Wednesday, January 25, 2023

50 năm Hiệp định Paris: Thắng lợi vĩ đại hay hòa bình cay đắng? - Toàn văn bản Hiệp Định Paris 1973

 Tường An

24/01/2023

https://docs.google.com/document/d/1lhlJ5LXjpLetrkpGY7W9tsqQsQZm0MAy/edit?usp=share_link&ouid=106381647024774111691&rtpof=true&sd=true

 

Ngày 27 tháng 1 năm 1973 đánh dấu một bước ngoặt lịch sử, quyết định số phận của miền Nam Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) trên bàn Hội nghị tại Paris. Hiệp định Hòa bình Paris được ký kết với hy vọng mang lại hòa bình cho Việt Nam nhưng nó đã bị vi phạm nghiêm trọng và hòa bình đạt được không như mong muốn.

"Vừa đàm vừa đánh"

Theo thống kê của Chính phủ Việt Nam, để đi đến ký kết Hiệp định, các bên đã phải trải qua 201 phiên họp chung công khai và 45 cuộc tiếp xúc riêng giữa Mỹ và Bắc Việt Nam kể từ khi bắt đầu vào ngày 10/5/1968, 500 buổi họp báo và hơn 1.000 cuộc phỏng vấn.

 

Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Vietnam, signed in Paris and entered into force January 17, 1973.

 

https://docs.google.com/document/d/18DBkjOXGEtgOnR9fERZQbSQpSywoSiAk/edit?usp=share_link&ouid=106381647024774111691&rtpof=true&sd=true


(Text from TIAS 7542 (24 UST 4-23)


AGREEMENT ON ENDING THE WAR AND RESTORING PEACE IN VIET-NAM

The Parties participating in the Paris Conference on Viet-Nam,

With a view to ending the war and restoring peace in Viet-Nam on the basis of respect for the Vietnamese people's fundamental national rights and the South Vietnamese people's right to self-determination, and to contributing to the consolidation of peace in Asia and the world,

Have agreed on the following provisions and undertake to respect and to implement them:

 

Toàn văn bản Hiệp Định Paris 1973.

Bản Scan

https://docs.google.com/document/d/13pbNRyRZe_voGOn5bucuyckMlbuXMCge/edit?usp=share_link&ouid=106381647024774111691&rtpof=true&sd=true

 

Mỗi người Việt yêu nước nên đọc hết Hiệp Định nầy.

Chú ý Chương V Điều 15Chương VIII Điều 21 để thấy thêm tội ác của đảng CSVN đối với dân tộc và đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta.

 




Tuesday, January 24, 2023

Thiệp Chúc Xuân Qúy Mão 2023 của các Quân Binh Chủng Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa.

 


 


 


 


 


 


 


 

.

Xuân nhớ chiến sĩ - Quỳnh Giao

 31.12.2013

Ngày xưa ở nhà, cứ đến gần Tết chúng ta lại được thấy khắp nơi tổ chức "Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ" để hỗ trợ cả tinh thần lẫn tài chánh các gia đình binh sĩ. Phong tục rất đẹp ấy không còn nữa, nhưng chúng ta vẫn nghe thấy câu nói quen thuộc "Vui Xuân Không Quên Chiến Sĩ!" Ngày nay, nhiều khi chỉ là lời nói đùa, nhưng giọng trìu mến thiết tha thì không lầm được.

Quỳnh Giao cảm thấy sự trìu mến ấy khi nhớ lại là các nhạc sĩ của chúng ta đều soạn ca khúc về Xuân trong đó có hình ảnh người lính chiến. "Xuân Nhớ Chiến Sĩ" là chủ đề không thể thiếu trong các ngày xuân.

Có lẽ người đầu tiên viết ra điều ấy từ thời Tiền Chiến là một nhạc sĩ có tài mà nhiều người bây giờ đã quên mất rồi.

Ðó là Ngọc Bích và bài "Xuân Nhớ Chiến Sĩ", trong sáng và tha thiết trên nhịp Slow âm giai Trưởng, với những câu như "Chim ca vang mừng Mùa Xuân sang, trong gió Xuân lòng nhớ mong chàng", hay "Em yêu ai lạnh lùng biên cương"... Khi còn bé, người viết thích được nghe các cô Mộc Lan, Tâm Vấn trình bày ca khúc này với giọng lảnh lót đáng yêu.

 


 

Về sau, vào một dịp cuối năm ở hải ngoại, ban nhạc Star Band của Ngọc Bích với Bác Sĩ Phạm Gia Cổn cùng các bạn nhạc sĩ Nguyễn Hiền, Lê Quang Anh, Nguyễn Ðức Lưu và cả Trần Trịnh vừa mới sang được Hoa Kỳ đã tổ chức một đêm hát cho nhau nghe nhạc Ngọc Bích. Lần đó, có Kim Tước, Mai Hương và Quỳnh Giao. Dĩ nhiên là người viết chọn hát "Xuân Nhớ Chiến Sĩ" sau khi hát "Ðôi Chim Giang Hồ" cũng là bài mình yêu thích.

Mà nhạc của Ngọc Bích thì bài nào cũng thích cả! Ðầy chất lãng mạn, có nét gì đó rất mới, rất văn minh. Thời nay hát lại vẫn thấy hợp thời, không cũ kỹ, già nua như nhiều ca khúc tiền chiến. Ban Star Band ngày nào giờ đây thiếu vắng vài người rồi. Nghĩ đến lại thấy ngậm ngùi.

Sáng tác cho lính cũng là sở trường của Trần Thiện Thanh.

Ông có bài "Ðồn Vắng Chiều Xuân" hay và đẹp. Hình ảnh như câu hỏi, "nếu mai chưa nở, anh đâu biết Xuân về hay chưa?" ghi đậm nỗi thương yêu chan chứa gửi người lính chiến ngoài biên khu. Tuy viết trên điệu Bolero, ca khúc nghe rất sang chứ không rẻ tiền như nhiều bài Boléro khác. Mỗi dịp Xuân về, người trình bày hay nhất chính là tác giả trên làn sóng của đài phát thanh Quân Ðội.

 


 

Người viết nhớ mãi năm Mậu Thân 68, tiếng súng ì ầm hàng đêm và giờ giới nghiêm rất sớm. Vậy mà hàng ngày cùng với chị Mai Hương, anh Thanh Vũ và em gái Nhật Trường là Như Thủy lên đài Quân Ðội ghi âm những ca khúc chiến dịch trong ban "Tiếng Hát Ðôi Mươi" của anh Nhật Trường. Sau đó thì thu ngoại cảnh cho chương trình của anh trên đài TV tại quân trường Thủ Ðức. Quỳnh Giao cả sợ khi phải chạy qua hàng rào sắt với tiếng đạn mã tử nghe như thật. Sợ quá, không chạy nổi khiến đoàn quay phim cười ầm!

 


 

Nhật Trường và Thanh Vũ đã ra người thiên cổ, Như Thủy còn ở Việt Nam. Giờ đây, ban "Tiếng Hát Ðôi Mươi" ngày xưa chỉ còn Mai Hương và người viết. Nghĩ đến lại thấy ngậm ngùi...

Nhớ chiến sĩ vào dịp Xuân về, không thể quên "Phiên Gác Ðêm Xuân" của Nguyễn Văn Ðông. Mở đầu đã thấy thương cảm ở câu "Ðón giao thừa một phiên gác đêm". Chúng ta chạnh lòng nhớ người lính gác súng vào đêm trừ tịch trong đồn lính ở nơi xa xôi quạnh quẽ và nhớ ý thơ éo le ở câu kết "nếu Xuân về tang thương khắp lối... thì đừng đến Xuân ơi"...

 


 

Giọng pha lê của Hà Thanh qua làn sóng điện đã làm ấm lòng các chiến sĩ mỗi Mùa Xuân nhờ ca khúc này.

Tuy không có chữ "lính" hay "chiến sĩ" trong tựa đề, "Mộng Ðêm Xuân" của Tuấn Khanh cũng viết cho lính. Ðoạn chuyển khúc của ông có câu: "Người chiến sĩ mắt sáng ngời nghe tin Xuân đang về ngàn nơi". Bài hát là mộng đoàn viên êm ấm với gia đình khi Mùa Xuân đến. Viết trên nhịp Boston 3/4 dìu dặt, ca khúc được Duy Trác hát lên nhẹ nhàng, mơn trớn và đến nay vẫn là kỷ niệm đẹp.

Trịnh Lâm Ngân là bút hiệu chung của Trần Trịnh, Lâm Ðệ và Nhật Ngân. Họ cùng nhau sáng tác nhiều ca khúc ăn khách đã được thu thanh vào đĩa nhựa.

Bài "Mùa Xuân Của Mẹ" có lời từ đáng nhớ, nhưng nổi tiếng nhất là bài "Xuân Này Con Không Về". Nhạc đậm nét quê hương dân tộc qua giai điệu ngũ cung, lời ca thì đầy ý nghĩa. "Con biết bây giờ mẹ chờ tin con. Khi thấy mai đào nở vàng bên nương. Năm trước con hẹn đầu Xuân sẽ về, nay én bay về trước ngõ, mà tin con vẫn xa ngàn xa..."

 


 


 

Bài hát quê hương này qua giọng Duy Khánh ngày xưa thật nỉ non, thê thiết. Giờ đây hai người viết là Trần Trịnh và Nhật Ngân đều đã ra đi. Người hát là Duy Khánh cũng từ giã chúng ta từ nhiều năm qua. Nghĩ lại càng thấy ngậm ngùi...

Bản Xuân ca hay và nổi tiếng nhất của chúng ta chính là "Ly Rượu Mừng" của Phạm Ðình Chương, với những lời chúc tụng đầy đủ nhất đến tất cả mọi người mọi giới Sĩ, Nông Công Thương. Nhưng, lời chúc ý nghĩa và dài nhất là gửi cho các chiến sĩ. "Rót thêm tràn đây chén quan san, chúc người binh sĩ lên đàng. Chiến đấu công thành, sáng cuộc đời lành, mừng người vì nước quên thân mình. Kìa nơi xa xa có bà mẹ già, từ lâu mong con mắt hoen lệ nhòa. Chúc bà một sớm quê hương, bước con về hòa nỗi yêu thương..."

"Ly Rượu Mừng" của Phạm Ðình Chương - Ban hợp ca Thăng Long trình bày

 


Dù đã có biết bao nhiêu người hòa ca bài "Ly Rượu Mừng", người viết đặc biệt yêu thích nghe ca khúc này với ban hợp ca Thăng Long, nhất là giọng Hoài Trung ở câu kết: "Ước mơ hạnh phúc nơi nơi, hương thanh bình dâng phơi phới..."

Ngày Tết không thể thiếu "Ly Rượu Mừng" dù tác giả đã giã từ chúng ta hơn 20 năm, và ban hợp ca Thăng Long chỉ còn có Thái Thanh hiện hữu mà thôi...

Quỳnh Giao

SOURCE:

https://amnhac.fm/tap-ghi-quynh-giao/5298-xuan-nho-chien-si?fbclid=IwAR2MSHJ30ECiCr0CeH38cCJz2DsUJX_vVAL33WAQvA-1jP3ngbnFNQjPjuY

 

Monday, January 23, 2023

55 năm Tết Mậu thân 1968: vẫn còn góc khuất cần thêm nghiên cứu

 RFA

22/01/2023

 


Lính VNCH tham chiến tại Sài Gòn hồi Tết Mậu Thân 1968 /AP

 

Tết Quý Mão 2023 là kỷ niệm 55 năm sự kiện Tết Mậu Thân 1968. RFA phỏng vấn Tiến sĩ George Jay Veith về một vài khía cạnh của sự kiện này. Tiến sĩ George Jay Veith là tác giả của bốn cuốn sách về chiến tranh Việt Nam: “Mật danh Bright Light” (Code Name Bright Light, xuất bản năm 1998), “Không bỏ lại một ai” (Leave no man behind, 2004), “Tháng Tư đen” (Black April, 2012), “Tuốt kiếm viễn chinh” (Drawn Swords in a Distant Land, 2021).

 

RFA: Xin cảm ơn Tiến sĩ George Jay Veith đã dành cho thính giả của chúng tôi cuộc phỏng vấn về chiến tranh Việt Nam và Tết Mậu Thân 1968. Ông lớn lên sau chiến tranh nhưng đã viết bốn cuốn sách về nó. Tại sao ông quan tâm đến cuộc chiến đó?

 

Jay Veith: Vâng, tôi luôn rất quan tâm đến lịch sử quân sự. Từ nhỏ tôi luôn muốn trở thành một nhà nghiên cứu viết sách về quân sử. Rồi rất nhiều năm trước, một người bạn của tôi nhờ tôi giúp thực hiện một số nghiên cứu về POW (tù binh chiến tranh) / MIA (những người lính mất tích trong chiến tranh) của Mỹ. Vì vậy chúng tôi đã đến Doanh trại quân đội Carlisle khá gần chỗ tôi, nơi có Trường Đại học Lục quân Hoa Kỳ (US Army War College). Lúc đó họ có một phòng tư liệu lưu giữ tài liệu của Bộ Chỉ huy Quân sự Hoa Kỳ. Đó là những tài liệu đã được giải mật nên chúng tôi được ngồi đọc. Khi bắt đầu xem qua các tập tài liệu, tôi bắt đầu tìm thấy bản báo cáo từ đơn vị chịu trách nhiệm giải cứu cả tù binh Mỹ và Nam Việt Nam. Và sau một thời gian, tôi thầm nghĩ: nào, chưa từng có ai viết về những điều này. Vì vậy, đây là một cơ hội hoàn hảo để tôi viết cuốn sách đầu tiên. Đó là khởi đầu của cuốn sách “Mật danh Bright Light” xuất bản năm 1998. Và sau khi người ta xuất bản cuốn sách đầu tiên của tôi về chiến tranh Việt Nam, nó trở thành một động lực làm tôi rất quan tâm và tiếp tục làm việc. 

 

Bài học địa lý quân sự ở Miền Nam Việt Nam 

 

RFA: Trong chiến tranh, Bắc Việt Nam đã có ba cuộc tấn công lớn vào miền Nam: 1968, 1972 và 1975. Xin ông giải thích sự khác nhau giữa cuộc tấn công Mậu thân 1968 và các cuộc tấn công kia. Nhiều học giả, nhà báo, nhân chứng lịch sử đã nói về Tết Mậu Thân 1968. Vì vậy, hôm nay chúng tôi muốn tập trung thêm vào một khía cạnh mới: các yếu tố địa lý trong cuộc tấn công này. Ông đã nói nhiều lần rằng địa lý quân sự là một khó khăn để phòng thủ từ phía Nam Việt Nam. Xin vui lòng giải thích về điều này.

 

Jay Veith: Vâng, ở đây có hai vấn đề. Trước hết, trong cuộc chiến đó, có bốn lần Bắc Việt Nam tấn công lớn vào Nam chứ không phải ba: Năm 1965 Bắc Việt Nam tấn công lớn và Mỹ đã đánh trả. Rồi đến năm 1968, năm 1972, và cuối cùng năm 1975. Có bốn chiến dịch tấn công lớn như vậy. 

Trong đó, cuộc tấn công Tết Mậu thân 1968 là nhằm vào các thành phố, nơi đặt các trụ sở chính phủ. Sau cuộc tấn công Mậu thân thì các lực lượng Cộng sản bị đẩy lui qua biên giới, nên cuộc tấn công năm 1972 của họ nhằm mục đích lấy lại nông thôn, không phải các thành phố. Cuối cùng, cuộc tấn công năm 1975 thì kết hợp tính chất của cả hai cuộc tấn công trước. 

Cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân 1968 thực sự được thiết kế để tạo một đòn sấm sét vào các thành phố, nhằm lật đổ chính quyền miền Nam Việt Nam. Lúc đó người Cộng sản tin rằng người dân đã sẵn sàng vùng lên chống lại một chính quyền độc tài, và Quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) sẽ sụp đổ. 

Điều mà tôi đã cố gắng chỉ ra trong cuốn sách của mình là phía Cộng sản đã hoàn toàn sai. Trong vài năm trước Tết Mậu thân 1968, miền Nam Việt Nam đã có bốn cuộc bầu cử. Và việc bình định nông thôn ngày càng được chú trọng. Việt Nam Cộng hòa đã ngày càng chú trọng vào việc cố gắng đưa người dân tham gia vào chính phủ để thu hút họ tham gia vào các vấn đề của đất nước. Tôi nghĩ rằng đó là lý do tại sao trong Tết Mậu thân 1968, người dân đã không theo phía Cộng Sản mà thay vào đó, họ đã chống trả. 

Việc đánh trả để tự vệ là điều tự nhiên, nhưng tôi nghĩ cũng là do trong hai năm trước cuộc tấn công Mậu thân năm 1968, người dân miền Nam đã đầu tư nhiều vào việc kiến quốc và vì vậy họ xác định đất nước không chỉ là nhà của họ. 

Bây giờ chúng ta nói về khía cạnh địa lý của cuộc chiến này. Rất đơn giản. Các bạn biết Việt Nam là một đất nước rất dài, hãy hình dung nó trải dài như thế này từ Bắc xuống Nam. Rất hẹp phải không? Trong thuật ngữ quân sự, hai cạnh hai bên được gọi là “sườn.” Ở Nam Việt Nam, sườn bên rất hẹp, và rất dễ cho bên tấn công phòng thủ từ đó. 

Sườn bên rất dài, tôi nghĩ khoảng 1300 dặm (khoảng 2000 km), được bao phủ bởi rừng núi. Sườn bên hầu như không có dân cư, rất dễ cho đối phương ẩn nấp. Nó cũng dễ cho bên tấn công có thể tập hợp lực lượng cỡ lớn, gồm quần chúng và toàn quân của mình để có thể linh hoạt đánh bất cứ đâu. 

Điều đó tạo ra tình thế rất khó tự vệ. Phía Nam Việt Nam không thể đặt quân dọc theo cái sườn phía tây để phòng thủ. Như các bạn thấy đấy, họ không thể cứ mỗi mét lại đặt một anh lính phòng thủ. Vì vậy Nam Việt Nam rất khó phòng thủ. Về mặt địa lý quân sự, họ hoàn toàn bị hở cả hai sườn cho bất kỳ bên tấn công nào. Tôi hy vọng điều này có ý nghĩa để giải thích một cái gì đó.

 

RFA: Trên một chiến trường có đặc điểm địa lý như vậy, ở Miền Nam Việt Nam, người ta cần những gì để tự vệ thành công? Yếu tố địa lý và phương tiện kỹ thuật quân sự mà miền Nam Việt Nam có được lúc đó có ảnh hưởng như thế nào đến công cuộc phòng thủ của họ năm 1968 và kết cục cuộc chiến năm 1975?

 

Jay Veith: Vào năm 1968, Nam Việt Nam có người Mỹ ở đó cùng tất cả hỏa lực của họ. Người Mỹ, miền Nam Việt Nam đã chiến đấu bên cạnh Nam Hàn và những đồng minh khác. Họ có nhiều quân đội Đồng minh hơn, lại có thêm rất nhiều hỏa lực để phòng thủ, và vì vậy họ đẩy lùi được cuộc tấn công của phía Cộng sản miền Bắc. 

So sánh với năm 1975 thì khác. Để trả lời câu hỏi về phương tiện chiến tranh tương thích để phòng thủ trong một vùng địa lý quân sự như vậy, tôi nghĩ Nam Việt Nam trước hết cần một vài phương tiện quân sự để chống lại một kẻ thù có thể tấn công họ từ bất kỳ hướng nào. 

Họ cần thông tin tình báo về những gì đối phương đang làm, nơi đối phương đang tập trung. Sau đó họ cần tổ chức phòng thủ mặt đất sao cho họ có thể sống sót được trong khi chấp nhận mất lợi thế vì đối phương tiến tới với hỏa lực áp đảo.   

Cái họ cần là họ phải tổ chức sao cho dù bị mất đất nhưng có đủ hỏa lực để tiêu diệt các binh đoàn địch. Có phải không nào? Họ cần thông tin tình báo. Họ cần không lực, hỏa lực mặt đất, và sau đó họ cần khả năng cơ động để điều động quân đội của mình chống lại đối thủ. 

Nhưng năm 1975 Miền Nam thiếu tất cả những điều đó. Họ không còn thông tin tình báo tinh nhạy như trước vì người Mỹ đã biến mất. Họ không còn hỏa lực nữa do bị cắt viện trợ và chắc chắn là nó không có khả năng cơ động vì nhiên liệu, đạn dược và mọi thứ khác bị cắt nguồn cung. Và cuối cùng, họ đã mắc phải một số sai lầm nghiêm trọng về quân sự. Các nhà lãnh đạo quân sự Nam Việt Nam đã phán đoán sai lầm về địa điểm Miền Bắc sẽ tấn công. 

Ngoài ra, Bắc Việt Nam đã học được bài học năm 1972. Họ đã hiệp đồng giữa các binh chủng và mặt trận tốt hơn trong các cuộc tấn công của mình và mọi thứ khác. Vì vậy, sự kết hợp của tất cả những khó khăn và sai lầm của Nam Việt Nam cũng như sự tiến bộ quân sự của miền Bắc nêu trên cùng một lúc đã dẫn đến thất bại của Nam Việt Nam năm 1975.

 

RFA: Ông có nhắc đến không quân. Không Quân VNCH rất mạnh. Nhưng ông biết đấy, trong Mậu thân 1968 thì Không quân VNCH giúp miền Nam áp đảo đối phương và phòng thủ thành công, còn vào năm 1975, không quân dường như không đóng vai trò gì lớn trong việc phòng thủ của họ. Tại sao?

 

Jay Veith: Năm 1968 thì Nam Việt Nam còn đủ nhiên liệu, đạn dược. Hỏa lực đủ mạnh để đảo ngược tình thế. Điều khác biệt của không quân Nam Việt Nam trong hai lần phòng thủ 1968 và 1975 là năm 1975 thì họ đã hết nhiên liệu. Năm 1975 họ chỉ còn một giới hạn giờ bay mỗi tháng. Lúc đó bị khủng hoảng dầu lửa, nhiên liệu vô cùng đắt đỏ. Ngoài ra, họ thiếu phụ tùng thay thế. Vì vậy lúc đó, điều họ có thể làm chỉ là cố gắng chống lại các cuộc tấn công từ một số hướng chính, nhưng có quá nhiều hướng tấn công nên họ không thể đánh chặn ở khắp mọi hướng. Ngoài ra, các sân bay quân sự đã được Bắc Việt Nam biết đến và họ có pháo binh để bắn phá, giữ cho máy bay của Nam Việt Nam không cất cánh.

 

Thảm sát ở Huế: điều gì gây ra thảm họa?

 

RFA: Nhiều tư liệu nói về vụ thảm sát của Bắc Việt Nam ở thành phố Huế trong Tết Mậu thân 1968. Là một nhà sử học, ông có biết có bằng chứng nào về vụ thảm sát đó không? Và tại sao họ lại làm như vậy?

 

Jay Veith: Có. Bằng chứng là hàng ngàn thi thể mà Nam Việt Nam tìm thấy được chôn trong các ngôi mộ tập thể. Chưa bao giờ có một lời giải thích rõ ràng về lý do tại sao Bắc Việt Nam cố tình nhắm mục tiêu và giết chết rất nhiều công chức địa phương miền Nam Việt Nam ở Huế mà không phải ở các thành phố khác.

Với những tư liệu hiện tại, gần như khó có thể nói gì khác hơn rằng dường như đó là một kiểu trả thù nào đó đối với một số công chức địa phương ở Huế vì những gì đã xảy ra trước đó vào năm 1966. Nhưng đó chỉ là phỏng đoán thuần túy. Chưa bao giờ có lời giải thích rõ ràng vì phía Cộng sản luôn phủ nhận có bất kỳ vụ thảm sát nào. Chúng tôi chưa bao giờ có một lời giải thích rõ ràng về những gì đã xảy ra.

 

Một phụ nữ khóc bên xác người chồng được tìm thấy trong số 47 thi thể tại một hố chôn tập thể ở Huế hôm 11/4/1969. Các nạn nhân được cho là bị giết khi quân Bắc Việt chiếm Huế vào năm 1968. AP

 

RFA: Ông vừa nói là vụ thảm sát chỉ xảy ra ở Huế chứ không xảy ra ở các thành phố khác. Đó có thể là mấu chốt của vấn đề? 

 

Jay Veith: Đúng vậy, nhưng trong Tết Mậu thân, những người Cộng sản đã chiếm giữ nhiều thành phố. Trong đó, họ chiếm giữ Huế trong vài tuần. Họ chiếm vài địa điểm trong Sài Gòn để chờ đại quân đến chi viện. Họ cũng từng tấn công lại đợt khác như đến tháng 7 thì đánh tiếp trong vài ngày. Có vẻ như không có bất kỳ kiểu hành quyết tương tự nào ở thành phố đó. Nhưng trận chiến ở mỗi thành phố cũng rất khác nhau, vì vậy thật khó để nói điều gì. Tuy vậy, có thể nói là trong Tết Mậu thân, có điều gì đó đã xảy ra ở Huế theo cách khác với cuộc chiến ở các thành phố khác. Chưa bao giờ sự việc ở Huế được giải thích rõ ràng.

 

RFA: Về cách mà cuộc chiến diễn ra ở Huế khác với các nơi khác, ông Bùi Tín, nguyên Tổng Biên tập báo Nhân dân, trong một cuộc trả lời phỏng vấn, từng giải thích vì sao sự khác biệt đó gây ra thảm họa. Ông ấy nói rằng không có một mệnh lệnh nào từ trung ương chỉ đạo phải giết các công chức địa phương ở Huế, nhưng có hai yếu tố khiến cho cuộc thảm sát xảy ra. Một là tuyên truyền. Họ tuyên truyền rằng Huế là đất của địch. Ở đó chỉ có bọn phản cách mạng nên phải bắt hết. Vì vậy khi chiếm giữ Huế trong hơn 3 tuần thì họ đã bắt giữ hàng ngàn công chức địa phương. Hai là khi Quân đội Nam Việt Nam và Mỹ phản công thì họ nhận được lệnh là phải mang theo tù binh khi rút chạy, không được để tù binh lại. Việc mang theo hàng ngàn tù binh là bất khả thi nên họ chỉ còn cách là phải giết. 

 

Jay Veith: Vâng, điều đó chắc chắn là đúng, nhưng đó vẫn không phải là toàn bộ câu chuyện. Vì còn có rất nhiều người khác đã trở thành mục tiêu của “tòa án nhân dân”, bị bắt đi và bị xử bắn. 

Chúng ta biết là có một danh sách được lập trước, chia thành từng nhóm 10 người, họ gồm cả những giáo viên “phản cách mạng”. Bất kể những người ấy là ai, các “tòa án nhân dân” xử tử hình họ đã được tổ chức và thực hiện giống như phiên tòa Cải cách Ruộng đất những năm 1950 ở miền Bắc. 

Vì vậy, đúng là trong Mậu thân 1968, cuộc chiến ở Huế đã xảy ra khác với các nơi khác và nó dẫn đến bi kịch, nhưng rõ ràng có nhiều lý do hơn thế để khiến cho thảm kịch xảy ra. Điều đó xứng đáng có câu trả lời. 

 

RFA: Các nhà nghiên cứu lịch sử chiến tranh Việt Nam đã nói rất nhiều về Tết Mậu Thân 1968. Xin ông cho biết từ trước đến nay các nhà sử học thường quan tâm đến những vấn đề gì? Những vấn đề nào của cuộc tấn công này còn chưa được nói đến, cần được làm rõ?

 

Jay Veith: Vâng, phía Mỹ có cuốn sách của Erik Villard đã ra mắt cách đây vài năm. Cuốn sách này phân tích khá kỹ lưỡng vấn đề. Ông ấy là nhà sử học chuyên về Việt Nam tại Trung tâm Lịch sử Quân sự của Quân đội Hoa Kỳ. Tôi biết bạn tôi, Giáo sư Liên Hằng, đã viết một cuốn sách về Tết Mậu Thân từ phía Bắc Việt trong nhiều năm. Nếu có một phía chưa được nói đến thì đó là phía Nam Việt Nam. Để làm được điều đó, cần phải nghiên cứu nhiều hồ sơ, tư liệu. Hy vọng rằng những người còn sống sẽ nói về điều đó. Các đơn vị quân đội của Nam Việt Nam đã chiến đấu rất ngoan cường, gánh chịu những đau thương nặng nề. Đó là một bên vẫn còn thiếu vắng trong các nghiên cứu sử học về trận chiến này.

 

RFA: Cảm ơn ông đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn

SOURCE:

https://www.rfa.org/vietnamese

Tóm lược những diễn tiến quan trọng trong sự kiện Tết Mậu Thân (Lym Ha tổng hợp từ nhiều nguồn)

  


 HIGHLIGHT:

Ký giả Elje Vannema đã liệt kê những hố chôn tập thể ở Huế gồm có:

– Bãi Dâu: có 3 hố với 26 xác; sau này dân chúng phát hiện thêm 4 hố, có 77 xác.

– Cầu An Ninh: 20 xác.

– Chợ Thông cách thành phố hai cây số về hướng Tây có 102 xác.

– Chùa Tăng Quang: có 12 hố với 43 xác, trong đó nhiều xác bị trói bằng dây thép gai.

– Cồn Hến có một hầm với 100 xác.

– Địa điểm Đông Gia gần biển có 101 xác.

– Địa điểm giữa chùa Tăng Quang và chùa Tường Vân: có một xác người Việt và xác ba bác sĩ người Đức.

– Khu vực Cửa Đông Ba: có một hầm với 7 xác.

– Khu vực Lăng Gia Long: có khoảng 200 xác.

– Khu vực Lăng Tự Đức và Lăng Đồng Khánh có trên 20 hầm.

– Phía Đông Huế chín cây số có 25 xác.

– Quận Tả Ngạn: có 3 rãnh chứa 21 xác.

– Tiểu chủng viện: phía sau có hai hầm chôn 3 xác, gồm một người Pháp, 2 người Mỹ.

– Trường trung học Gia Hội: trước sân có 14 hố với 101 xác, chung quanh có nhiều hố khác với 203 xác.

– Trường tiểu học An Ninh Hạ: có một hầm với 4 xác.

– Trường Văn Chi: có một hầm với 8 xác.

Tính đến tháng 5-1968, tổng cộng có trên 1.000 xác thường dân được tìm thấy.

Đến đầu năm 1969, có nhiều địa điểm khác bị phát hiện thêm như:

– Chùa Therevada Gia Hội, chùa Từ Quang, An Ninh Thượng, Chợ Thông, Đồng Di, Phú Vang, Vĩnh Hưng… mỗi nơi có mấy chục xác. Chùa Quảng Tự có 67 xác.

– Khe suối Đá Mài (tức Phủ Cam Tử Lộ), quận Nam Hòa: 428 bộ xương nằm trong dòng suối.

– Khu Thiên Hàm có khoảng 200 xác.

– Làng Lang Xá Cồn, quận Hương Thủy: 93 xác. 

– Làng Lương Viên, quận Phú Thứ: 422 người mất tích.

– Làng Phú Lương, quận Phú Thứ: 22 xác.

– Làng Phú Xuân, quận Phú Thứ: 230 xác.

– Làng Vinh Thái, quận Phú Thứ: 135 xác.

– Các đồi cát và các làng Lệ Xá Tây, Văn Hòa, Xuân Dương, ở quận quận Phú Thứ: 357 xác. 

– Các làng Vinh Lưu, Lệ Xá Đông, Xuân Ô giáp biển: có khoảng 820 xác.

– Làng Thúy Thạnh, quận Hương Thủy: 70 xác.

– Làng Thượng Hòa, quận Nam Hòa, phía Nam Lăng Gia Long 11 xác.

– Các làng thuộc quận Vinh Lộc có khoảng 100 xác.

Tính ra các báo liệt kê tổng cộng gần 50 vị trí phát hiện hố chôn tập thể với gần 4.000 xác thường dân, chưa kể hàng ngàn người mất tích. Nhiều tài liệu khẳng định có tổng cộng 5.800 thường dân Huế xác định rõ danh tánh bị cộng quân thảm sát trả thù trong Tết Mậu Thân. 

Sau cuộc chiến, chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa kiểm kê và công bố số lượng nạn nhân ở Huế gồm có:

– Thường dân bị thương và tàn tật vì bom đạn 1.900.

– Thường dân bị chết vì bom đạn 844.

– Nhóm mồ tập thể thứ nhất phát hiện ngay sau cuộc chiến 1.173.

– Nhóm mồ tập thể thứ nhì (tính cả khu Gò Cát) phát hiện từ tháng 3 đến 7-1969 có 809 xác.

– Nhóm mồ tập thể thứ ba ở khe suối Đá Mài, quận Nam Hòa, phát hiện tháng 9-1969 có 428 bộ xương.

– Nhóm mồ tập thể thứ tư ở biển muối (Phú Thứ) phát hiện tháng 11-1969 có 300 xác.

– Các mồ tập thể rãi rác chungquanh thành phố Huế 200 xác.

– Số người mất tích không tìm thấy xác 1.946 xác.

Tổng cộng 7.600 người

 oOo

 

Đón xuân Quý Mão không quên Tết năm Mậu Thân 1968

22/01/2023

Mồng 1 tháng Giêng năm Quý Mão

https://docs.google.com/document/d/1mKcxwo06rgy3uPdHyBrX7ezwCUknoY-0BfJP4k_k-Ts/edit?usp=share_link

Đây là cái Tết Nguyên Đán mà người Việt Nam trước năm 1975 và đặc biệt dân Huế không thể quên  . Chủ tịch Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ( miền Bắc ) Hồ Chí Minh giữa đêm giao thừa thiêng liêng đã lên đài phát thanh tuyên đọc hiệu triệu tấn công toàn cõi Việt Nam Cộng Hòa ( dưới hình thức một bài thơ ) bất kể trước đó  ký  ngưng bắn cho dân hai miền  ăn Tết hoà bình . Việt Nam Cộng Hòa biết rõ bản tính lọc lừa  của Việt Cộng  nên đề cao cảnh giác nhưng cũng nới tay cho quân nhân về phép năm mươi phần trăm . Tuy hoàn toàn bất ngờ nhưng với tinh thần chiến đấu Bảo Quốc An Dân , quân lực  Việt Nam Cộng Hòa trong trận Mậu thân đã đưa tiễn khoảng một trăm ngàn – vừa du kích, nằm vùng vừa chính quy xâm nhập – ra nghĩa địa tập thể .  Hồ bị tăng xông máu chuyển sang từ trần một năm sau đó . 

Lẽ ra không nên khơi  chuyện buồn thời điểm sắp sửa bước sang năm mới . Nhưng kẻ THỦ ÁC đến thế kỷ này vẫn một mực im lặng không dám nói lời công đạo xin lỗi những oan hồn năm xưa , còn cố tình bóp méo lịch sử đổ vấy người khác , in cả sách giáo khoa đầu độc thế hệ trẻ .Tội nghiệp dân Huế theo lệnh nhà nước phải đổ thừa cho phía mà họ biết chắc không phải thủ phạm !!

 

Tóm lược những diễn tiến quan trọng trong sự kiện Tết Mậu Thân

Lym Ha (Tổng hợp từ nhiều nguồn)

Lymha tháng 2 năm 2018

https://docs.google.com/document/d/1KfRGZs-jePtYj05UftYC2YVvaflXZ0nzc5dewD3vGRs/edit?usp=share_link

1- Sự tiến triển chiến tranh từ ngày 1-1 đến 30-6-1968 có thể được xem xét tốt nhất trong bối cảnh mục tiêu của kẻ địch trong chiến dịch đông xuân 1967-68. Vào giữa năm 1967, quân địch đã thay đổi lại chiến lược của mình để mở các cuộc tấn công rộng khắp, với hy vọng sẽ gây ra sự đào ngũ tràn lan trong các cấp Quân đội Việt Nam Cộng Hòa, và sẽ tạo chỗ dựa cho một nỗ lực chánh trị, bao gồm đàm phán, cùng với nỗ lực quân sự để giành thắng lợi. Cộng sản hy vọng, khi Mỹ đối mặt với một đồng minh sụp đổ, sẽ mất đi quyết tâm theo đuổi chiến tranh.

Để thực hiện chiến lược mới này, một số lượng quân chủ lực Bắc Việt đông chưa từng có và một lượng lớn vật tư, thiết bị đã thâm nhập vào miền Nam Việt Nam.

Cộng quân cho rằng ngày Tết Nguyên đán là thời điểm tốt nhất để tấn công và chọn đúng ngày giao thừa của dịp Tết để mở cuộc tấn công. Trái với mong đợi của họ, người dân miền Nam đã không có ai hưởng ứng nổi dậy đi theo họ và cũng ít có binh sĩ Quân đội Việt Nam nào đào ngũ trong dịp này. Đối phó với cuộc tấn công vi phạm thỏa thuận ngừng bắn của Cộng sản, Quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu anh dũng để đẩy lùi kẻ thù. Khi lộ mặt ra công khai chiến đấu, quân Việt Cộng dễ dàng bị hỏa lực áp đảo, cơ động và linh hoạt hơn hẳn của quân đồng minh đánh bại. Kết quả là tổn thất nhân mạng của cộng quân rất cao. Tuy nhiên, nhiệt độ của cuộc chiến cũng tăng vọt. Cộng quân sử dụng hỏa tiển loại mới của Liên Xô để tấn công vào các trung tâm đô thị, đặc biệt là những nơi chưa từng bị tấn công trước đây như Huế và Sài Gòn.

 

Keith William Nolan – Huế, Trận đánh Mậu Thân

Bút ký về trận đánh kéo dài 26 ngày Tết Mậu Thân năm 1968 ở Huế
Keith William Nolan

hoànglonghải dịch

https://docs.google.com/document/d/1NTM1fwqmIkLe85oGBOPDApcbmYcPOzlJSsraBfHK8lM/edit?usp=share_link

Vài lời của người dịch:
Có hai lý do chính thúc đẩy tôi dịch tác phẩm nầy. Thứ nhất là vì chúng ta biết ít về việc người Mỹ đã chiến đấu ở Việt Nam như thế nào. Tôi là nạn nhân trận đánh Tết Mậu Thân ở Huế, tuy có theo dõi và quan sát tình hình xảy ra tại chỗ và qua báo chí, đài phát thanh, cũng như trong thời gian phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, làm phóng sự phát thanh, phục vụ trong ngành Cảnh Sát Quốc Gia, tại những vùng quê xa xôi hẻo lánh; tôi cũng không rõ lắm về những người lính Mỹ đã chiến đấu, chịu nguy hiểm, thương vong như thế nào.
Có lẽ điều đó không riêng gì tôi mà thôi. Do đó, tôi dịch cuốn sách nầy để người Việt chúng ta thấy người lính Mỹ đã chiến đấu và hy sinh ra sao, đã giải phóng những vùng ở Huế bị Việt Cộng chiếm đóng và giết chóc đồng bào như thế nào.

 

Thảm sát  Mậu Thân, 1968: Một cuộc diệt chủng

Việt Cộng giết dân lành...ai còn nhớ hay ai đã quên.

Đại Nghĩa

https://docs.google.com/document/d/1aIwzro9bkdDE6pS_QKJypHWgnoZijaLPE3L5eFs0uDI/edit?usp=share_link

Bài đọc suy gẫm: “Một Cuộc Diệt Chủng” hay “Thảm Sát Mậu Thân” do tác giả Đại Nghĩa sưu tầm, đúc kết từ các nhân chứng, báo chí trong ngoài nước. Blog 16 xin chia buồn với gia đình các nạn nhân và đăng tải bài viết, hình ảnh (minh họa) nhân tưởng niệm 50 năm biến cố Mậu Thân.

Thực chất đây là một cuộc diệt chủng, bọn cộng sản đã thẳng tay tàn sát đồng bào mình trong những ngày Tết thiêng liêng của dân tộc một cách dã man. Cuộc thảm sát kinh hoàng ở Huế Tết Mậu Thân nói lên được sự bội tín và lật lọng đê hèn của đảng cộng sản Việt Nam đã thừa dịp Hưu chiến trong ba ngày Tết để mở cuộc tổng tấn công. Lợi dụng những ngày này lực lượng Việt Nam Cộng hòa cho binh sĩ nghĩ phép 50%, cộng thêm sự lơ là của số quân nhân còn ở tại đơn vị trong những ngày Tết, quân cộng sản Việt Nam đã bất thần tung chiêu đánh lén. Lúc ban đầu vì bất ngờ nên quân VNCH có phần yếu thế, tuy nhiên không bao lâu sau thì lấy lại tinh thần và đã cố thủ được vị trí chiến đấu một cách oanh liệt, duy chỉ có thành phố Huế bị áp lực địch nặng nề nên phải mất 26 ngày sau quân VNCH mới tái chiếm hoàn toàn.

 oOo

.
 

.

.

.


.


.

.


.