.
Monday, October 26, 2026
Thursday, October 15, 2026
Nhớ ChiếnTrường Xưa - Bài 6 (KÝ SỰ - Trần Văn Ngà)
CHIẾN TRƯỜNG VIỆT NAM: TRẠI LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT A SHAU BỊ CỘNG QUÂN TRÀN NGẬP
ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH -
HO CHI MINH TRAIL
Từ bên dòng sông Bến Hải (thuộc tỉnh Quảng Trị), chiếu theo Hiệp Định Quốc Tế
Genève ký ngày 20.7.1954, nước Việt Nam bị chia cắt 2 miền Nam Bắc, từ ngày 22
tháng 7 năm 1954.
Với sự quyết tâm thôn tính Miền Nam tự do, bất kể Hiệp Định Quốc Tế Genève đã
chia đôi đất nước Việt Nam ra 2 vùng lãnh thổ có đầy đủ chủ quyền và thể chể
chính trị khác biệt nhau. Bộ Chính Trị cộng sản Bắc Việt (CSBV) đã chỉ thị các
địa phương ở Miền Nam, cài đặt hàng ngàn cán bộ chính trị và quân sự ở lại Miền
Nam cùng chôn giấu nhiều vũ khí, thay vì tập kết hết ra Bắc như quy định của Hiệp
Định Genève 1954. Đến cuối thập niên 50, Bộ Chánh Trị CSBV họp bàn hạ quyết tâm
"nhất trí" xâm lăng chiếm cho bằng được Miền Nam tự do với mọi giá.
Cũng từ năm 1959, CSBV đã thực hiện kế hoạch xâm nhập quy mô bằng đường bộ,
chúng tái xây dựng tuyến đường tiếp vận từ miền Bắc, xuyên qua lãnh thổ
"anh em" Lào, xâm nhập miền Nam. Khi gần đến sông Bến Hải, ranh giới
của 2 nước Việt Nam, cộng sản BV mở con đường này thành 2 mũi thẳng tiến vào
Nam, qua 2 ngã. Một ngã đi dọc theo đường biên giới Việt Lào thẳng tới Thừa
Thiên - Huế..., phải vượt qua vùng phi quân sự. Ngã thứ 2 hoàn toàn mới xuyên
qua biên giới, đi sâu vào lãnh thổ Lào. Con đường này được xây dựng quy mô,
ròng rã 5 năm, từ năm 1959 đến năm 1964, to rộng cho xe cơ giới lớn, nặng, di
chuyển dễ dàng chạy vào Nam (như hình vẽ). Tuyến đường này, với những đường rẽ
vào các tỉnh của Vùng I - Vùng II - Vùng III Chiến Thuật. Con đường huyết mạch
đó được gọi là con đường mòn Hồ Chí Minh (Ho Chi Minh Trail), hoàn toàn giữ bí
mật khi xây dựng, lộ trình dài hàng trăm cây số nằm sâu trong đất nước Lào
xuyên qua tỉnh Savannakhet, Paksé... Khi đường mòn HCM chạy đến vùng 3 biên giới
Việt Miên Lào, đâm sâu vào lãnh thổ VNCH, xuyên qua nhiều tỉnh Vùng I Chiến Thuật,
các tỉnh Cao Nguyên Vùng II Chiến Thuật như Kontum - Pleiku - Phú Bổn - Ban Mê
Thuột..., đến Vùng III Chiến Thuật: Bình Long - Phước Long cho đến các tỉnh
vòng đai Thủ Đô Sài Gòn như Bình Dương - Biên Hòa kể cả tỉnh Long Khánh...( bản
đồ đính kèm chỉ rõ đường xâm nhập của CSBV từ Bắc xâm nhập vào Nam).
TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG ĐỒN TRÚ CỨ ĐIỂM A SHAU & QUÂN CHÍNH QUY CSBV
Những địa danh vô cùng
quan trong, án ngữ, ngăn chặn sự xâm nhập quân, cán bộ, tiếp vận của CSBV xâm
nhập miền Nam khi vượt qua vùng phi quân sự sông Bến Hải hay đi theo con đường
mòn HCM. Quân Mỹ đã thiết đặt hàng chục căn cứ hỏa lực lớn và nhiều Trại Lực Lượng
Đặc Biệt (do các toán LLĐB Việt Mỹ chỉ huy - Tất cả các căn cứ hỏa lực và thiết
bị điện tử đặt hoặc rải trong vùng phi quân sự gọi là hàng rào điện tử Mc
Namara - tên ô. Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ chủ xướng) dọc theo 2 ngã xâm nhập của
CSBV ở Vùng I - II - III Chiến Thuật. Những căn cứ - địa danh vô cùng quan trọng
có tầm vóc lịch sử, như các Trại LLĐB: Khe Sanh - A Lưới - Tà Bạt - A Shau...
thuộc Vùng I Chiến Thuật. Ngoài ra, còn có cả chục Trại LLĐB ở Vùng II - Vùng
III Chiến Thuật và các trại LLĐB khác ở biên giới Việt Miên thuộc Vùng IV Chiến
Thuật.
Thung lũng A Shau chạy dài từ tỉnh Quảng Trị qua Thừa Thiên đến Quảng Nam, một
vùng rừng núi bạt ngàn trùng trùng điệp điệp cũng là lộ trình huyết mạch cho
các cuộc chuyển quân, tiếp vận từ Bắc vào Nam. CSBV lúc nào cũng muốn nhổ những
"chốt" ngăn chặn sự xâm nhập, di chuyển tối quan trọng này của CSBV.
Các Trại Lực Lượng Đặc Biệt và các căn cứ hỏa lực lớn nhỏ của Mỹ luôn là điểm
nóng mà CSBV luôn luôn muốn thanh toán, dọn sạch để chúng dễ dàng xâm nhập,
không bị dòm ngó ngăn chặn, cản bước tiến quân...
Quân trú phòng Trại Lực Lượng Đặc biệt A Shau, lúc ban đầu chỉ có 1 Đại đội Dân
Sự Chiến Đấu (Civilian Irregular Defense Group - CIDG) gần 250 quân, đa số là
người dân tộc thiểu số Nùng cùng với thông dịch viên, không thấy tài liệu đề cập
đến cấp chỉ huy thuộc LLĐB Việt Nam, có 10 (cố vấn) chiến sĩ Mũ Xanh Mỹ trong
Trại này. Lực lượng yễm trợ dồi dào của không lực Mỹ đối với A Shau bất cứ ngày
đêm, lúc nào cần thiết, ngoại trừ thời tiết quá xấu.
Trại LLĐB A Shau chạy dài từ địa phận tỉnh Quảng Trị đến tỉnh Thừa Thiên, Quảng
Nam, dài 40 cây số (25 dặm), chiều rộng của thung lũng Ashau gần 2 cây số, cách
biên giới Lào Việt 5 dặm (8 cây số) Đông, cách Huế chừng 50 cây số (30 miles) về
hướng Tây và cách Đà Nẵng cũng gần cho nên mọi sự tiếp tế và yễm trợ bằng không
lực rất dễ dàng. Cuộc chiến ác liệt ở vùng này, bắt đầu hé lộ:
* - Ngày 5.3.1966, cuộc hành quân an ninh của Trại, bắt được 2 cán binh CSBV,
khai thác, biết rõ ý định của CSBV, bằng mọị giá chiếm cho bằng được căn cứ
này. Trận đánh sắp xảy ra chính thức vì nhiều đơn vị bộ đội chánh quy CSBV (Sư
Đoàn 325) đã áp sát quanh trại, bố trí hỏa lực phòng không dày đặt, công sự chiến
đấu đều khắp, CSBV chuẩn bị kỹ trước khi tấn công. Thời tiết xấu đến giúp thêm
thuận lợi cho CSBV mở cuộc tấn công vì yếu tố thiên thời hạn chế mưa bom của
không lực Mỹ...
* - Ngày 7.3, Trại được tăng cường thêm 1 Đại đội Dân Sự Chiến Đấu (có tên gọi
khác là Mike Force do Mỹ trực tiếp tuyển mộ), quân số cũng trên 200 người, tăng
cường thêm 7 Mũ Xanh Mỹ và 9 thông dịch viên. Quân số chung của Trại lên xấp xỉ
450. Trong khi đó lực lượng của CSBV với 2 ngàn quân thuộc Sư Đoàn chính quy
325 và số quân còn lại của SĐ này làm lực lượng trừ bị đang ẩn nấp ở vùng rừng
núi hiểm trở - biên giới Việt Lào.
* - Ngày 8.3, toàn khu vực gần Trại LLĐB vùng A Shau được báo động đỏ - khẩn cấp,
quân CSBV có lệnh tấn công ngay trong đêm vì thời tiết quá xấu, hạn chế rất nhiều
các phi vụ oanh kích của các chiến đấu cơ A - 1 và C 47 Spooky gunships và các
loại phi cơ khác.
TRẠI LLĐB ASHAU BỊ QUÂN CSBV TRÀN NGẬP (OVERRUN) SAU 2 NGÀY CHIẾN ĐẤU ĐẪM
MÁU
Từ tối ngày 8.3, với thời tiết quá xấu, tiếp tục mưa gió lớn hạn chế các phi vụ
thả trải sáng, những gunships - con rồng lửa C47 bị hạn chế, trong lúc đó, quân
CSBV rót đạn pháo như mưa vào vị trí phòng thủ, cày nát, phá hủy nhiều khu
doanh trại, hầm hố, công sự, kho đạn... Cuộc chiến kéo dài suốt đêm đến trưa,
các chiếc máy bay vận tải cơ C.123 và CV 2 từ phi trường Phú Bài - Huế, bay đến
thả dù tiếp tế đạn dược và tiếp liệu, thực phẩm...
Thời tiết xấu và súng
phòng không của CSBV thi nhau nổ vang dày đặc không trung trên căn cứ trú
phòng, cho nên phần lớn các dù tiếp tế bay rớt ngoài hàng rào phòng thủ vì máy
bay, bay cao và gió lớn. Trong lúc đó, quân CSBV tấn công liên tục bằng pháo
kích và các đơn vị nhỏ xâm nhập sát hàng rào phòng thủ chờ lệnh xung phong tiến
chiếm mục tiêu. Quân trú phòng chết và bị thương cũng khá nhiều, thiếu phương
tiện cứu thương, cạn lương thực và đạn dược. Mặc dù được các vận tải cơ, cố gắng
hết đợt này tới đợt khác bay đến thả dù tiếp tế suốt chiều 9.3. 66. (H: Phi đạo
và doanh trại của LLĐB A Shau). Nhưng, tất cả các phi vụ tiếp tế đó đều không
may, quân trú phòng không nhận được. Chiều tối ập tới với nổi kinh hoàng của
quân trú phòng quyết tâm phòng thủ, chờ sáng ngày sau, may ra được tiếp tế đầy
đủ và được tăng viện...Cuộc chiến dằng dai kéo dài từ suốt ngày 9.3.1966 với thời
tiết càng xấu hơn, quân CSBV, dứơi sự yễm trợ pháo dữ dội và súng DKZ - súng
không giật nả liên tục vào các nơi phòng thủ của Trại. Trong khi đó, quân bộ
chiến, đặc công của CSBV càng lúc càng áp sát tuyến phòng phủ của quân trú
phòng. Lúc 1 giờ trưa, một chiếc C 47 Spooky xạ kích yễm trợ quanh Trại LLĐB A
Shau, bị phòng không địch bắn hạ, 6 phi hành đoàn nhảy dù rơi xuống ngoài vòng
rào phòng thủ, và phi hành đoàn tự vệ chiến đấu chống lại quân CSBV đang bao
vây tấn công. Trực thăng H34 đến tiếp cứu, có 3 quân nhân phi hành bị thiệt mạng
và cứu thoát được 3 người.
* Ngày 10.3.1966 là ngày cuối cùng, ngày định mệnh của Trại Lực Lượng Đặc Biệt
A Shau. Sau một đêm dài 9.3 như bất tận, các chiến sĩ của Trại nằm dưới các
giao thông hào đội cơn mưa gió dữ dội và đạn pháo của cộng quân rót vào trại
liên tục, không ngơi nghỉ. Đến 5 giờ sáng, một đơn vị đặc công cộng quân đã tấn
công xâm nhập được qua hàng rào phòng thủ, vào Trại ở hướng đông, hai bên phải
dùng cận chiến - xáp lá cà đẫm máu. Sau đó, cộng quân đã chiếm được vùng phòng
thủ này, làm bàn đạp tấn công vào các hướng khác. Từ cấp trên, có lệnh cho các
chiến sĩ phòng thủ Trại A Shau, chuẩn bị "di tản chiến thuật", các
công sự chiến đấu và doanh trại cũng như kho tàng đều phải phá hủy toàn bộ. Tất
cả chiến sĩ được lệnh cùng mở vòng chiến hướng về hướng Bắc của Trại, nơi đây
đã có hàng đàn chiến đấu cơ của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ, Sư Đoàn 1 Không Quân
QLVNCH luân phiên cày nát vòng ngoài để các trực thăng được an toàn bay đến thực
hiện cuộc di tản đầy nguy hiểm này. Hơn nữa, hướng Bắc của Trại, các công sự
phòng thủ còn vững, cơ may sẽ thoát hiểm ra khỏi Trại A Shau an toàn hơn. Có 15
chiếc trực thăng loại lớn, thời bấy giờ, H34 và 4 gunships HU1B xạ kích yễm trợ
để bốc quân ra khỏi địa ngục trần gian A Shau. Trong cuộc di tản lịch sử này có
thêm 2 chiếc H34 bị bắn hạ. Tất cả 17 chiến sĩ Lực Lượng Đặc Biệt đồn trú trong
Trại A Shau đều bị thương vong, với 5 chết và 12 bị thương. Các chiến sĩ Dân Sự
Chiến Đấu Việt, kể như còn sống sót 1/3.
Theo lời kể của Trung sĩ nhứt (HSQ cao cấp) - Sergeant Master Bennie G. Addins
được Tổng Thống Barack Obama gắn huy chương cao quý nhứt của Mỹ - Medal of
Honor - tại Tòa Bạch Ốc tháng 9 năm 2014. Ông tiết lộ cho báo chí biết, có
122/410 chiến sĩ CIDG còn sống sót, hầu hết đều bị thương . Một điều đáng trân
trọng khác, một gương dũng cảm phi thường của phi công Thiếu tá Bernie Fisher,
đã dùng phi cơ của mình đã xà đáp xuống phi đạo của A Shau dưới làn mưa pháo của
cộng quân, cứu phi công Thiếu tá Jump Myers lái chiếc phi cơ khác bị công quân
bắn hạ, Thiếu tá Bernie Fisher vút bay lên thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc. Vì
vậy, Thiếu tá phi công Fisher được tưởng thưởng huy chương cao qúy của Mỹ -
Medal of Honor, cách nay khá lâu.
TỔN THẤT CHUNG CỦA TRẬN CHIẾN A SHAU
Theo hồ sơ trận liệt, đơn vị cộng sản BV là Sư Đoàn 325 của lực lượng chính
quy Bắc Việt, bao vây cứ điểm A Shau, cộng quân sử dụng khoảng 2 ngàn quân, có
800 quân chết tại mặt trận, lực lượng Dân Sự Chiến Đấu VN chết và mất tích từ
200 - 300 quân, tài liệu không cho biết có bao nhiêu thông dịch viên chết hay
có các cán bộ LLĐB VN tham chiến hay không? Có 2 trực thăng H34 và 1 C47 bị bắn
hạ. Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ với 5 chết và 12 bị thương, nghĩa là tất cả Mũ Xanh Mỹ
17 người của Trại LLĐB A Shau không chết thì đều bị thương.
Hai năm sau - năm 1968, Sư Đoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ nhảy xuống vùng Trại Lực Lượng
Đặc Biệt A Shau cũ trong cuộc hành quân quy mô Delaware để giải tỏa áp lực địch
khi CSBV mở cuộc Tổng Tấn Công và Nổi Dậy Tết Mậu Thân - năm 1968, cộng quân đã
chiếm được cựu Kinh Đô Huế khoảng gần 4 tuần. Trong thung lũng A Shau, kể từ
sau khi A Shau bị CSBV tràn ngập ở cực nam và Khe Sanh ở cực bắc cũng di tản
chiến thuật - ngày 9.7.1968. Căn cứ hỏa lực Khe Sanh - Khe Sanh Combat Base,
quan trọng nhứt của khu vực này với 6 ngàn quân Mỹ của Sư Đoàn 3 Thủy Quân Lục
Chiến. Ngoài ra, còn có Trại Lực Lượng Đặc Biệt và 1 Tiểu đoàn Biệt Động Quân
QLVNCH cùng đồn trú trong cứ điểm chiến lược Khe Sanh. Sau khi, di tản chiến
thuật khỏi Khe Sanh, Mỹ và QLVNCH đã bỏ ngõ vùng quan yếu chiến lược này, CSBV
đã đưa vào đây trên 58,000 quân chính quy mai phục ẩn trú chuẩn bị cho các chiến
trường kế tiếp. Chiến dịch tổng công kích, tổng nổi dậy Tết Mậu Thân - năm
1968, dù còn căn cứ Khe Sanh (bị cô lập - bao vây), nơi đây vẫn là đầu não chỉ
huy của quân CSBV vì địa thế vô cùng hiểm trở, gần biên giới Lào...
HẬU QUẢ CỦA CHIẾN DỊCH TỔNG TẤN CÔNG VÀ TỔNG NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN -1968
Chiến tranh Việt Nam kéo dài đến năm 1968, sau 3 năm trực tiếp chiến đấu, quân
Mỹ đã tiêu tốn nhiều tỷ đô la, có hàng chục ngàn lính Mỹ tử trận mà cuộc chiến
tranh VN chưa biết bao giờ kết thúc. Vào dịp Tết Mậu Thân - năm 1968, VNCH và
CSBV thỏa thuận ngừng chiến để 2 bên quốc cộng hưu chiến đón mừng năm mới, ăn Tết
Mậu Thân - năm 1968. CSBV cùng với cái gọi là Việt Cộng (Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam - MTGPMN, CSBV trá hình) lợi dụng cuộc hưu chiến này, chúng tung ra chiến dịch
Tổng Tấn Công và Tổng Nổi Dậy Tết Mậu Thân - năm 1968 khắp lãnh thổ miền Nam,
đã gây ra chết chốc đau thương cho biết bao thường dân vô tội VN. Đặc biệt với
thành Phố Huế có hơn 7 ngàn người già trẻ bị CS thảm sát, thủ tiêu và chôn sống...
Trong bối cảnh này, phong trào phản chiến Mỹ đã đồng loạt nở rộ khắp mọi nơi
trên đất nước Hoa Kỳ, đặc biệt là tại các trường đại học của Mỹ với biết bao cuộc
xuống đường rầm rộ thường xuyên chống Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Có nhiều vụ bạo
động, xô xát giữa cảnh sát chống dẹp biểu tình với các sinh viên Mỹ, có nhiều
người bị thương vong. Và các cuộc chống đối, phản chiến ở Mỹ lây lan sang các
nước phương tây và thế giới. Trước đây, chiến trường VN chỉ quanh quẩn ở các
căn cứ địa, mật khu rừng núi, địa thế hiểm trở hay các làng mạc xa xôi, heo
hút. Đến năm 1968, CSBV đưa chiến trường vào thành phố, thị xã, tỉnh lỵ ngay cả
Toà Đại Sứ Mỹ - một nơi gọi là bất khả xâm phạm, Thủ đô Sàigòn của VNCH, Thành
phố cổ Huế và hàng chục tỉnh lỵ, thị xã... Khắp 4 vùng chiến thuật bị cộng quân
đồng loạt tấn công, dù VNCH bị bất ngờ lúc ban đầu, sau đó CSBV & VC bị
quân Việt Mỹ và đồng minh đánh trả mãnh liệt gây tổn thất vô cùng lớn lao cho
chúng.
Về mặt chánh trị, CSBV đã giáng một đòn chí tử vào chính thể VNCH và Chính phủ
Mỹ, CSBV đã chiến thắng vẻ vang về mặt tuyên truyền ngoại giao, chính trị, kích
động tinh thần chống chiến tranh Việt Nam lên cao điểm qua các diễn đàn quốc tế
và quan trọng nhứt là tại chính quốc Hoa Kỳ. Sự kiện này đã thúc đẩy mạnh mẽ,
đưa phong trào phản chiến Mỹ lên cao tột đỉnh , kích động lòng dân Mỹ chống lại
chiến tranh ở VN bằng mọi giá.
Cuộc chiến VN đã thật sự sa lầy, Mỹ vì quyền lợi, bị ràng buộc, phải tương nhượng
với 2 siêu cường cộng sản Tàu và Liên Sô, cho nên Mỹ bị cột tay, không thể tốc
chiến tốc thắng CSBV như dự kiến ban đầu của các nhà hoạch định chính sách của
Mỹ. Nay, người dân Mỹ phải hy sinh xương máu càng ngày càng lên cao và tổn phí
ngân sách quốc phòng càng ngày càng chồng chất. Cái gì đến tất phải đến, cuộc
chiến VN kết thúc bi thảm cho Miền Nam VN - chính thể VNCH bị sụp đổ toàn diện
và đồng bào miền Nam đi vào con đường xã hội chủ nghĩa bần cùng tủi nhục từ
ngày 30.4.1975 cho đến nay.
Ngày nay, dưới con mắt của những người viết sử hay những ai từng trải chiến đấu,
có tầm nhìn chiến thuật, chiến lược - những thức giả am hiểu tình thế về cuộc
chiến ý thức hệ quốc cộng 30 năm ở VN (1945 - 1975), thấy rõ, nếu Mỹ chỉ để
QLVNCH đối chọi với đạo quân đông đảo của CSBV mà QLVNCH vẫn thắng. Mỹ và quân
đồng minh khác đứng ngoài vòng chiến, chỉ yễm trợ tối đa phương tìện chiến
tranh: súng tốt, đạn nhiều, phi pháo dồi dào, đời sống gia đình người lính được
bảo đảm, CSBV không tài nào mà chiếm được Miền Nam VN. Chúng ta biết, một người
lính Mỹ với tốn phí cao gấp từ 10 đến 20 lần so với 1 chiến sĩ QLVNCH. Tốn phí
ngân sách quốc phòng Mỹ quá cao, lính Mỹ chết càng lúc càng nhiều, dân chúng Mỹ
không đủ sức kiên nhẫn, chịu đựng, hy sinh cho nên phong trào phản chiến tại Mỹ
càng ngày càng dâng cao. Còn quân CSBV nghèo khổ lại không quý trọng sinh mạng,
được Tàu cộng và Liên Sô hà hơi tiếp sức, chỉ có giúp nhiều phương tiện chiến
tranh, cho nên cộng quân có chết nhiều không sao cả miễn chiếm được miền Nam.
QLVNCH trang bị đầy đủ và được trui rèn huấn luyện tốt như một quân đội chính
quy hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới. Hơn nữa, với đầy đủ cơ giới,
máy bay, tàu chiến các loại mà cộng quân không có, pháo binh, súng đạn được tiếp
tế nhanh chóng dồi dào, lại có chánh nghĩa với cuộc chiến đấu tự vệ, nên ở vào
thế thượng phong, VNCH sẽ tất thắng và CSBV phải thảm bại. Ai cũng thấy, thời Đệ
Nhất Cộng Hòa, sau năm 1956, Cố vấn Mỹ chỉ có 800 người mà QLVNCH luôn làm chủ
chiến trường, chiến thắng và chiến thắng liên tục. Hơn nữa, QLVNCH đã chận đứng
được nguồn tiếp vận về người và vũ khí từ miền Bắc tuồn vào chiến trường Miền
Nam qua đường bộ hay đường biển. Với Quốc Sách Ấp Chiến Lược, cán binh cộng sản
đã bị vô hiệu hóa sự xâm nhập vào chung sống với dân chúng để nhận tiếp tế, che
chở. Đến cuối năm 1964, Cố Vấn Mỹ tăng lên 23 ngàn người, chiến tranh đã khởi động
leo thang. Từ năm 1965 đến năm 1968, có Cố Vấn Mỹ ở các đơn vị từ cấp Tiểu đoàn
trở lên và nhiều đại đơn vị Mỹ đến VN, tính chung lên 485 ngàn quân. Đến năm
1968, con số này vượt trên 550 ngàn quân Mỹ, nếu tính cả các đơn vị đồng minh
khác, quân "ngoại nhập" - không phải QLVNCH lên gần 600 ngàn người.
Chưa kể, sau vụ CSBV mở chiến dịch với cái gọi là tổng công kích tổng nổi dậy Tết
Mâu Thân - 1968, Chính Phủ VNCH có lệnh tổng động viên mới, đưa quân số QLVNCH
lên trên 1 triệu 100 ngàn quân - quân số VNCH đông đứng hàng thứ 4 trên thế giới.
Chiến trường VN thật sự sôi động khi 2 quân đội chính quy Mỹ và CSBV đổ quân ồ ạt
vào chiến trường VN với các loại vũ khí hiện tại tối tân của Mỹ và của khối CS
quốc Tế Nga Tàu. Trong khi đó, QLVNCH vẫn còn sử dụng những loại vũ khí cũ của
thời Đệ Nhị Thế Chiến và Chiến tranh Hàn Quốc. Trận chiến Tết Mậu Thân - 1968 xảy
đến, chính phủ Mỹ mới viện trợ nhỏ giọt súng mới M16 cho các đơn vị thuộc lực
lượng tổng trừ bị QLVNCH. Sau đó, mới đến các đơn vị Sư Đoàn Bộ Binh, thay thế
súng Garant M1, Carbine M1 lỗi thời, Đại liên 30 được thay thế đại liên 50...Trực
thăng cũ kỹ già nua nặng nề H21 thường rớt, gây tai nạn được thay thế HU1 mới
hơn. Kể cả chiến đấu cơ cánh quạt chậm chạp cũng được tăng cường thêm chiến đấu
cơ phản lực F5, tàu chiến cũng vậy, toàn là loại tàu cũ, phế thải tân trang lại.
Tóm lại, Mỹ viện trợ những vũ khí, phương tiện chiến tranh loại cũ mèm, phế thải
được tân trang đôi chút. Nếu chính sách viện trợ của Mỹ thật lòng giúp QLVNCH
làm nổ lực chính để chiến đấu chống CSBV như cung cấp các phương tiện, vũ khí tối
tân như các đơn vị Mỹ từ đầu, chắc chắn không có ngày Quốc Hận 30.4.1975 nhục
nhã và đau buồn.!!! @
BÚT KÝ - Trần Văn Ngà (Khóa 13 Thủ Đức)
Link:
https://www.baoquocdan.org/2026/10/nho-chien-truong-xua_0579582013.html
Tuesday, October 13, 2026
Nhớ ChiếnTrường Xưa - Bài 5 (KÝ SỰ - Trần Văn Ngà)
Trần Văn Ngà/ Khóa 13 Thủ Đức
CHIẾN TRƯỜNG VIỆT NAM:1966: TRẠI LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT A SHAU BỊ CỘNG QUÂN TRÀN NGẬP
NHẬN ĐỊNH CHUNG CỦA QUÂN ĐỘI MỸ
Chiến trường Việt Nam đã thật sự leo thang từ tháng 11 năm 1965 ở Vùng II Chiến Thuật qua trận Ia Drang. Trại Lực Lượng Đặc Biệt A Shau thuộc Vùng I Chiến Thuật bị quân chính quy CSBV tràn ngập, thất thủ tháng 3 năm 1966. Năm 1968, đại quân CSBV bao vây Khe Sanh và người ta - các nhà báo quốc tế ví cuộc bao vây này của CSBV như là cuộc bao vây quân viễn chinh Pháp ở lòng chảo Điện Biên Phủ - Miền Bắc VN, năm 1954 của Việt Minh, đi đến kết thúc chiến tranh Đông Dương qua Hiệp Định Genève ngày 20.7.1954. Cả 2 bên Mỹ và CSBV đều có quyết tâm trong cuộc đọ sức đẩm máu trận Khe Sanh lịch sử để gây tiếng vang trên chính trường thế giới và cũng có thể chấm dứt sớm chiến tranh như trận Điện Biên Phủ năm 1954?. Mỹ sử dụng tối đa hỏa lực phi pháo cùng nguyên Sư Đòan 1 Không Kỵ hiện đại nhất của quân Mỹ lúc bấy giờ, với 20 ngàn quân cùng với trên 500 chiếc trực thăng cơ hữu. Cộng quân sử dụng tại chiến trường này bằng luân xa chiến, ít nhứt 3 sư đoàn chính quy từ Bắc xâm nhập (Tôi sẽ có 1 bài viết khác, dựa vào Vietnam Magazine số October 2015, với cái tít: A Valley A Shau soaked in RAIN & BLOOD của phóng viên chiến trường Mike D. Shepherd).
Đối với Quân Đội Mỹ, chiến trường Việt Nam là một chiến trường biến hóa vô lường mà Quân đội Mỹ - một Quân Đội nhà giàu, "lính cậu" lại tự kiêu chủ quan khinh địch nên khi mới đặt chân đến chiến trường Việt Nam lạ lẫm, bất ngờ thành đội quân, thường bị động trên chiến trường. Từ trận đánh lớn đầu tiên ở Cao nguyên trong 5 ngày, từ 14 đến 18 tháng 11 năm 1965 - trận Ia Drang, với tổn thật khá cao 234 chiến sĩ Mỹ tử trận, 245 bị thương, 4 mất tích. Quân chính quy CSBV, theo công bố của Mỹ có trên 1 ngàn cộng quân chết...Về trực thăng có 4 chiếc bị bắn hạ, 55 chiếc khác bị bắn hư hại, dù quân Mỹ đã sử dụng 740 phi vụ tác chiến yễm trợ cùng với 96 phi vụ B52, lần đầu tiên trên chiến trường mới Việt Nam, trải thảm bom xuống rặng núi Chu Pong và xung quanh căn cứ hỏa lực X Ray và Albany. Với tổn thất này được quân chính quy CSBV chào đón quân Mỹ bằng 1 trận đia chiến khốc liệt mà Mỹ không ngờ tới. Tại chính quốc Mỹ, cho đây là một tổn thất đầu tiên quá nặng ngoài sự tưởng tượng của nhiều người, đã gây xôn xao dư luận ở khắp nước Mỹ. Vì họ tin rằng với các phương tiện chiến tranh tối tân nhứt của thế giới thời bây giờ với một quân đội khổng lồ về mọi mặt khi đến chiến trường Việt Nam sẽ thu gặt chiến thắng như thọt tay lấy đồ trong túi vậy. Lúc bấy giờ, một số chính trị gia hay các nhà hoạch định chính sách Mỹ cứ tưởng quân đội Mỹ với sự tối ưu mọi phương tiện chiến tranh và "tiền rừng bạc biển"của 1 đại siêu cường quốc, đứng đầu thế giới, khi đưa đại quân tới chiến trường mà đối phương lại nghèo khổ, thiếu thốn đủ mọi thứ, dân chúng miền Bắc VN lầm than khốn khó. Nhứt là phương tiện chiến tranh, máy bay, tàu chiến...CSBV không có nhiều ở Miền Bắc và không có xuất hiện ở chiến trường Miền Nam, Quân đội Mỹ sẽ đè bẹp, tha hồ tiêu diệt dễ dàng từ 1 đến 2 năm hay 3 năm là cùng.
Chiến tranh Việt Nam, kéo dài đến năm 1968, sau 3 năm trực tiếp chiến đấu, quân Mỹ đã ngốn ngân sách quốc phòng hàng bao nhiêu tỷ và có hàng ngàn lính Mỹ tử trận mà cuộc chiến tranh VN chưa biết bao giờ kết thúc. Phong trào phản chiến Mỹ đã nhen nhúm từ sau sự chiến bại đẫm máu của quân Mỹ tháng 11 năm 1965 tại Ia Drang, nay đã dần dần lớn lên. Sau cuộc Tổng Tấn Công và Nổi dậy của CSBV Tết Mậu Thân - năm 1968, phong trào phản chiến đã trổi dậy mãnh liệt trên khắp nước Mỹ, đặc biệt là tại các trường đại học danh tiếng của Mỹ với bao nhiêu cuộc xuống đường rầm rộ thường xuyên chống Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Và các cuộc chống đối, phản chiến này lây lan sang các nước phương tây và thế giới. Trước đây, chiến trường VN chỉ có ở rừng núi, địa thế hiểm trở hay các làng mạc xa xôi, tiền đồn heo hút. Đến năm 1968, CSBV đưa chiến trường vào thành phố, thị xã, tỉnh lỵ ngay cả Thủ đô Sàigòn của VNCH, Tòa Đại Sứ Mỹ , thành phố cổ Huế và hàng chục tỉnh lỵ, thị xã... Khắp 4 vùng chiến thuật đều đồng loạt bị tấn công, dù sau đó CSBV bị quân Việt Mỹ và đồng minh đánh trả mãnh liệt gây tổn thất vô cùng lớn lao cho quân CSBV và VC. Hầu hết các cơ sở nằm vùng của CS ở Miền Nam đều bị lộ diện, phải rút chạy vào bưng biền.. Sự kiện này, CSBV dù thua đậm về phương diện quân sự với tổn thất khắp các mặt trận rất nặng nề. Nhưng, CSBV đã giáng một đòn chính trị chí tử vào chính thể VNCH và Chính phủ Mỹ, CSBV đã thu gặt chiến thắng vẻ vang về mặt tuyên truyền, ngoại giao, chính trị trên các diễn đàn quồc tế và quan trọng nhứt là tại chính quốc Hoa Kỳ. Sự kiện này đã thúc đẩy mạnh mẽ, đưa phong trào phản chiến Mỹ lên cao tột đỉnh , có cơ hội kích động lòng dân Mỹ chống lại chiến tranh ở VN bằng mọi giá. Cuộc chiến VN đã thật sự sa lầy, Mỹ bị ràng buộc quyền lợi với 2 siêu cường cộng sản Tàu và Liên Sô nên Mỹ bị cột tay, không thể tốc chiến tốc thắng CSBV mà người dân Mỹ phải hy sinh xương máu càng ngày càng lên cao và tổn phí ngân sách quốc phòng càng ngày càng chồng chất nhiều, bất tận...
Cái gì đến tất phải đến, Hoa Kỳ đi đêm với Trung cộng để chấm dứt chiến tranh VN càng sớm càng tốt và Hoa Kỳ đưa được tù binh trở về cố quốc. Cuộc chiến VN kết thúc bi thảm cho Miền Nam VN - chính thể VNCH bị sụp đổ toàn diện từ ngày 30.4.1975. CSBV cũng như Mỹ đều chiến thắng trên phương diện nào đó như họ mong muốn, tự thỏa mãn.
TÌNH HÌNH CHIẾN SỰ NĂM 1966
Sau 6 tháng (từ tháng 4 đến tháng 11 năm 1965), quân Mỹ ồ ạt tự do đổ quân lên bãi biển Đà Nẵng chuẩn bị cho cuộc chiến mới tại VN, cũng là thời gian quân CSBV điều nghiên kỹ tại các chiến trường. Nhìn chung, trận địa nào mà cộng quân thiếu chuẩn bị địa hình, quân số ít chúng luôn lẩn trốn, tránh né đụng độ (áp dụng chiến thuật du kích chiến). Cộng quân phải có số quân áp đảo, đông nhiều hơn đối phương ít nhứt gấp 3 lên đến gấp 5 gấp 10. Một điều dễ hiểu, lúc bấy giờ, di chuyển quân, CS thường dùng phương cách "bôn tập" đi thật nhanh hoặc chạy bộ (sức người có hạn) luồn lách trong rừng núi, địa hình hiểm trở, ngụy trang che giấu khi di chuyển để kịp tiếp viện hay đến vị trí chọn lựa được chuẩn bị trước để mai phục...Cộng quân vừa tiến hành chiến thuật du kích chiến vừa là vận động chiến bằng sức người, chưa đủ sức trực diện chiến đấu với quân đồng minh, vì quân Mỹ giàu về hỏa lực phi pháo yễm trợ, di chuyển quân cực nhanh bằng trực thăng hay máy bay vận tải... đến trận địa.
Cái yếu điểm nhứt của Quân Đội Mỹ hay nói chung là người dân Mỹ là sợ chết vì là con nhà giàu, công tử, dù có hỏa lực mạnh, di chuyển nhanh gấp nhiều lần so với đối phương khi phải ra trận đánh đấm. Vì sự quý trọng sinh mạng cho nên bất cứ cuộc hành quân nào của quân Mỹ cũng đều lệ thuộc vào phi pháo mở đầu cuộc chiến, dọn đường cho bộ chiến tấn chiếm mục tiêu như là báo trước cho cộng quân biết sẽ có cuộc hành quân đổ xuống khu vực đó, đánh mất yếu tố bất ngờ, bí mật. Suốt gần 6 tháng đầu tiên từ tháng 4.65, đại quân Mỹ đổ bộ lên Đà Nẵng, các đơn vị được phân bổ đi các chiến trường vùng Cao Nguyên hay Vùng I Chiến Thuật, kể cả Vùng III Chiến Thuật, luôn có những cuộc hành quân lùng và diệt địch của tất cả đơn vị Mỹ khi đã đến VN mà vẫn không chạm địch mạnh. Lúc bấy giờ, quân CS còn ít, yếu thế, các đơn vị lớn chủ lực chính quy, chưa di chuyển nhiều từ Bắc vượt theo đường mòn Hồ Chí Minh và khu phi quân sự vào Nam. Khi các đại đơn vị chủ lực chính quy, thiện chiến của CSBV đã hiện diện đông đảo tại Vùng I và Vùng II Chiến Thuật, CSBV mới dám thử lửa với quân Mỹ. Đây là trận địa chiến có mục tiêu hiện rõ trên bản đồ. Còn trước đó, đối với các đơn vị nhỏ hay địa phương, cộng quân luôn di chuyển, phân tán mỏng, khi ẩn khi hiện. Trên phóng đồ hành quân chỉ ghi dấu là khu rừng núi, đồng ruộng hay làng mạc mà cộng quân đang đóng quân (ẩn trú) chiều hôm trước cộng quân tập trung xuất hiện đông đảo được tình báo khẩn báo về cơ quan chỉ huy và nơi đây đã hoạch định ngay cuộc hành quân cho sáng hôm sau, cũng trải qua hơn 10 tiếng đồng hồ. Cộng quân có thể di chuyển ngay ban đêm, cách địa điểm cũ 5, 10 cây số hay xa hơn nữa né tránh hay bố trí trận địa mới để "dụ địch" vào trận địa mà cộng quân bày binh bố trận sẵn có thể thắng hoặc "địch" không tới, cộng quân cũng bảo toàn lực lượng chờ cơ hội thuận tiện khác...
Ngày nay, dưới con mắt của những người từng trải chiến đấu, có tầm nhìn chiến thuật, chiến lược, những thức giả am hiểu tình thế, sở trường sở đoản của quân Mỹ, CSBV và VNCH trong cuộc chiến ý thức hệ quốc cộng 30 năm ở VN. Nếu chỉ để QLVNCH đối chọi với đạo quân đông đảo của CSBV, Mỹ và quân đồng minh khác đứng ngoài vòng chiến, chỉ yểm trợ tối đa phương tìện chiến tranh: súng tốt, đạn nhiều, phi pháo dồi dào, đời sống gia đình người lính được bảo đảm, CSBV không tài nào mà chiếm được Miền Nam VN. Ai cũng biết, quân CSBV nghèo khổ rớt mồng tơi và thiếu thốn dù được Tàu cộng và Liên Sô hà hơi tiếp sức, chỉ có giúp nhiều phương tiện chiến tranh. Trong khi đó, QLVNCH trang bị đầy đủ và được trui rèn huấn luyện tốt như một quân đội chính quy hiện đại với đầy đủ cơ giới, máy bay, tàu chiến các loại, pháo binh, súng đạn được tiếp tế nhanh chóng dồi dào.... Ai cũng thấy, thời Đệ Nhất Cộng Hòa, sau năm 1956, Cố vấn Mỹ chỉ có 800 người mà QLVNCH luôn làm chủ chiến trường, chiến thắng và chiến thắng liên tục dù quy mô chưa lớn như sau này. Hơn nữa, QLVNCH đã chận đứng được nguồn tiếp vận về người và vũ khí từ miền Bắc tuồn vào chiến trường Miền Nam. Với Quốc Sách Ấp Chiến Lược đã vô hiệu hóa sự xâm nhập của cán bộ CS vào sống lẫn lộn với dân chúng, chặn được nguồn tiếp tế quan trọng này của CS. Đến cuối năm 1964, Cố Vấn Mỹ tăng lên 23 ngàn người, chiến tranh chưa leo thang cao. Từ năm 1965 đến năm 1967, ngoài Cố Vấn Mỹ ở các đơn vị từ cấp Tiểu đoàn trở lên và nhiều đại đơn vị Mỹ đến VN, tính chung lên 485 ngàn người. Đến năm 1968, con số này vượt trên 550 ngàn quân Mỹ, nếu tính cả các đơn vị đồng minh khác, quân "ngoại nhập" - không phải QLVNCH lên gần 600 ngàn người. Chưa kể, sau vụ CSBV mở chiến dịch với cái gọi là tổng công kích tổng nổi dậy Tết Mâu Thân - 1968, Chính Phủ VNCH có lệnh tổng động viên, đưa quân số QLVNCH lên trên 1 triệu 100 ngàn quân nhằm đối phó với sự gia tăng khủng khiếp quân số chính quy của CSBV tràn ngập các chiến trường Miền Nam VN.
Tháng 11 năm 1965, trận chiến Ia Drang ở Vùng II Chiến Thuật đã đi vào quân sử Mỹ với một sự thảm bại của 1 tiểu đoàn bộ binh, có 400 quân tham chiến mà vừa chết và bị thương suýt soát 300 người, dù sau đó quân Mỹ vẫn chiến thắng. Kế tiếp năm 1966, trận chiến khốc liệt khác là Trận đánh Thung lũng A Shau mà quân chính quy CSBV đã tràn ngập chiếm được căn cứ. Trại Lực Lượng Đặc Biệt A Shau với 2 đại đội dân sự chiến đấu, trên 400 quân, đa số là người Nùng, 17 chiến sĩ Mũ Xanh Mỹ cùng trên 10 thông dịch viên...(Tôi sẽ viết tiếp theo bài này về sự tương quan lực lượng và tổn thất của đôi bên cũng như mô tả tỉ mỉ về địa thế của Trại LLĐB A Shau).
Chiến trường VN thật sự sôi động khi 2 quân đội chính quy Mỹ và CSBV đổ quân ồ ạt vào chiến trường VN với các loại vũ khí hiện tại tối tân của Mỹ và cuả khối CS quốc Tế Nga Tàu. Trong khi đó, QLVNCH vẫn còn sử dụng những loại vũ khí "tàn dư" của thời Đệ Nhị Thế Chiến (1939 - 1945) và Chiến tranh Cao Ly (1950 - 1953), mãi cho đến trận chiến Tết Mậu Thân - 1968, chính phủ Mỹ mới viện trợ súng mới M16, thay thế súng Garant M1, Carbine M1 lỗi thời, Đại liên 30 được thay thế đại liên 50...Trực thăng "gìa khú đế" ì ạch nặng nề H21 gây tai nạn thường xuyên được thay thế HU1, kể cả chiến đấu cơ cánh quạt chậm chạp cũng được tăng cường thêm chiến đấu cơ phản lực F5, tàu chiến cũng vậy, toàn là loại tàu "second hand". Mỹ viện trợ những vũ khí, phương tiện chiến tranh loại cũ mèm, phế thải được tân trang đôi chút. Nếu chính sách viện trợ của Mỹ thật lòng giúp QLVNCH làm nỗ lực chính để chiến đấu chống CSBV như cung cấp các phương tiện, vũ khí tối tân như các đơn vị Mỹ thì chắc chắn không có ngày Quốc Hận 30.4.1975 nhục nhã và đau buồn. (Đề tài này còn tiếp thêm 1 bài nữa).
Việt Nam Cộng Hòa ơi!
Trời đã sanh ra VNCH, sanh lầm thế kỷ, cầm tinh một ngôi sao xấu. Ô Hô buồn ơi là buồn!!!
Trần Văn Ngà (Khóa 13 Thủ Đức)
LINK:
https://www.baoquocdan.org/2026/10/nho-chien-truong-xua_01868532728.html




