Wednesday, March 29, 2023

KHÓC QUỐC HẬN THÁNG TƯ

 


 

KHÓC QUỐC HẬN THÁNG TƯ

 

Tháng Tư xưa đất nước mình: Chuông tử

Khóc mệnh người hay mệnh nước mạng vong

Tang chiến sĩ, tang đồng bào: Tin dữ!

Huyết lệ nào rơi xuống giữa mênh mông

Rừng núi hú tiếng hờn nghe ai oán

Đôi giày Saut còn chân dấu chiến binh

Xác dân lành xoáy vết hằn: Lỗ đạn

Mắt trừng trừng nhìn quê mẹ điêu linh

Con phố nhỏ giờ hồn phi phách tán

Con ở đâu, nhà rực lửa con ơi...

Đạn pháo kích réo trên đầu, chạy loạn

Tiếng Mẹ gào... Thét vang động đất trời

Tang quả phụ: Thời thanh xuân đã mất

Hương sắc em giờ phai nét ngọc trân

Thắp nén hương như ngày xưa khóc ngất

Bên mộ chồng: Cờ phủ buổi Tri Ân

Ngày Tháng Tư. Dẫu có ngàn năm nữa

Cũng chẳng nguôi nỗi hận ngút trời này

Đêm Tháng Tư. Người chết thây đã rữa

Hồn lang thang sao vương vấn trời mây

Cuối Tháng Tư nhìn trời mưa nhỏ lệ

Nghe lòng mình nghèn nghẹn nỗi oan khiên

Màu Áo Trận đã một thời ngạo nghễ

Buông súng rồi... Khóc sông núi ngả nghiêng...

 

Như Thương

(Quốc Hận Tháng Tư 2023)

 

Monday, March 27, 2023

Tưởng nhớ: Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang (1944 - 27/3/2011)

 

  

 

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang (1944 – 27 tháng 3, 2011) là một nhà báo, đồng thời là một nhạc sĩ. Anh sinh năm 1944 ở Sơn Tây, Bắc Việt. Năm 1954 khi Việt Nam bị chia đôi thì anh theo gia đình di cư vào Nam, định cư ở Đà Lạt. Anh nhập học và tốt nghiệp Trường Đại Học Đà Lạt – Phân Khoa Chính Trị Kinh Doanh.

 

Bắt đầu từ thập niên 1960 anh được biết đến qua nhiều nhạc phẩm với chủ đề thanh niên, tranh đấu, và cộng đồng. Tác phẩm đầu tay của anh là “Gươm Thiêng Hào Kiệt”, viết vào năm 1961 cho Phong Trào Hướng Đạo. Cuối năm 1965, anh cùng các bạn thành lập ban Trầm Ca, phổ biến các bài hát có tinh nhận thức, nhạc tranh đấu xã hội và nhạc sinh hoạt thanh niên.

 

Sau đó anh cùng với ban Trầm Ca và một số huynh trưởng hoạt động thanh niên thành lập Phong Trào Du Ca Việt Nam vào cuối năm 1966 tại Miền Nam Việt Nam. Tác phẩm nổi tiếng của anh phải kể những bài “Chiều Qua Tuy Hòa”, “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ”, “Về Với Mẹ Cha”, “Bên Kia Sông”, “Xin Chọn Nơi Này Làm Quê Hương”. Trong Phong Trào Hướng Đạo tại Việt Nam, anh là một hướng đạo sinh và một trưởng hướng đạo.

 

Năm 1979 anh đến định cư ở Little Saigon, California, Hoa Kỳ. Anh hợp tác với các Nhật báo Người Việt, Viễn Đông rồi sau đó đứng ra lập tuần báo Chí Linh và Nguyệt san Phụ Nữ Diễn Đàn. Một thời anh cũng đóng góp trên chương trình phát thanh và truyền hình VOC. Hướng đạo Việt Nam đã tặng anh giải thưởng cao quý nhất: Bắc Đẩu Huân Chương.

 

Sau một thời gian lâm trọng bệnh sau khi bị tai biến mạch máu não, anh từ trần lúc 4:00 AM ngày 27 tháng 3 năm 2011 tại California, Hoa Kỳ.

 

Phong Trào Du Ca Việt Nam được thành lập năm 1966 tại Việt Nam cùng lúc với Phong Trào làm công tác xã hội của Thanh Niên, Sinh Viên, Học Sinh. Hai sáng lập viên của phong trào là anh Nguyễn Đức Quang và anh Đinh Gia Lập.

Phong trào Du Ca được thành lập với tôn chỉ: “Dùng tiếng hát chung của cộng đồng để tô điểm cho nền văn nghệ dân tộc một màu xanh đầy hy vọng, đưa mỗi người đến gần nhau hơn để cùng lo xây đắp một quê hương tươi sáng”.

Chủ tịch phong trào từ 1967 là dược sĩ Hoàng Ngọc Tuệ và đến năm 1972 được thay thế bởi Đỗ Ngọc Yến. Trưởng xướng Du Ca do nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang điều hành, đến năm 1972 được thay thế bởi Ngô Mạnh Thu tức nhạc sĩ Trần Tú.

Phong trào được Bộ Quốc Gia Giáo Dục và Thanh Niên Việt Nam Cộng Hòa công nhận chính thức và cấp giấy phép hoạt động trên toàn quốc Nghị định số 319/GDTN/TN/NĐ ngày 24 tháng 1 năm 1969, tại Sài Gòn.

Du Ca quy tụ khá nhiều các nhạc sĩ tên tuổi, cũng như nhiều nhạc sĩ trẻ xuất phát từ phong trào: Nguyễn Đức Quang, Phạm Duy, Ngô Mạnh Thu, Trầm Tử Thiêng, Anh Việt Thu, Nguyễn Quyết Thắng, Giang Châu, Trần Đình Quân, Lý Văn Chương, Lê Quang Dũng, Nguyễn Văn Phiên, Võ Thị Xuân Đào, Fa Thăng.

SOURCE: Tân nhạc Việt Nam - Nhạc Du Ca

https://dotchuoinon.com/2015/08/17/tan-nhac-viet-nam-nhac-du-ca/


Sinh Hoạt Văn Nghệ Vinh Danh Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang (1944-2011)


Dòng nhạc du ca của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang và ca khúc “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ”

“… Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người

Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam

Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian

Hỡi những ai gục xuống trỗi dậy hùng cường đi lên… “

 

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang hát "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ" (2007)

 

Đó là lời nhạc trong bài hát “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ”, ra đời năm 1966, nhạc phẩm tiêu biểu nhất của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, con chim đầu đàn của phong trào Du ca Việt Nam. Những giai điệu của bài ca bất tử này, mỗi khi nghe lại đều khiến lòng người rạo rực một nguồn sống dâng lên khó tả.


Liên Khúc: "Việt Nam !Việt Nam" & "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ"- Trần Huân Channel

 
 
 
 Đường Việt Nam - Sáng tác: Nguyễn Đức Quang - Du Ca Phù Sa hợp ca năm 2020



Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang sinh năm 1944 tại Sơn Tây, cùng gia đình vào miền Nam năm 1954 và sinh sống tại Đà Lạt từ năm 1958. Về sau, ông theo học Viện Đại học Đà Lạt và tốt nghiệp phân khoa Chính Trị Kinh Doanh Khóa I. Thuở thiếu niên, từ năm 12 tuổi, ông tham gia Hướng-đạo, một phong trào trợ giúp giới trẻ trong việc phát triển tâm linh, tâm trí và sức khỏe để đóng những vai trò xây dựng trong xã hội. Sáng tác đầu tiên của ông vào năm 1961, ca khúc “Gươm Thiêng Hào Kiệt, được dành cho phong trào này, là khởi điểm cho những sáng tác thể hiện trách nhiệm của giới trẻ với nội tình đất nước.

Gươm thiêng hào kiệt - Liên đoàn Trùng Dương

 
 

Từ những năm 1963-64, Nguyễn Đức Quang bắt đầu sáng tác các ca khúc chủ đề thái độ của tuổi trẻ với quê hương và dân tộc, và cho ra đời tập ca khúc đầu tiên mang tựa đề “Trầm Ca” (những bài ca để suy nghĩ, trầm tưởng) với các tác phẩm để lại dấu ấn như “Nỗi Buồn Nhược Tiểu”, “Tiếng Hát Tự Do” và đặc biệt là “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ”. Đó là những bài hát cho thanh niên và thời cuộc khi ấy, phản ánh tâm trạng thao thức và muốn nhập cuộc.

Đây cũng là giai đoạn chuẩn bị cho sự ra đời của phong trào Du-ca Việt Nam vào năm 1966, mà Nguyễn Đức Quang là một thành viên sáng lập. Hồi tưởng lại, ông cho biết: Cuối năm 1965, sau khi đã sáng tác một số ca khúc, ông cùng một nhóm bạn học rất thân tại Đà Lạt cùng học hành, chơi đùa, ca hát và làm việc với nhau. Tuy nhiên, như ông nhớ lại: “Các bạn trong nhóm tôi không có ai sáng tác, chỉ có mình tôi làm nhạc, hát cho các bạn tôi nghe. Tôi không đi vào những con đường cũ của các nhạc sĩ đàn anh. Hầu hết những người làm thơ, viết nhạc đầu đời là những bài thơ tình, nhạc tình, và sống mãi với dòng nhạc đó. Phần tôi, sau những ngày tập tễnh với nhạc tình trẻ con, tôi quay hẳn sang một hướng khác không có mấy người làm. Nhạc của tôi sau này người ta gọi là nhạc cộng đồng, nhạc sinh hoạt, hay là một loại nhạc nào đó, một thứ tình cảm khác, một thứ tình cảm không phải chỉ dành cho hai người đang yêu nhau, mà là một thứ tình cảm thiết tha nói lên cái liên hệ giữa vùng đất và con người.” 

Vào thời điểm đó, giới nhạc sĩ – ngoài các vấn đề muôn thuở như tình yêu, thân phận con người – đã có nhiều sáng tác về thời cuộc, về vai trò và sự nhập cuộc của người dân với những biến cố lớn của đất nước. Đó là lúc Trịnh Công Sơn bắt đầu những ca khúc da vàng với xu hướng chính trị yếm thế, còn Phạm Duy thì cho ra đời nhiều ca khúc trong loạt 10 bài “Tâm Ca” để kêu gọi đoàn kết và đồng lòng. Đối với Nguyễn Đức Quang, “Tâm Ca” đã để lại ấn tượng rất lớn và là động cơ để ông theo đuổi con đường nhập cuộc, sáng tác phục vụ cộng đồng, xã hội và dân tộc từ khi mới 21 tuổi và đang theo học năm thứ nhất Viện Đại học Đà Lạt. Như ông kể lại, trong một cuộc gặp gỡ giữa Phạm Duy và nhóm các thanh niên tham gia công tác xã hội (dựng 200 căn nhà cho đồng bào Thượng, nạn nhân ᴄhιến cuộc), Phạm Duy đã hát liền 5 bài “Tâm Ca”, và Nguyễn Đức Quang cũng được mời trình diễn các bản “Trầm Ca”. Rốt cục, như ông nhớ lại:

Tôi bị nhạc của Phạm Duy hớp hồn như thế nào, thì ông ngạc nhiên về những ca khúc của tôi như thế. Sau đó hai bên gặp gỡ, với Phạm Duy, ông cho tôi là một khám phá mới. Nó khác hẳn những dòng nhạc của những người đi trước và cùng thời với ông. Do đó Phạm Duy đề nghị mỗi tuần gặp nhau một lần để hát cho nhau nghe những sáng tác mới. Nếu không có sáng tác mới thì đàm đạo chuyện văn nghệ. Tôi đã trình bầy cho Phạm Duy nghe toàn bộ những ca khúc trong tập “Trầm Ca” đặt vấn đề thanh niên đối với vận mạng đất nước, đưa ra những suy nghĩ của tuổi trẻ.” 

Những buổi gặp mặt “hát cho nhau nghe” ấy thúc đẩy nhóm “Trầm Ca” của Nguyễn Đức Quang tiếp tục các chuyến đi về địa phương và hoạt động xã hội. Ông kể lại: “Chúng tôi làm việc như điên cuồng, sáng tác, tập tành, đi trình diễn, đi huấn luyện. Chúng tôi không còn biết đến một điều gì khác ở cái tuổi 20 lúc đó. Tôi không hiểu nhóm tôi sống bằng cách gì. Hễ có nơi nào “ới một tiếng”, là chúng tôi khăn gói lên đường. Về phương tiện di chuyển thì nơi nào ới, nơi đó chịu trách nhiệm. Còn ăn uống thế nào cũng xong, ngủ nghê chỗ nào mà chả được”.

Nhóm Du ca Việt Nam đã ra đời như thế vào năm 1966, sau những chuyến đi bất tận phục vụ cộng đồng, quy tụ nhóm bạn từ ngày ở Đà Lạt, với Trưởng xưởng Du-ca do Nguyễn Đức Quang điều hành và quy tụ nhiều nhạc sĩ, các cây bút trẻ khác. Xuất phát từ lý tưởng phục vụ một xã hội sống tốt đẹp với một tâm thức mới, Du-ca đẩy mạnh các công tác phục vụ văn hóa, để xây dựng tâm hồn cho người tham dự. Hoạt động của Du-ca, dưới lời kể của nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn:

“Du-ca có nghĩa là đi đây, đi đó để hát. Các buổi trình diễn như thế thường diễn ra tại các sân trường đại học, các giảng đường, sân vận động, các trại hè hay một nơi nào đó có những sinh hoạt cộng đồng và đám đông tụ tập, vào thời ấy có thể là một trại tị nạn, mục đích chính chỉ là để “hát cho nhau nghe”, cho đỡ buồn, để thắp lại hy vọng… ᴄhιến tranh vừa xua đuổi vừa bao vây, người ta không còn biết chạy đi đâu cho thoát. Cũng không ai biết đến bao giờ nó mới chấm dứt. Phong trào du ca được hình thành trong những ngày khốn khổ đó”. Hòa mình và hết sức với phong trào, Nguyễn Đức Quang đã để lại nhiều sáng tác lừng danh, như “Xin Chọn Nơi Này Làm Quê Hương (phổ thơ Nguyễn Ngọc Thạch) với tâm thức không chối bỏ đất nước trong cơn binh biến gian khổ:

Xin chọn nơi này làm quê hương dẫu cho khó thương

Ta cùng lo chạy từng lưng cơm áo che thân tàn

Khi mùa mưa về cùng lem nhem bước trên ngõ trơn

Khi giặc lan tràn cùng lo âu trắng đôi mắt đen…

Nói về ma lực của Nguyễn Đức Quang qua các bản hùng ca mà ông cùng nhóm Du-ca trình diễn trong các chuyến đi, Nguyễn Đình Toàn nhận xét: “Loại nhạc để trình diễn trên sân khấu, trước những đám đông, ngoài âm điệu và lời ca thường còn phải có vài điều gì khác để cho ca sĩ biểu diễn, bằng động tác, bằng nét mặt, nếu không sẽ trở thành nhạt nhẽo đối với khán giả. Nguyễn Đức Quang có đủ các điều kiện để thành công trong “thế giới du ca” của ông: đàn ngọt, hát hay, có duyên, nắm vững nghệ thuật nói trước đám đông, trình diễn nồng nhiệt”

Còn nhà báo Bùi Bảo Trúc thì lại nhìn thấy sự quyến rũ của ông qua hành động nhập cuộc: “Nguyễn Đức Quang không đứng ngoài để đi hành quân làm lính cậu. Không một lời thù hận bên này hay bên kia. Nguyễn Đức Quang là tiếng hét nhân bản, là lời réo gọi của nguyên một thế hệ sắp bị mất đi những giá trị của một xã hội đang bốc cháy. Nguyễn Đức Quang không phòng trà não ruột, không tình ái bi thảm, không chính trị một chiều, không thù hận đằng đằng. Nguyễn Đức Quang đến với người nghe và nhất là những người hát nhạc của ông bằng tất cả chân tình của một thanh niên Việt”. 

Trong cảnh chinh ᴄhιến không có điểm dừng, khi không ít nhạc sĩ đương thời có cái nhìn bi quan, yếm thế, oán trách quá khứ, thời cuộc, thì Nguyễn Đức Quang đã đem lại góc nhìn trách nhiệm và khỏe khoắn, hướng người nghe về những bổn phận công dân trong tinh thần dân tộc, như trong bài Về với mẹ cha”:

Từ Nam Quan, Cà Mau

Từ non cao rừng sâu

Gặp nhau do non nước xây cầu

Người thanh niên Việt Nam Quay về với xóm làng

Tiếng reo vui rộn trong lòng

Cùng đi xoay Hoành Sơn

Cùng đi lay Trường Sơn

Cùng đi biến rừng hoang ra lúa thơm

Vượt khơi ra đảo xa, Lướt ngàn nước sang nhà

Ta đắp bồi cho Mẹ Cha

Nhìn non sông tả tơi

Tình quê hương đầy vơi

Người thanh niên Việt Nam ngậm ngùi

Chờ chi không vùng lên

Thiết tha với dân lành

Cứ co ro ngồi sao đành

Nào anh em cùng nhau

Người trước lo người sau

Cùng đi cho quên hết tiếng nghẹn ngào

Ðường gân căng bàn tay

Mắt trong như sao trời

Nơi quê hương là sáng ngời

 

Cũng có lúc, Nguyễn Đức Quang đau xót và giận giữ trước cảnh lòng người ly tán, bất hòa: “Hàng chục năm qua ta ngồi ngó nhau – Nghi ngờ nhau, khích bác nhau – Cho cay cho sâu, cho thật đau”, và khẳng định trong ca khúc “Không Phải Là Lúc”:

Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi

Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới

Không phải là lúc ta ngồi mà cãi suông

Không tin nơi nhau thế ta định nhờ ai dẫn đầu

Thế giới ngày nay không còn ma quái

Thần tượng tàn rồi, còn anh với tôi

Chúng ta đi tới bằng cái tầm thường thôi

Làm việc đi không lo khen chê

Làm việc đi hãy say và mê

Cứ bắt tay từ từ chúng ta giải quyết

Mình chậm chân theo sau người ta

Còn ngồi đây nghĩ lo viển vông

Thắc mắc ngại ngùng đến lúc nào mới làm xong

 

Như thế, không chỉ ngồi ngoài đặt vấn đề, Nguyễn Đức Quang còn trực tiếp xắn tay nhập cuộc cùng giới trẻ, kêu gọi tuổi trẻ đến với nhau cùng xây dựng một đất nước và niềm tin. Do đó, nhạc của ông có tâm cảm của một con người khao khát hòa bình, nhưng không thiên về bên nào, như theo lời ông, không làm chính trị cho dù mang ý thức chính trị cao. Cũng như vậy, Nguyễn Đức Quang tự hào vì tính độc lập, không lệ thuộc vào bất cứ cá nhân hoặc phe nhóm nào của phong trào Du-ca, điều khiến nó có được tác động mạnh mẽ và sâu rộng trong cộng đồng. Tuy nhiên, Nguyễn Đức Quang không chỉ sáng tác thể loại nhạc hùng, kêu gọi xã hội. Ông còn làm những bản tình ca được nhiều người biết đến và tới nay vẫn nhớ, mà điển hình là “Cần Nhau”, “Vì Tôi Là Linh Mục” và nhất là “Bên Kia Sông(phổ thơ Nguyễn Ngọc Thạch):

Này người yêu, người yêu tôi ơi

Bên kia sông là ánh mặt trời

Này người yêu, người yêu anh hỡi

Bên kia đồi cỏ hoa đan lối

Bên kia núi, núi cao chập chùng

Bên kia suối, suối reo lạnh lùng Là bài thơ toàn chữ hư vô

Này người yêu anh ơi!

Cho anh nồng ấm cuộc đời

Hoa thơm có ánh mặt trời

Ôi núi mừng vì mây đến rồi!

Này người yêu, người yêu anh hỡi!

Yêu nhau mình đưa nhau tới

Bước nhẹ và nói bên môi

Nói cho vừa… mình anh nghe thôi!

Này người yêu, người yêu anh ơi!

Bên kia sông đường vẫn còn dài

Này người yêu, người yêu anh hợi!

Bên kia đồng cỏ non đan lối

Trong cơn gió, thoáng nghe nực cười

Trong khe núi, thánh thót lòng người

Lòng đòi tình vật vã không nguôi

Này người yêu anh ơi!

Ðêm đêm lòng vỗ tình dài

Dây xanh quấn quít vào đời

Cho trái tình nở trên tiếng cười

Này người yêu, người yêu anh hỡi!

Bên trong lòng nôi êm ái

Rắc nhẹ từng cánh sao rơi

Sẽ âm thầm mình em nghe thôi!

 

Yêu người, yêu đời để sống có trách nhiệm với đất nước, dân tộc là điểm chính yếu trong con người và sự nghiệp ca hát của Nguyễn Đức Quang, và được ông giữ trong suốt phần đời còn lại khi sống xa quê hương. 

Bài viết của tác giả Hoàng Linh

SOURCE:

https://nhacxua.vn/nhac-si-nguyen-duc-quang-va-ca-khuc-viet-nam-que-huong-ngao-nghe/?fbclid=IwAR3YcCiFeLrjJh5JGOSoonaHLPjCCifDWyGSezcYNN0p3lpH1GEoPZfAbQs

 


 

 


"...“Nhạc Nguyễn Đức Quang nhắc người ta biết tự hào về quê hương, dân tộc. Đó chính là điều tuổi trẻ gốc Việt đang cần....”

SOURCE:

Cháu ngoại nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang làm phim ‘Son of Vietnam: Nguyễn Đức Quang’

https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/chau-ngoai-lam-phim-ve-nhac-si-nguyen-duc-quang/

 .

 Ước mơ Việt: Diễn Đàn Tối Thứ Ba Radio- Tưởng Niệm nhạc sĩ Du Ca Nguyễn Đức Quang


 

 oOo