mất hẳn tên về mặt hành chính.

"Thực tình, tôi mong muốn TP HCM là một đại đô thị, bao gồm: thành phố Sài Gòn (hoặc Sài Gòn - Gia Định), thành phố Vũng Tàu, thành Thủ Dầu Một. Được thế là đẹp nhất," ông chia sẻ quan điểm.

.com/img/a/

Nguồn hình ảnh,Getty Images

Chụp lại hình ảnh,Quang cảnh TP HCM vào tháng 4/2025

 

TP HCM qua những thăng trầm

Trong nửa thế kỷ kể từ khi mang tên TP HCM, đô thị lớn nhất Việt Nam đã trải qua nhiều thăng trầm.

Nếu xét về nốt thăng, TP HCM ngày nay là đầu tàu kinh tế của Việt Nam, đóng góp khoảng một phần tư GDP cả nước và là trung tâm tài chính, công nghệ, logistics và dịch vụ lớn nhất.

Đây cũng là nơi hội tụ của con người từ mọi miền: sinh viên tới học tập, mọi tầng lớp người dân tới kiếm việc làm, cơ hội kinh doanh.

Hàng chục khu đô thị mới đã mọc lên ở phía Đông, phía Nam và phía Tây. Những nơi từng là đầm lầy hoặc vùng nông nghiệp như Thủ Thiêm, Phú Mỹ Hưng hay một phần TP Thủ Đức đã trở thành các trung tâm kinh doanh và khu dân cư hiện đại.

Hệ thống hạ tầng cũng thay đổi mạnh mẽ. Nếu như Sài Gòn trước đây chủ yếu phụ thuộc vào xe máy, xe buýt và đường bộ thì TP HCM ngày nay đã có tuyến metro đầu tiên đi vào hoạt động sau gần 20 năm thi công, cùng mạng lưới đường cao tốc, đường vành đai và các dự án giao thông quy mô lớn đang tiếp tục được triển khai.

Nhà thơ Hoàng Hưng nhận định rằng những năm gần đây, TP HCM có nhiều thay đổi theo hướng tốt, đặc biệt là xây dựng kiến trúc hiện đại; dịch vụ, thương mại phục vụ đời sống người dân.

Theo ông, đó là nhờ nền kinh tế thị trường được khôi phục, kinh tế tư nhân được khuyến khích, từ đó mới có những thành tựu rõ ràng là các khu đô thị hiện đại như Phú Mỹ Hưng, Vinhomes... hay các hệ thống trường học tư thục và quốc tế; hệ thống siêu thị; hệ thống xe buýt công cộng; hệ thống xe công nghệ mà ông cho là "hữu hiệu hơn nhiều nước khác".

"Tôi tin là với truyền thống năng động, cởi mở của người Sài Gòn và đường lối kinh tế mới của nhà nước Việt Nam, thành phố này sẽ phát triển mạnh mẽ," ông đánh giá.

Nhưng bên cạnh đó còn có những nốt trầm.

Những năm sau 1975, thành phố đối mặt với nhiều khó khăn do hậu quả chiến tranh, cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung và tình trạng khan hiếm hàng hóa.

Nửa cuối thập niên 1970, các chiến dịch cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh được triển khai, trong đó nhiều doanh nghiệp và hộ kinh doanh tư nhân, đặc biệt là cộng đồng doanh nhân người Hoa vốn giữ vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại của Chợ Lớn, bị quốc hữu hóa hoặc buộc phải ngừng hoạt động. Nhiều gia đình đô thị Sài Gòn bị đẩy đi vùng kinh tế mới. Hàng chục ngàn người bỏ xứ ra đi.

Cùng với căng thẳng trong quan hệ Việt Nam-Trung Quốc và làn sóng nạn kiều, người Hoa rời Việt Nam vào cuối những năm 1970, hoạt động kinh tế bị rối loạn, sụp đổ.

.com/img/a/

Nguồn hình ảnh,Getty Images

 

Chụp lại hình ảnh,Các nhân viên y tế mặc đồ bảo hộ khi đưa một bệnh nhân nhiễm Covid-19 lên xe cứu thương tại Bệnh viện dã chiến số 6 ở Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 8/2021

Gần đây hơn, đại dịch Covid-19 là một trong những giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử hiện đại của thành phố.

Là tâm dịch lớn nhất cả nước vào năm 2021, TP HCM chịu tổn thất nặng nề về kinh tế và con người. Theo số liệu từ Bộ Y tế Việt Nam, thành phố là nơi có số ca tử vong do COVID-19 cao nhất cả nước, với 19.985 người. Con số thực tế được cho là cao hơn thế.

PGS-TS Hoàng Dũng cho rằng một nốt trầm về mặt văn hóa sẽ có tác động sâu xa là việc "cả một nền báo chí lẫy lừng của Sài Gòn" bị dẹp bỏ.

Ngày 20/6, Thành ủy TP HCM công bố quyết định thành lập Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình TP HCM trên cơ sở sắp xếp lại 11 cơ quan báo chí của thành phố.

Từ ngày 1/7, tám cơ quan báo chí, gồm báo Người Lao ĐộngPhụ nữ TP HCM, Pháp luật TP HCM cùng năm tạp chí, chấm dứt hoạt động độc lập.

Ba đơn vị được tổ chức lại, gồm báo Sài Gòn Giải Phóng, Tuổi Trẻ (bản điện tử) và Đài Phát thanh - Truyền hình TP HCM (HTV), sẽ trực thuộc cơ quan mới cùng với Trung tâm Đào tạo và Truyền thông.

"Tôi nghĩ đây là một thiệt hại rất lớn về đời sống tinh thần. Lịch sử báo chí khi viết về giai đoạn này phải coi đây là một sự kiện đau đớn không thể quên được," nhà ngôn ngữ học này cho hay.

 

Vì sao cái tên Sài Gòn vẫn còn đó?

Nửa thế kỷ sau khi mất tên với tư cách là một đơn vị hành chính, cái tên Sài Gòn vẫn chưa biến mất khỏi đời sống.

Sài Gòn hiện diện trong hàng loạt thương hiệu: Bia Sài Gòn, Saigon Co.op, Saigon Centre, SaigonTourist... Nhiều doanh nghiệp thành lập sau năm 1975 vẫn lựa chọn "Sài Gòn" làm thương hiệu vì giá trị nhận diện và tính biểu tượng.

Trên mạng xã hội, nhiều người vẫn giới thiệu mình là "người Sài Gòn". Trong văn chương, âm nhạc, báo chí, tên gọi này vẫn được sử dụng như một biểu tượng của sự phóng khoáng, cởi mở và nhịp sống sôi động.

Theo nhiều nhà nghiên cứu, điều này xuất phát từ việc Sài Gòn không chỉ là một địa danh hành chính mà đã trở thành một biểu tượng văn hóa.

PGS-TS Hoàng Dũng nói với BBC rằng cái tên Sài Gòn đã tồn tại mấy trăm năm, vừa là vấn đề lịch sử, vừa là vấn đề văn hóa, tâm lí xã hội.

"Cái tên Sài Gòn khó mà gạch bỏ đi được và nó cũng chẳng có tội lỗi gì mà gạch bỏ. Cho nên người dân và ngay cả chính quyền người ta dùng từ Sài Gòn cũng là bình thường," ông nêu quan điểm.

Đối với nhà thơ Hoàng Hưng, người đã sống ở thành phố này gần 50 năm, cái tên TP HCM không cho ông những cảm xúc như tên Sài Gòn, "có lẽ vì nó chỉ mang ý nghĩa chính trị, hành chính đơn thuần, không gợi lên cái gì tha thiết, gắn bó".

"Bản thân tôi là người gốc Hà Nội mấy đời, bà nội tôi là người góp phần xây dựng nên những đường phố ở Hà Nội những năm 1920, nhưng cũng tự hào là đã trở thành 'người Sài Gòn' với thời gian dài nhất của đời mình," ông nói thêm.

Nhà ngôn ngữ học Hoàng Dũng lưu ý rằng đa số người dân đang sống tại thành phố này là cư dân sau năm 1975, ngay trong lòng chế độ mới, nên cách nhìn của họ sẽ khác ông cha họ.

"Cho nên đây là câu chuyện của tương lai, sự hòa hợp, hòa giải dân tộc phụ thuộc rất lớn vào cách hành xử của chính quyền. Họ phải cho thấy tính chính danh của mình ngày càng được đắp bồi chứ không phải là hao mòn," nhà nghiên cứu này kết luận.

BBC News

SOURCE:

https://www.baoquocdan.org/2026/07/sai-gon-50-nam-oi-ten-nhung-gi-mat-va.html

 

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC BẢN DỊCH TIẾNG ANH TỪ GOOGLE

Friday, June 19, 2026

Trần Gia Phụng: Lịch sử ngày quân lực (19-6)

 

 



1.- Tình Hình Sau Cuộc Đảo Chánh Ngày 1-11-1963

Sau khi đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm ngày 1-11-1963, các tướng lãnh trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) thành lập Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng (HĐQNCM) do trung tướng Dương Văn Minh làm chủ tịch và lên nắm chính quyền. Hội Đồng QNCM cử Nguyễn Ngọc Thơ lập chính phủ lâm thời. 
Chính phủ nầy chỉ tồn tại trong ba tháng và bị trung tướng Nguyễn Khánh chỉnh lý ngày 30-1-1964. Trung tướng Khánh vẫn giữ trung tướng Dương Văn Minh làm quốc trưởng và Nguyễn Khánh tự đứng ra lập chính phủ ngày 8-2-1964. 
Tại Vũng Tàu, ngày 16-8-1964 trung tướng Nguyễn Khánh họp Hội đồng tướng lãnh, mà từ nay được gọi là Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng (chứ không phải là Quân Nhân Cách Mạng). Đồng thời trong cuộc họp nầy, Hội đồng QĐCM thông qua một hiến chương mới, về sau thường được gọi là Hiến chương Vũng Tàu, và bầu trung tướng Nguyễn Khánh lên làm chủ tịch VNCH, trung tướng Dương Văn Minh làm cố vấn.
Hiến chương Vũng Tàu ngày 16-8-1964 gồm “Lời nói đầu”, 8 thiên, 62 điều, bị chống đối từ nhiều phía, nhất là trong giới tín đồ Phật giáo và sinh viên học sinh. Nhiều cuộc biểu tình xảy ra tại các tỉnh trên toàn quốc, nhất là tại các thành phố phía bắc miền Trung như Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi…
Tại Sài Gòn, hàng ngàn người biểu tình trước chợ Bến Thành ngày 25-8-1964, kéo đến phủ chủ tịch (dinh Gia Long), đả đảo độc tài, đả đảo Hiến chương Vũng Tàu. Đoàn biểu tình càng lúc càng đông và không chịu giải tán. Cuối cùng trung tướng Nguyễn Khánh xuất hiện, cũng hô to khẩu hiệu: “Đả đảo độc tài quân phiệt”, tuyên bố hủy bỏ Hiến chương Vũng Tàu và từ chức.
Chiều 25-8, HĐQĐCM họp gấp tại bộ Tổng tham mưu. Cuộc họp kéo dài trong nhiều ngày. Ngày 26-8, HĐQĐCM ra tuyên cáo gồm các điểm: thu hồi hiến chương ngày 16-8-1964; sẽ bầu nguyên thủ quốc gia và sẽ ủy cho nguyên thủ quốc gia thực hiện cơ cấu dân chủ; các tướng lãnh sẽ trở về với quân đội; ủy cho chính phủ hiện thời tạm điều hành việc nước. Như thế là Hiến chương Vũng Tàu chính thức bị bãi bỏ ngày 16-8-1964, nhưng hậu chấn vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến tình hình.
Ngày 27-8-1964, HĐQĐCM quyết định thành lập Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia (LĐLTQG) gồm tam đầu chế là các trung tướng Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm, trong đó Dương Văn Minh làm quốc trưởng, Nguyễn Khánh làm thủ tướng, Trần Thiện Khiêm đứng đầu quân đội. Hội đồng QĐCM cử chính phủ Nguyễn Khánh tiếp tục nhiệm vụ, nhưng phải triệu tập Quốc dân Đại hội trong vòng hai tháng. 
Ngày 6-9, HĐQĐCM thông báo thành lập Thượng Hội đồng Quốc gia (THĐQG) để cố vấn cho Ban LĐLTQG. Ngày 7-9, HĐQĐCM bầu trung tướng Dương Văn Minh làm chủ tịch Ban LĐLTQG. Tình hình chính trị vẫn không ngừng xáo trộn, cao điểm là binh biến ngày 13-9-1964 do trung tướng Dương Văn Đức và thiếu tướng Lâm Văn Phát lãnh đạo. Cuộc binh biến không được HĐQĐCM ủng hộ. Ngày 15-9-1964, trung tướng Dương Văn Đức rút quân và tuyên bố không phải là đảo chánh, mà chỉ có cuộc biểu dương lực lượng để cứu vãn uy tín chính phủ và quân đội.
Tình hình tạm thời lắng dịu. Ngày 26-9-1964, Thượng Hội đồng Quốc gia (THĐQG) làm lễ trình diện tại Hội trường Diên Hồng (đường Công Lý, Bến Chương Dương). Hôm sau, THĐQG bầu ông Phan Khắc Sửu làm chủ tịch THĐ. Do áp lực từ nhiều phía, ngày 19-10-1964, ban LĐLTQG đưa ra tuyên bố rằng THĐQG có quyền và có bổn phận thực hiện các cơ cấu quốc gia, chọn quốc trưởng và lập chính phủ trước ngày 27-10-1964.
Thượng HĐQG công bố Hiến chương Lâm thời ngày 20-10-1964, gồm 10 thiên, 49 điều, theo đó Việt Nam là một nước Cộng hòa, lãnh thổ bất khả phân, chủ quyền thuộc về toàn dân. Quyền lập pháp thuộc về Quốc dân Đại hội (QDĐH), do dân bầu. Quốc dân đại hội có quyền tuyển chọn quốc trưởng. Quốc trưởng đứng đầu ngành hành pháp, chỉ định thủ tướng với sự chấp thuận của QDĐH. Quyền tư pháp thuộc về Hội đồng thẩm phán tối cao. Thượng Hội đồng sử dụng quyền của QDĐH cho đến khi QDĐH được thành lập. Lúc đó, THĐ sẽ là thượng viện. 
Thượng HĐQG bầu chủ tịch THĐQG là Phan Khắc Sửu làm quốc trưởng VNCH ngày 24-10-1964 và hôm sau 25-10, bầu Nguyễn Xuân Chữ làm quyền chủ tịch THĐQG, thay Phan Khắc Sửu. Ban LĐLTQG liền chính thức chuyển giao quyền hành cho tân quốc trưởng Phan Khắc Sửu ngày 26-10-1964, đồng thời thủ tướng Nguyễn Khánh đệ đơn từ chức.
Ngày 31-10-1964, quốc trưởng Phan Khắc Sửu ban hành sắc lệnh SL.005/QT/SL, bổ nhiệm ông Trần Văn Hương lập nội các. Trần Văn Hương thành lập chính phủ hoàn toàn dân sự ngày 4-11-1964. Tuy đã có Hiến chương Lâm thời (20-10-1964) và chính phủ dân sự, Hội Đồng Quân Đội

Cách Mạng được xem như chấm dứt hoạt động, nhưng quyền lực thật sự ngấm ngầm vẫn nằm trong tay các tướng lãnh. 
Ngày 24-11-1964, trung tướng Dương Văn Minh được thăng đại tướng. Một ngày sau, trung tướng Nguyễn Khánh cũng vinh thăng đại tướng. Lúc đó, các tướng mới lên chức khác liên kết thành một thế lực quan trọng thường được gọi là các tướng trẻ (báo chí Mỹ gọi là Young Turks). Ngày 18-12-1964, các tướng trẻ áp lực đại tướng Nguyễn Khánh lập Hội đồng Quân lực (HĐQL) để biểu quyết các vấn đề quan trọng, kể cả việc thăng thưởng trong quân đội. Tổng tư lệnh quân đội không còn được toàn quyền. Trong khi đó, đại tướng Nguyễn Khánh cũng muốn lập HĐQL để làm hậu thuẫn cho mình. 
Ngày 20-12-1964, HĐQL tuyên bố giải tán THĐQG vì đã gây chia rẽ, lưu nhiệm quốc trưởng Phan Khắc Sửu, tín nhiệm thủ tướng Trần Văn Hương. Tuy nhiên, chính phủ Trần Văn Hương lại bị phản đối, phải cải tổ ngày 18-1-1965, trong đó có 4 tướng lãnh tham gia. Dầu vậy, tình hình vẫn bất ổn. Ngày 27-1-1965, HĐQL quyết định giải tán luôn chính phủ Trần Văn Hương, ủy nhiệm đại tướng Nguyễn Khánh giải quyết cuộc khủng hoảng chính trị, triệu tập ngay Hội đồng Quân dân, lưu nhiệm quốc trưởng Phan Khắc Sửu.
Sau một thời gian thăm dò, ngày 16-2-1965, đại tướng Nguyễn Khánh, thừa ủy nhiệm HĐQL, bổ nhiệm Phan Khắc Sửu làm quốc trưởng và Phan Huy Quát làm thủ tướng. Ba ngày sau khi chính phủ Phan Huy Quát được thành lập, đại tá Phạm Ngọc Thảo và thiếu tướng Lâm Văn Phát cầm đầu cuộc đảo chánh ngày 19-2-1965. Binh biến bị thất bại chẳng những vì không được các tướng trẻ ủng hộ, mà còn bị phía Phật giáo và sinh viên học sinh phản đối. Phạm Ngọc Thảo bỏ trốn.
Sau khi tạm ổn định tình hình, ngày 20-2-1965, HĐQL quyết định thay thế đại tướng Nguyễn Khánh, và cử trung tướng Trần Văn Minh, tham mưu trưởng Liên quân, lên làm tổng tư lệnh quân lực VNCH. Trong khi đại tướng Dương Văn Minh được đưa đi làm đại sứ Thái Lan từ tháng 12-1964, thì nay đại tướng Nguyễn Khánh được bổ nhiệm đại sứ lưu động và rời Việt Nam ngày 25-2-1965. 
Những bất ổn chính trị từ khi chính phủ Ngô Đình Diệm bị sụp đổ cho đến nay đưa đến những hậu quả rất bất lợi cho VNCH. Tuy quân đội Hoa Kỳ gia tăng oanh tạc Bắc Việt, Bắc Việt vẫn tiếp tục xua quân xâm nhập miền Nam, đe dọa VNCH.


2.- NGÀY QUÂN LỰC (19-6)

 
Ngày 25-5-1965, thủ tướng Phan Huy Quát cải tổ chính phủ, bổ nhiệm một số tổng trưởng mới. Quốc trưởng Phan Khắc Sửu không đồng ý. Vì sự bất đồng giữa thủ tướng và quốc trưởng, xảy ra khủng hoảng nội các. Cuộc khủng hoảng trầm trọng thêm khi tổng hội sinh viên, một số đoàn thể chính trị và các đoàn thể giáo dân Ky-Tô giáo lần lượt yết kiến quốc trưởng Phan Khắc Sửu, phản đối chính phủ Phan Huy Quát. (Nguyễn Trân, Công và tội, những sự thật lịch sử, California: Nxb. Xuân Thu, 1992, tt. 542-544. Nguyễn Trân là hội viên HĐQGLP, có mặt trong cuộc họp nầy.) 
Ngày 9-6-1965, thủ tướng Phan Huy Quát họp báo, tường trình về cuộc khủng hoảng chính trị và đề nghị các tướng lãnh đứng ra làm trung gian để giữ thế quân bình cho đến khi có một chính phủ dân cử. Trong cuộc họp tối 11-6-1965, các tướng lãnh áp lực quốc trưởng Phan Khắc Sửu, thủ tướng Phan Huy Quát cùng HĐQGLP giao trả lại quân đội trách nhiệm và quyền lãnh đạo quốc gia mà HĐQL đã ủy thác cho chính phủ dân sự.
Vừa vì bất đồng, vừa vì áp lực của các tướng lãnh, quốc trưởng Phan Khắc Sửu, thủ tướng Phan Huy Quát và chủ tịch Hội đồng Quốc gia Lập pháp Phạm Xuân Chiểu đồng ký bản tuyên cáo ngày 11-6-1965, nguyên văn như sau:
“Sau khi duyệt lại tình trạng ngày càng một khẩn trương của đất nước, sau khi đã xét lại và xác nhận rằng: những cơ cấu và thể chế Quốc Gia hiện tại không còn phù hợp với tình thế, sau khi đã hội ý cùng toàn thể tướng lãnh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa tại Phủ Thủ Tướng ngày 11/6/1965, chúng tôi, Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa, Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa đồng thanh quyết định long trọng trao trả lại cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo quốc gia đã được Hội Đồng Quân Lực ủy thác cho chúng tôi chiếu theo Quyết Định số 8 ngày 5/5/1965, Tuyên Cáo số 7 ngày 5/5/1965, Quyết Định số 5 ngày 16/2/1965, Quyết Định số 6 ngày 17/2/1965 và Quyết Định số 4 ngày 16/2/1965.
Yêu cầu toàn thể đồng bào các giới không phân biệt giai tầng địa phương, đảng phái và tôn giáo, ủng hộ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong việc lãnh đạo toàn Quân và toàn Dân đúng theo tinh thần của Cách Mạng 1/11/1963.” (Trích từ Phạm Phong Dinh, “Ý nghĩa Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa”, tạp chí Thế Giới Mới, Houston, 7-6-2009.)
Ngày 14-6-1965, HĐQL họp tại Sài Gòn, đồng thanh chấp nhận đứng ra lãnh trọng trách điều khiển quốc gia một lần nữa, thành lập một ủy ban lãnh đạo của quân lực mệnh danh là Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia (UBLĐQG). Ủy ban LĐQG thay mặt toàn thể quân lực VNCH điều khiển quốc gia, có nhiệm vụ thiết lập thể chế và các cơ cấu quốc gia cùng thành lập một nội các chiến tranh. Sau đây là nguyên văn bản quyết định ngày 14-6-1965 của Hội đồng tướng lãnh:
“- Sau khi nghiên cứu Bản Tuyên Cáo Chung của Quốc Trưởng, Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp và Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày 11/6/1965 trao trả trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo Quốc Gia cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
- Chiếu biên bản Đại Hội Đồng các Tướng Lãnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ngày 12/6/1965. Các Tướng Lãnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Tư Lệnh các vùng chiến thuật và quân binh chủng đã quyết định:
Quyết Định:
Điều 1. Thành lập một ủy ban lãnh đạo của Quân Lực mệnh danh là Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia.
Điều 2. Thành phần của Ủy Ban nói trên gồm có: một Chủ Tịch, một Tổng Thơ Ký, một Ủy Viên phụ trách điều khiển Hành Pháp, Tổng Trưởng Quốc Phòng, Tổng Tham Mưu Trưởng, các Tư Lệnh Vùng Chiến Thuật, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô.
Điều 3. Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia thay mặt toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa điều khiển Quốc Gia.
Điều 4. Hoàn toàn tín nhiệm và chỉ định:
A. Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu.
B. Tổng Thư Ký: Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu.
C. Ủy Viên phụ trách điều khiển Hành Pháp: Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ.
Điều 5. Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia có nhiệm vụ thiết lập thể chế và các cơ cấu Quốc Gia cùng thành lập một Nội Các Chiến Tranh.” (Trích từ Phạm Phong Dinh, “Ý nghĩa Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa”, tạp chí Thế Giới Mới, Houston, 7-6-2009.)
Sau khi tuyên bố nhận lãnh trách nhiệm đứng ra điều khiển đất nước, các tướng lãnh đề cử: trung tướng Nguyễn Văn Thiệu giữ chức chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia (UBLĐQG), nhiệm vụ và quyền hành quốc trưởng; trung tướng Phạm Xuân Chiểu làm tổng thư ký UBLĐQG; thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ là ủy viên phụ trách điều khiển hành pháp, nhiệm vụ và quyền hành thủ tướng. 
Ngày 19-6-1965, HĐQL quyết định giải tán Hội đồng Quốc gia Lập pháp (quyết định số 4/ QLVNCH), ban hành Ước pháp Tạm thời gồm 7 thiên, 25 điều,và thiết lập các tổ chức: Đại hội đồng Quân lực, UBLĐQG, UBHPTƯ, Hội đồng An ninh Quốc gia, Hội đồng Kinh tế và Xã hội, Thượng Hội đồng thẩm phán (quyết định số 5/QLVNCH). Chủ tịch UBLĐQG Nguyễn Văn Thiệu liền ký sắc lệnh 001/a/CT/LĐQG thành lập nội các chiến tranh, gọi là Ủy ban Hành pháp Trung ương (UBHPTƯ). 
Đại hội đồng Quân lực gồm tất cả các tướng lãnh trong quân đội VNCH. Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia gồm trung tướng Nguyễn Văn Thiệu (chủ tịch), trung tướng Phạm Xuân Chiểu (tổng thư ký), thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ (ủy viên hành pháp), tổng trưởng Quốc phòng, tổng tham mưu trưởng, bốn tư lịnh bốn Vùng chiến thuật và tư lịnh Biệt khu thủ đô.
 Uỷ ban hành pháp Trung ương do trung tướng Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm bằng sắc lệnh số 001/a/CT/LĐQG ngày 19-6, ngoài chủ tịch là thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ còn có 5 tổng uỷ viên, 10 uỷ viên và 2 thứ uỷ.
Khác với những lần đảo chánh hay chỉnh lý trước đây, lần nầy do tranh chấp giữa các chính khách dân sự và với sự thỏa thuận của phía chính phủ dân sự, các tướng lãnh ra nắm chính quyền. Từ đây, ngày 19-6 được xem là ngày kỷ niệm Quân lực VNCH nắm chính quyền, và thường được gọi là NGÀY QUÂN LỰC. (Trích Việt sử đại cương tập 6.)


TRẦN GIA PHỤNG
(phungtrangia@yahoo.com)

 

Không ảnh Nghĩa Trang Quân Đội VNCH tại Biên Hòa, Việt Nam trước năm 1975

https://www.baoquocdan.org/2026/06/khong-anh-nghia-trang-quan-oi-vnch-tai.html

 

 

Tìm hiểu về ngày Quân Lực 19 tháng 6

 

Nguyễn-Huy Hùng (K1 Trường VBQGVN)

 

Ngày Quân Lực 19 tháng 6 tại Sàigòn

 

Cả gia đình Tôi tới định cư tỵ nạn Cộng sản Việt Nam tại Hoa Kỳ, vào đầu tháng 8 năm 1992 theo diện H.O.10 (Humanitarian Operation), đến nay 2015 tính ra cũng được hai mươi hai năm rồi. Các cháu nội, cháu ngoại của Tôi đã tiếp theo nhau vào Đại học. Có người đã tốt nghiệp và đã đi làm, có người còn đang tiếp tục học nửa chừng, có người sắp sửa hết chương trình Trung học, có người mới vào Tiểu học. Bạn bè của các cháu, có người là Hoa Kỳ chính gốc da trắng, cũng có người là Mỹ gốc Việt sinh ra và lớn lên tại Hoa Kỳ hay gốc các sắc tộc khác, đến nhà chơi trong những dịp Lễ hoặc kỷ niệm sinh nhật, biết Tôi là cựu Sĩ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng Hoà ngày xưa, nên thường đưa ra những câu hỏi rất đơn giản và thành thật, yêu cầu Tôi giải thích cho họ rõ về 2 điểm mà họ thường thắc mắc sau đây:

1.- Ngày Quân Lực 19 tháng 6 là ngày kỷ niệm của Quân đội nước nào vậy?

2.- Việt Nam Cộng hoà đã tan rã không còn, tại sao các Ông vẫn hàng năm tổ chức ngày kỷ niệm Quân lực làm chi vậy?

Tôi đã trả lời cho những người bạn của các cháu, một cách tổng quát đơn giản cho qua truyện. Nhưng họ không chịu, nhất định yêu cầu Tôi phải soạn ra những câu trình bầy chi tiết hơn, để họ có thể dựa vào đó giải thích cho các bạn khác cũng thường thắc mắc muốn tìm hiểu như họ. Vì thế, Tôi đã phải cố gắng vận dụng trí nhớ, cũng như tham khảo các ngày tháng năm chính xác trong 3 cuốn sách dưới đây, để soạn thành một tài liệu hướng dẫn đơn giản, nhưng tạm đầy đủ để làm vui lòng họ. Các sách ấy là:

1.- Bộ Quân sử Quân đội Việt Nam, Quyển IV, nói về Quân lực Việt Nam Cộng Hoà giai đoạn hình thành 1946 -1955, do Phòng 5 Bộ Tổng Tham mưu QLVNCH sưu khảo, biên soạn và phổ biến ngày 6 tháng 8 năm 1972 tại Saigon.

2.- Việt Nam Niên biểu 1939-1975, Tập A và Tập B, của Chánh Đạo, do nhà xuất bản Văn Hoá phát hành năm 1996 tại Hoa Kỳ.

3.- Việt Nam Niên biểu Nhân vật chí, có ghi gần 900 tác nhân lịch sử cận đại từ 1848 tới 1975, cũng của Chánh Đạo, do nhà xuất bản Văn Hoá phát hành năm 1997 tại Hoa Kỳ.

Những điều Tôi trình bầy được gói ghém trong 3 mục chính sau đây:

I.- Vì sao có Quân lực Việt Nam Cộng Hoà (QLVNCH)?

II.- Vì sao chọn 19 Tháng 6 làm NGÀY QUÂN LỰC?

III.- Những kỷ niệm khó quên của riêng Tôi về ngày Quân lực VNCH.

Nay thấy nhiều Hội đoàn đã tổ chức các Đoàn Hậu Duệ, để hướng dẫn các thế hệ trẻ nhập cuộc hoạt động thay thế các Thế hệ Cha Ông tiếp tục công cuộc đấu tranh hỗ trợ cho đồng bào Việt Nam ở trong nước vùng lên lật đổ bạo quyền Việt Cộng, giành lại Tự do, Dân chủ, Nhân quyền, Bình đẳng cho mọi người. Do đó, Tôi thấy cũng là một việc làm rất hữu ích là nhờ các cơ quan truyền thông tiếp tay phổ biến rộng rãi tài liệu này, để bất cứ ai muốn tìm hiểu về NGÀY QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ 19 THÁNG 6, đều có sẵn tài liệu xử dụng mỗi khi cần đến, đỡ tốn công mất thì giờ tìm tòi sưu tập.

Với tuổi già, bệnh hoạn, trí nhớ bị suy yếu vì 13 năm chịu cảnh tù đầy lao động khổ sai trong các trại cải tạo của Việt Cộng sau 30-4-1975, nếu có điều nào ghi lại bị thiếu sót thì mong quý vị độc giả còn minh mẫn bổ túc giùm, Tôi chân thành cảm tạ.

I.- VÌ SAO CÓ QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA?

1.1- Quan niệm chung về nhu cầu cần có Quân Lực.

Khi có một tập thể đông đảo người cùng chung nguồn gốc, hoặc nhiều Sắc tộc khác nhau nhưng sống bên nhau hoà thuận, theo cùng một chí hướng ước vọng giống nhau, đồng tâm hiệp lực sản xuất phát triển, để cùng có một cuộc sống ấm no hạnh phúc ngày một tân tiến hơn, thì nhóm người đó đương nhiên trở thành một DÂN TỘC và gọi nhau là ĐỒNG BÀO.

Khoảng KHÔNG GIAN trên Trái Đất mà Dân Tộc đó chiếm giữ và làm chủ, cũng đương nhiên được coi là LÃNH THỔ QUỐC GIA riêng của họ, không một Dân tộc nào khác được quyền xâm phạm, giành giật.

Trong cuộc sống tập thể đông đảo như vậy, nhu cầu duy trì trật tự bảo vệ an toàn cá nhân cho mọi người trong nội bộ Quốc gia, cũng như chống lại các THẾ LỰC NGOÀI DÂN TỘC muốn xâm lấn, uy hiếp, trấn lột cuộc sống bình an của Dân Tộc mình là cần thiết, nên đương nhiên cần phải có một lực lượng chuyên nghiệp võ trang hùng mạnh gọi là QUÂN ĐỘI hay QUÂN LỰC để chuyên lo.

Vì khoảng Không gian 3 chiều của mỗi Quốc gia gồm có: phần ĐẤT, phần TRỜI, và phần BIỂN, do đó muốn bảo vệ được hữu hiệu thì Tổ chức Quân đội cũng phải có đủ 3 loại Quân Chủng chuyên biệt khác nhau là: LỤC QUÂN, KHÔNG QUÂN, và HẢI QUÂN, để có thể hỗ tương nhau điều hành cuộc chiến tùy theo nhu cầu của mỗi hoàn cảnh tình huống khác nhau.

1.2-Bối cảnh nào Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà được thành lập?

Suốt 61 năm, nước An-Nam bị Thực dân Pháp đô hộ (sau 1945 khi giành lại được Độc lập tên nước mới gọi là Việt Nam), các Triều đình nhà NGUYỄN kế tiếp nhau không được phép có Quân đội riêng, chỉ có Lực lượng Cảnh vệ trang bị vũ khí thô sơ gọi là LÍNH LỆ, LÍNH DÕNG, chuyên canh gác các Dinh thự, bảo vệ an ninh, hầu hạ Vua và các Quan chức trong Triều đình. Tại các Phủ, Huyện hành chánh thống thuộc Hoàng Triều có LÍNH CƠ. Trực thuộc các phủ Thống Sứ (Bắc Kỳ), Khâm Sứ (Trung Kỳ) và Thống Đốc (Nam Kỳ) có lực lượng địa phương mà tại Bắc Kỳ là các đơn vị Lính Khố Xanh. Lực lượng chính quy của Phủ Toàn Quyền Pháp tại Đông Dương là các Trung Đoàn Bộ Binh hoặc Pháo Binh Thuộc Địa (Regiment d’Infanterie ou Artillerie Coloniale) thường được gọi là Lính Khố Đỏ.

Sau khi Thế giới Đại Chiến II chấm dứt, Việt Nam giành lại được Độc lập cho Quốc gia thì Quân đội Quốc gia Việt Nam mới được thành lập.


Trên lãnh thổ Việt Nam, vào ngày Chủ Nhật 11 tháng 3 năm 1945 (hai ngày sau khi quân Nhật lật đổ Pháp nắm toàn quyền cai trị Đông Dương), Vua Bảo Đại được Vua Nhật giúp tái lập Quốc Gia Việt Nam Độc Lập (thống nhất cả 3 miền Bắc Trung Nam) trong Khối Đại Đông Á do Nhật chủ xướng. Ông Trần Trọng Kim đã được Vua Bảo Đại cử làm Thủ Tướng thành lập chính phủ điều hành Quốc gia, và ban bố chương trình hưng quốc vào ngày 8 tháng 5 năm 1945, trong đó quy định Quốc Kỳ là cờ Quẻ Ly, nền vàng giữa có biểu tượng Quẻ Ly mầu đỏ nằm dọc theo bề dài nền cờ (2 vạch dài liền, nằm song song 2 bên 1 vạch đứt quãng chính giữa, trông như chữ CÔNG của Hán tự).

Quốc Ca là bài “Việt Nam minh châu trời Đông” của nhạc sĩ Hùng Lân.


 

Lời bản nhạc :

Việt Nam minh châu trời Đông!

Việt Nam nước thiêng Tiên Rồng!

Non sông như gấm hoa uy linh một phương,

Xây vinh quang ngất cao bên Thái Bình Dương.

Từ ngàn xưa tài danh lừng lẫy khắp nơi,

Tiếng anh hùng tạc ghi núi sông muôn đời.

Máu ai còn vương cỏ hoa,

Giục đem tấm thân xẻ với sơn hà.

Giơ tay cương quyết, Ta ôn lời thề ước.

Hy sinh tâm huyết, Ta báo đền ơn nước.

Dầu thân này nát tan tành gói da ngựa cũng cam,

Thề trọn niềm trung thành với sơn hà nước Nam.


Việt Nam Minh Châu Trời Đông

Việt Nam Minh Châu Trời Đông

Bản Quốc Ca thứ nhì của Việt Nam - 05/1945

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP