Thursday, June 18, 2026

Vinh danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong ngày Quân Lực 19 Tháng 6 (Vann Phan)


Vann Phan

May 23, 2017 

 

 .com/img/a/

Tình “đồng minh” Việt-Mỹ thời Ðệ Nhất Cộng Hòa.

 


 

Có thể nói rằng, so sánh với các quân đội khác trên toàn thế giới thời cận đại, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, trong gần hết thời gian có cuộc Chiến Tranh Việt Nam (1960-1975), là lực lượng quân sự duy nhất mang trên vai hai trọng trách cùng một lúc: bảo vệ an ninh quốc gia và quản trị guồng máy hành chánh đất nước.

Việc thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ nặng nề này, tức là việc các thành viên thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vừa đánh giặc vừa trị nước, có vẻ như đã đặt chế độ quân nhân (military regime) tại Miền Nam Việt Nam vào vị thế của những chế độ quân phiệt (militarism, militaristic regime) cùng thời hay sau này trên khắp thế giới, đặc biệt là tại những quốc gia kém mở mang ở Nam Mỹ (Argentina [Á Căn Ðình], Brazil [Ba Tây], Chile [Chí Lợi], El Salvadore, Haiti, Nicaragua, Panama, Peru…), Á Châu (Bangladesh [Ðông Hồi cũ], Indonesia [Nam Dương], Iraq, Myanmar [Miến Ðiện cũ], Nam Hàn, Pakistan [Hồi Quốc], Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ…) hay Phi Châu (Algeria, Cộng Hòa Trung Phi, Congo-Brazaville và Congo-Kinshasa, Ai Cập, Ethiopia, Ghana, Libya, Niger, Nigeria, Somalia, Sudan, Uganda…), và ngay cả tại những quốc gia không Cộng Sản và tân tiến ở Âu Châu như Hy Lạp (1967-1974), Bồ Ðào Nha (1926-1974) và Tây Ban Nha (1923-1975).

Nhưng sự thật thì không phải như vậy. Dù Miền Nam Việt Nam luôn nằm trong tình trạng chiến tranh – đất nước đã được Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng Nguyễn Ðình Thuần thời Ðệ Nhất Cộng Hòa tuyên bố nằm trong “tình trang lâm nguy” từ năm 1963 – chế độ quân nhân dưới quyền các sĩ quan cao cấp trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn đem lại nhiều tự do, dân chủ hơn cho người dân so với các quốc gia cùng thời nằm dưới các chế độ quân phiệt trên toàn thế giới và vẫn được đại đa số dân chúng kính trọng và thương yêu, đi đâu theo đó, từ trong nước ra tới hải ngoại. Còn nếu có một số thành phần dân chúng tại Việt Nam Cộng Hòa lên tiếng chỉ trích quân đội này trong nhiệm vụ vừa chiến đấu vừa cai trị đất nước thì đó cũng chỉ là chuyện bình thường trong một quốc gia thực sự có tự do, dân chủ.

Riêng trong hoàn cảnh đặc biệt của Miền Nam Việt Nam, những lời chỉ trích nào nhắm vào tập thể chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà không nằm trong các quyền tự do, dân chủ hiển nhiên kia của dân chúng thì đều phát xuất từ luận điệu tuyên truyền của phe Cộng Sản -mà vào lúc đó đang là kẻ thù nỗ lực thôn tính Miền Nam tự do – hay từ những lời chỉ trích đầy ác ý và mang tính đạo đức giả của phe tả trên toàn thế giới chỉ mong sao Cộng Sản sớm chiến thắng tại Việt Nam rồi hậu quả ra sao thì cũng mặc kệ, bởi vì chính dân chúng Miền Nam Việt Nam, chứ không phải họ, là kẻ phải hứng chịu tai họa – như thực tế đã chứng minh từ hơn ba thập niên qua – trong khi về phần họ thì bất quá chỉ việc chịu khó lên báo, lên đài đặng biểu tỏ lòng ăn, năn hối hận qua quýt cho việc làm xuẩn động của mình trước kia là xong (như Joan Baez – và cả Jane Fonda nữa – đã làm, chứ John F. Kerry thì chưa).

Bài viết sau đây có mục đích làm sáng tỏ chính nghĩa của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong suốt giai đoạn lịch sử bi tráng vừa qua của cuộc Chiến Tranh Việt Nam, khẳng định rằng chế độ quân nhân tại Việt Nam Cộng Hòa là nhu cầu tất yếu của lịch sử, là lẽ sống còn của một đất nước đang đấu tranh cho sự tồn tại của mình và chỉ là một hiện tượng tạm thời chứ không mang tính lâu dài. Và dĩ nhiên là chế độ quân nhân lãnh đạo tại Miền Nam Việt Nam không hề là chế độ quân trị (military rule) hay chế độ quân phiệt (militarism).

Vai trò vừa quân sự vừa hành chánh của Quân Lực Việt Nam có tự bao giờ?

Những người Miền Nam Việt Nam trong nước cũng như ở hải ngoại, trước và sau năm 1975, vẫn coi ngày 19 Tháng Sáu năm 1965, Ngày Quân Lực của Miền Nam Việt Nam, là ngày tập thể chiến sĩ thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chính thức đảm nhiệm vai trò lịch sử điều khiển đất nước và chỉ huy nỗ lực chiến đấu tự vệ của Miền Nam tự do chống lại cuộc chiến tranh thôn tính của Cộng Sản Bắc Việt, có Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại Miền Nam Việt Nam hỗ trợ. Sự thực thì thời điểm kể trên không phải là ngày quân đội bắt đầu đảm đương cùng một lúc cả nhiệm vụ quân sự lẫn vai trò hành chánh tại Miền Nam Việt Nam mà chỉ là ngày mà tập thể chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa chính thức lên nắm giữ vai trò đó qua buổi lễ ra mắt trước quốc dân và quốc tế Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia (do Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ Tịch) và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (do Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ Tịch) tại thủ đô Sài Gòn. (Trước đó, vào ngày 11 Tháng Sáu năm 1965, Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát đã ra tuyên cáo “long trọng trao trả lại cho Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo quốc gia đã được Hội Ðồng Quân Lực ủy thác” cho chính quyền dân sự dưới quyền lãnh đạo của hai vị chiếu theo Quyết Ðịnh Số 4 ngày 16 Tháng Hai năm 1965, tức là cách đó ba tháng.)

Cái ngày mà giới quân nhân trong quân đội bắt đầu đảm đương cả nhiệm vụ quân sự lẫn vai trò hành chánh tại Miền Nam Việt Nam thật ra đã xảy ra từ sáu, bảy năm trước đó, dưới thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, sau khi Cộng Sản Bắc Việt chính thức cho ra đời Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, 20 Tháng Mười Hai năm 1960, đặng làm bình phong che đậy việc chính họ đưa quân vào đánh chiếm Miền Nam Việt Nam để đặt miền đất tự do này dưới quyền cai trị độc tài của đảng Cộng Sản Việt Nam. Trước tình hình các lực lượng Việt Cộng (Mặt Trận Giải Phóng) ngày càng gia tăng các vụ ám sát viên chức xã, ấp rồi đánh chiếm các làng mạc và cả các quận lỵ tại Miền Nam Việt Nam, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, trong vai trò Tổng Tư Lệnh Quân Ðội chiếu theo Hiến Pháp Ðệ Nhất Cộng Hòa, đã phải thay thế các chức vụ Quận Trưởng và Tỉnh Trưởng tại những vùng chiến sự đang sôi động do các viên chức dân sự (ngạch Phó Ðốc Sự Hành Chánh trở lên) đảm nhận sang cho các sĩ quan quân đội, với các sĩ quan cấp Ðại Úy đảm nhiệm chức vụ Quận Trưởng và sĩ quan cấp Tá làm Tỉnh Trưởng. (Vị đại úy quận trưởng danh tiếng nhất thời đó là Ðại Úy Bùi Thụ, quận trưởng Quế Sơn tại Quảng Nam, đã tử trận sau khi ông tình nguyện ở lại tử thủ với vị đại úy quận trưởng kế nhiệm trong đêm Việt Cộng tấn công tràn ngập quận lỵ Quế Sơn vào đầu năm 1962, chỉ mấy tháng trước khi chính vị tổng tư lệnh quân đội bị quân đảo chánh hạ sát). Phải biết rằng Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và bào đệ là Cố Vấn Ngô Ðình Nhu rất cảnh giác trong chuyện trao cho giới quân nhân quyền hành lớn trong một đất nước mà hai nhà lãnh đạo này đang muốn chuyển đổi từ một quốc gia bất an về chính trị sau năm 1954 để trở thành một nền dân chủ trẻ trung tại Ðông Nam Á. Nhưng chuyện chính quyền Ngô Ðình Diệm đã phải chấp nhận giao quyền hành chính và quân sự cho giới quân nhân cho thấy vai trò của quân đội từ những năm đầu thập niên 1960 đã trở nên vô cùng thiết yếu cho sự sống còn của Miền Nam tự do giữa lúc các lực lượng Cộng Sản từ Miền Bắc đang gia tăng nỗ lực thôn tính Miền Nam. (1)

Mới cách đó ít lâu thôi, vào năm 1955, chính Ðại Tá Dương Văn Minh, vị anh hùng Rừng Sát, đã là một đại biểu sáng chói của tập thể chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa trong vai trò bảo quốc an dân, đánh dẹp nội loạn để bảo vệ chính quyền tự do, dân chủ còn non trẻ của Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm qua cơn nội loạn trong buổi giao thời lúc chính quyền Miền Nam Việt Nam vừa mới được hình thành sau Hiệp Ðịnh Geneva năm 1954.

Cuộc đảo chánh chống chính quyền của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và bào đệ là Cố Vấn Ngô Ðình Nhu vào ngày 1 Tháng Mười Một năm 1963 do Trung Tướng Dương Văn (Big) Minh và các tướng lãnh trong Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng thực hiện – có sự yểm trợ của chính quyền Kennedy từ Hoa Kỳ thông qua Tòa Ðại Sứ Mỹ tại Việt Nam – và những năm tháng sau đó có thể được coi là thời điểm duy nhất mà Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa đã tóm thâu mọi quyền hành chánh và quân sự vào trong tay họ và đặt Miền Nam Việt Nam dưới một chế độ quân trị (milirary rule) mang tính cách quân phiệt (militarist) trong ý nghĩa đầy đủ nhất. Tình thế hỗn quân, hỗn quan lúc bấy giờ tại Miền Nam Việt Nam (đảo chánh và chỉnh lý liên tiếp ngay bên trong hàng ngũ các tướng lãnh đã lật đổ Tổng Thống Diệm, với quyền lãnh đạo phe quân nhân cầm quyền từ tay Trung Tướng Dương Văn Minh chuyển sang Trung Tướng Nguyễn Khánh rồi sau cùng là Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu) cộng với các cuộc tấn công dồn dập về mặt chính trị (Cộng Sản xúi giục dân chúng biểu tình gây rối loạn trên đường phố, tại các học đường và trong các chùa chiền…) và quân sự (với những vụ ám sát các viên chức xã, ấp cùng những cuộc tấn công tràn ngập các tiền đồn hẻo lánh, xã ấp riêng rẽ và cả những quận lỵ và tỉnh lỵ phòng thủ yếu kém…) là động cơ chính yếu buộc Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa phải nắm quyền cả về mặt quân sự lẫn mặt hành chánh.

 

 .com/img/a/

Tình “đồng minh” Việt-Mỹ thời Ðệ Nhị Cộng Hòa.

Nhưng sau thời gian xáo trộn và náo loạn ngoài ý muốn của tất cả các thành phần quân sự cũng như dân sự tại Miền Nam Việt Nam, Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa, ít nhất cũng đã một lần, chứng tỏ thiện chí muốn trao trả quyền hành lại cho phe dân sự để dành thì giờ chiến đấu chống cuộc xâm chiếm Miền Nam Việt Nam của Cộng Sản Bắc Việt từ Hà Nội (mà vào lúc đó đã trở thành công khai với việc Cộng Sản Bắc Việt thiết lập Ðường Mòn Hồ Chí Minh chạy dọc theo sườn phía Tây của dãy Trường Sơn đặng đưa người và vũ khí xâm nhập vào Nam, yểm trợ tối đa cho các lực lượng du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam mở những cuộc tấn công quy mô vào các làng mạc và thành thị tại Miền Nam Việt Nam). Ðó là vào ngày 5 Tháng Năm năm 1965 khi Hội Ðồng Quân Lực (trước đó là Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng) dưới quyền các tướng lãnh trong Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa đã trao quyền cai trị đất nước về cho các chính trị gia thuộc phe dân sự tại Miền Nam Việt Nam với một chính phủ dân sự dưới quyền Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát. Ðiều không may là phe dân sự tại Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, dù gồm nhiều chính trị gia nổi tiếng, nhiều chuyên gia lỗi lạc và nhiều nhà khoa bảng từ ngoại quốc trở về, đã không thể nào vừa điều hành đất nước một cách hữu hiệu vừa bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ, bởi vì tình trạng “thù trong, giặc ngoài” chẳng những đã không giảm bớt mà ngày một gia tăng, với tình hình an ninh đất nước lúc đó được mô tả là hết sức nguy ngập khi cường độ tấn công, phá hoại của Cộng quân tại các địa phương đã gia tăng vượt ra ngoài tầm kiểm soát của chính quyền và các lực lượng quân sự tại chỗ. Việc gì phải đến, đã đến. Sau mới ba tháng đứng ra “lèo lái con thuyền quốc gia” mà không xong, vào ngày 11 Tháng Sáu năm 1965, phe dân sự, dưới quyền của Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát, đành phải ra tuyên cáo trao trả lại quyền cai trị đất nước cho Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa. (2)

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong vai trò lãnh đạo đất nước chiến đấu chống Cộng Sản Bắc Việt xâm lược

Sau khi được trao quyền, vào ngày 12 Tháng Sáu năm 1963, trong một cuộc họp quy tụ tất cả những tướng lãnh đang nắm các trọng trách trong quân đội từ cấp tổng tham mưu trưởng, tư lệnh các Vùng Chiến Thuật cho đến các tư lệnh quân, binh chủng, Hội Ðồng Quân Lực đã đề cử Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu đảm nhiệm chức vụ chủ tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia (tương đương tổng thống), và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ giữ chức vụ chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (tương đương thủ tướng).

Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia, trong vai trò mới được giao, đã tiến hành thiết lập thể chế và các cơ cấu quốc gia cùng lập nên một Nội Các Chiến Tranh để thực hiện việc tiếp tục cuộc chiến đấu chống Cộng Sản xâm lược và phát triển đất nước.

Ngày 19 Tháng Sáu năm 1965, trong một buổi lễ ra mắt được long trọng tổ chức tại thủ đô Sài Gòn, các thành phần trong Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương đã tuyên thệ trung thành với Tổ Quốc, nhận trách nhiệm làm thành phần tiền phương của quân, dân Miền Nam Việt Nam trong vai trò chỉ huy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ đất nước và điều khiển chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội, văn hóa và giáo dục để xây dựng Miền Nam Việt Nam thành một quốc gia phú cường có thể sánh vai cùng các quốc gia khác trong cộng đồng thế giới.

Trong vai trò mới, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ở hậu phương thì lo xây dựng nền độc lập, tự do và dân chủ, diệt trừ những mầm mống nằm vùng bạo loạn và phát triển kinh tế, ngoài tiền tuyến thì chỉ huy quân đội ngăn chống những đợt sóng xâm lăng của Cộng Sản ngày càng mãnh liệt từ Miền Bắc tràn vào. Như vậy, ngày 19 Tháng Sáu năm 1965 là ngày đánh dấu sự kiện Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đứng lên gánh vác trách nhiệm lớn là bảo vệ nền tự do và độc lập của Miền Nam Việt Nam đồng thời làm tiền đồn ngăn chặn làn sóng Cộng Sản tại Ðông Nam Á.

Nhưng giới lãnh đạo quân sự tại Miền Nam Việt Nam, tức Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vì ý thức cao độ rằng cuộc chiến đấu tự vệ chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của Cộng Sản từ ngoài Bắc vào không phải là một cuộc chiến đơn thuần về quân sự mà là một trận chiến phối hợp giữa các mặt trận quân sự và chính trị cũng như kinh tế, đồng thời còn cảnh giác cao độ về vai trò sinh tử của một chế độ tự do, dân chủ tại Miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến tranh một mất, một còn với phe Cộng Sản quốc tế, đã phải tìm cách chuyển đổi chế độ hội đồng quân nhân cầm quyền (military junta) hiện có sang một thể chế dân chủ hợp hiến và hợp pháp mới mong nâng cao uy tín của Việt Nam Cộng Hòa trên trường quốc tế.

Từ 1966 tới 1967, mặc dù chiến sự vẫn tiếp tục diễn ra vô cùng ác liệt trên khắp các mặt trận tại Miền Nam Việt Nam – với sự can dự trực tiếp của quân đội Hoa Kỳ và các lực lượng Ðồng Minh như Ðại Hàn, Úc Ðại Lợi, Tân Tây Lan, và Thái Lan – chính quyền Miền Nam Việt Nam dưới quyền của các tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, với sự hỗ trợ của chính phủ, dân chúng và quân đội Ðồng Minh Hoa Kỳ, quyết tâm tổ chức các cuộc tuyển cử tự do để thành lập nền Ðệ Nhị Cộng Hòa thay thế cho nền Ðệ Nhất Cộng Hòa của cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã cáo chung sau cuộc đảo chánh đẫm máu năm 1963.

Với các chủ trương và đường lối đúng đắn đó, lần lượt các cuộc bầu cử tổng thống, Quốc Hội và Hội Ðồng Tỉnh, Thành được mở trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa để bầu ra, trước hết, một Quốc Hội, rồi sau đó là một vị tổng thống dân cử đầu tiên của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa. Trong nền Ðệ Nhị Cộng Hòa của Miền Nam Việt Nam, mặc dù các chức vụ quan trọng như tổng thống, bộ trưởng quốc phòng, tư lệnh cảnh sát, đại biểu chính phủ tại các vùng chiến thuật, tỉnh trưởng và quận trưởng,… đều do giới quân nhân nắm giữ, nhưng nhờ có bộ mặt dân sự hợp pháp và hợp hiến, nước Việt Nam Cộng Hòa mới thời hậu Tổng Thống Diệm đã lần lượt có được sự thừa nhận của nhiều quốc gia thân hữu trên trường quốc tế, trong đó phải kể tới một số nước Ả Rập mà tiêu biểu là Vương Quốc Ả Rập Saudi kiên quyết chống Cộng ở Trung Ðông.

Tháng Mười Một năm 1967, sau khi đắc cử vào chức vụ tổng thống đầu tiên của Ðệ Nhị Cộng Hòa, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, trong vai trò tổng thống kiêm tổng tư lệnh quân đội, tiếp tục cho tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm hàng năm Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu với những cuộc diễn binh của tất cả các đơn vị và quân, binh chủng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa để biểu dương sức mạnh và ý chí quyết thắng của dân chúng Miền Nam Việt Nam chống lại cuộc xâm lược kéo dài của Cộng Sản Bắc Việt. Trong khi đó, tiến trình dân chủ hóa Miền Nam Việt Nam vẫn đều đặn diễn ra, với những cuộc bầu cử từ tổng thống cùng phó tổng thống và các đại biểu lưỡng viện Quốc Hội cho tới các nghị viên hội đồng thành phố và tỉnh trên toàn cõi Miền Nam Việt Nam. Cho dù Miền Nam Việt Nam vẫn đang đắm chìm trong khói lửa chiến chinh – với những trận chiến ác liệt như chiến dịch bắc phạt của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa (1966-1967), cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân của Cộng Sản (1968), cuộc hành quân đánh sang Căm Bốt của Quân Ðoàn 3 (1970), cuộc hành quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đánh sang Hạ Lào (1971), cuộc tổng tấn công của Cộng Sản vào Mùa Hè Ðỏ Lửa (1972), cuộc không tập và phong tỏa Bắc Việt của Hoa Kỳ vào Giáng Sinh 1972… và với những biến cố chính trị lớn lao như cuộc Hòa Ðàm Ba Lê (1968-1972), việc ký kết Hiệp Ðịnh Ba Lê 1973, cuộc trao trả tù binh các bên lâm chiến (1973), những vụ Cộng Sản lấn đất, giành dân, vi phạm hiệp Ðịnh Ba Lê mà cao điểm là cuộc tấn công đánh chiếm Phước Long (1974)… tiến trình dân chủ hóa Miền Nam Việt Nam đã diễn ra khá tốt đẹp dưới quyền lãnh đạo của một chính quyền mà đa số các giới chức cao cấp đều là sĩ quan hiện dịch trong quân đội hoặc có gốc gác nhà binh. Mấy ai có thể tưởng nghĩ được rằng, vào năm tồn tại cuối cùng của mình là 1975, guồng máy chính quyền Miền Nam Việt Nam, tuy do các “chính trị gia” gốc quân nhân lãnh đạo, lại có thể bao gồm một quốc hội với sự hiện diện của không ít các nghị sĩ và dân biểu đối lập (như Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu, Trần Văn Ðôn, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Nguyễn Hữu Chung, Lý Quý Chung, Kiều Mộng Thu,…) và vô số các đảng phái cũng như chính trị gia đối lập (cỡ Linh Mục Trần Hữu Thanh, LM Chân Tín, LM Nguyễn Ngọc Lan, và nhà báo Ngô Công Ðức,…) ngày đêm chỉ trích và “mắng mỏ” từ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cho tới Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm và phụ tá an ninh tổng thống là Trung Tướng Ðặng Văn Quang?

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

Tìm hiểu về ngày Quân Lực 19 tháng 6

 

Nguyễn-Huy Hùng (K1 Trường VBQGVN)

 

Ngày Quân Lực 19 tháng 6 tại Sàigòn

 

Cả gia đình Tôi tới định cư tỵ nạn Cộng sản Việt Nam tại Hoa Kỳ, vào đầu tháng 8 năm 1992 theo diện H.O.10 (Humanitarian Operation), đến nay 2015 tính ra cũng được hai mươi hai năm rồi. Các cháu nội, cháu ngoại của Tôi đã tiếp theo nhau vào Đại học. Có người đã tốt nghiệp và đã đi làm, có người còn đang tiếp tục học nửa chừng, có người sắp sửa hết chương trình Trung học, có người mới vào Tiểu học. Bạn bè của các cháu, có người là Hoa Kỳ chính gốc da trắng, cũng có người là Mỹ gốc Việt sinh ra và lớn lên tại Hoa Kỳ hay gốc các sắc tộc khác, đến nhà chơi trong những dịp Lễ hoặc kỷ niệm sinh nhật, biết Tôi là cựu Sĩ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng Hoà ngày xưa, nên thường đưa ra những câu hỏi rất đơn giản và thành thật, yêu cầu Tôi giải thích cho họ rõ về 2 điểm mà họ thường thắc mắc sau đây:

1.- Ngày Quân Lực 19 tháng 6 là ngày kỷ niệm của Quân đội nước nào vậy?

2.- Việt Nam Cộng hoà đã tan rã không còn, tại sao các Ông vẫn hàng năm tổ chức ngày kỷ niệm Quân lực làm chi vậy?

Tôi đã trả lời cho những người bạn của các cháu, một cách tổng quát đơn giản cho qua truyện. Nhưng họ không chịu, nhất định yêu cầu Tôi phải soạn ra những câu trình bầy chi tiết hơn, để họ có thể dựa vào đó giải thích cho các bạn khác cũng thường thắc mắc muốn tìm hiểu như họ. Vì thế, Tôi đã phải cố gắng vận dụng trí nhớ, cũng như tham khảo các ngày tháng năm chính xác trong 3 cuốn sách dưới đây, để soạn thành một tài liệu hướng dẫn đơn giản, nhưng tạm đầy đủ để làm vui lòng họ. Các sách ấy là:

1.- Bộ Quân sử Quân đội Việt Nam, Quyển IV, nói về Quân lực Việt Nam Cộng Hoà giai đoạn hình thành 1946 -1955, do Phòng 5 Bộ Tổng Tham mưu QLVNCH sưu khảo, biên soạn và phổ biến ngày 6 tháng 8 năm 1972 tại Saigon.

2.- Việt Nam Niên biểu 1939-1975, Tập A và Tập B, của Chánh Đạo, do nhà xuất bản Văn Hoá phát hành năm 1996 tại Hoa Kỳ.

3.- Việt Nam Niên biểu Nhân vật chí, có ghi gần 900 tác nhân lịch sử cận đại từ 1848 tới 1975, cũng của Chánh Đạo, do nhà xuất bản Văn Hoá phát hành năm 1997 tại Hoa Kỳ.

Những điều Tôi trình bầy được gói ghém trong 3 mục chính sau đây:

I.- Vì sao có Quân lực Việt Nam Cộng Hoà (QLVNCH)?

II.- Vì sao chọn 19 Tháng 6 làm NGÀY QUÂN LỰC?

III.- Những kỷ niệm khó quên của riêng Tôi về ngày Quân lực VNCH.

Nay thấy nhiều Hội đoàn đã tổ chức các Đoàn Hậu Duệ, để hướng dẫn các thế hệ trẻ nhập cuộc hoạt động thay thế các Thế hệ Cha Ông tiếp tục công cuộc đấu tranh hỗ trợ cho đồng bào Việt Nam ở trong nước vùng lên lật đổ bạo quyền Việt Cộng, giành lại Tự do, Dân chủ, Nhân quyền, Bình đẳng cho mọi người. Do đó, Tôi thấy cũng là một việc làm rất hữu ích là nhờ các cơ quan truyền thông tiếp tay phổ biến rộng rãi tài liệu này, để bất cứ ai muốn tìm hiểu về NGÀY QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ 19 THÁNG 6, đều có sẵn tài liệu xử dụng mỗi khi cần đến, đỡ tốn công mất thì giờ tìm tòi sưu tập.

Với tuổi già, bệnh hoạn, trí nhớ bị suy yếu vì 13 năm chịu cảnh tù đầy lao động khổ sai trong các trại cải tạo của Việt Cộng sau 30-4-1975, nếu có điều nào ghi lại bị thiếu sót thì mong quý vị độc giả còn minh mẫn bổ túc giùm, Tôi chân thành cảm tạ.

I.- VÌ SAO CÓ QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA?

1.1- Quan niệm chung về nhu cầu cần có Quân Lực.

Khi có một tập thể đông đảo người cùng chung nguồn gốc, hoặc nhiều Sắc tộc khác nhau nhưng sống bên nhau hoà thuận, theo cùng một chí hướng ước vọng giống nhau, đồng tâm hiệp lực sản xuất phát triển, để cùng có một cuộc sống ấm no hạnh phúc ngày một tân tiến hơn, thì nhóm người đó đương nhiên trở thành một DÂN TỘC và gọi nhau là ĐỒNG BÀO.

Khoảng KHÔNG GIAN trên Trái Đất mà Dân Tộc đó chiếm giữ và làm chủ, cũng đương nhiên được coi là LÃNH THỔ QUỐC GIA riêng của họ, không một Dân tộc nào khác được quyền xâm phạm, giành giật.

Trong cuộc sống tập thể đông đảo như vậy, nhu cầu duy trì trật tự bảo vệ an toàn cá nhân cho mọi người trong nội bộ Quốc gia, cũng như chống lại các THẾ LỰC NGOÀI DÂN TỘC muốn xâm lấn, uy hiếp, trấn lột cuộc sống bình an của Dân Tộc mình là cần thiết, nên đương nhiên cần phải có một lực lượng chuyên nghiệp võ trang hùng mạnh gọi là QUÂN ĐỘI hay QUÂN LỰC để chuyên lo.

Vì khoảng Không gian 3 chiều của mỗi Quốc gia gồm có: phần ĐẤT, phần TRỜI, và phần BIỂN, do đó muốn bảo vệ được hữu hiệu thì Tổ chức Quân đội cũng phải có đủ 3 loại Quân Chủng chuyên biệt khác nhau là: LỤC QUÂN, KHÔNG QUÂN, và HẢI QUÂN, để có thể hỗ tương nhau điều hành cuộc chiến tùy theo nhu cầu của mỗi hoàn cảnh tình huống khác nhau.

1.2-Bối cảnh nào Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà được thành lập?

Suốt 61 năm, nước An-Nam bị Thực dân Pháp đô hộ (sau 1945 khi giành lại được Độc lập tên nước mới gọi là Việt Nam), các Triều đình nhà NGUYỄN kế tiếp nhau không được phép có Quân đội riêng, chỉ có Lực lượng Cảnh vệ trang bị vũ khí thô sơ gọi là LÍNH LỆ, LÍNH DÕNG, chuyên canh gác các Dinh thự, bảo vệ an ninh, hầu hạ Vua và các Quan chức trong Triều đình. Tại các Phủ, Huyện hành chánh thống thuộc Hoàng Triều có LÍNH CƠ. Trực thuộc các phủ Thống Sứ (Bắc Kỳ), Khâm Sứ (Trung Kỳ) và Thống Đốc (Nam Kỳ) có lực lượng địa phương mà tại Bắc Kỳ là các đơn vị Lính Khố Xanh. Lực lượng chính quy của Phủ Toàn Quyền Pháp tại Đông Dương là các Trung Đoàn Bộ Binh hoặc Pháo Binh Thuộc Địa (Regiment d’Infanterie ou Artillerie Coloniale) thường được gọi là Lính Khố Đỏ.

Sau khi Thế giới Đại Chiến II chấm dứt, Việt Nam giành lại được Độc lập cho Quốc gia thì Quân đội Quốc gia Việt Nam mới được thành lập.


Trên lãnh thổ Việt Nam, vào ngày Chủ Nhật 11 tháng 3 năm 1945 (hai ngày sau khi quân Nhật lật đổ Pháp nắm toàn quyền cai trị Đông Dương), Vua Bảo Đại được Vua Nhật giúp tái lập Quốc Gia Việt Nam Độc Lập (thống nhất cả 3 miền Bắc Trung Nam) trong Khối Đại Đông Á do Nhật chủ xướng. Ông Trần Trọng Kim đã được Vua Bảo Đại cử làm Thủ Tướng thành lập chính phủ điều hành Quốc gia, và ban bố chương trình hưng quốc vào ngày 8 tháng 5 năm 1945, trong đó quy định Quốc Kỳ là cờ Quẻ Ly, nền vàng giữa có biểu tượng Quẻ Ly mầu đỏ nằm dọc theo bề dài nền cờ (2 vạch dài liền, nằm song song 2 bên 1 vạch đứt quãng chính giữa, trông như chữ CÔNG của Hán tự).

Quốc Ca là bài “Việt Nam minh châu trời Đông” của nhạc sĩ Hùng Lân.


 

Lời bản nhạc :

Việt Nam minh châu trời Đông!

Việt Nam nước thiêng Tiên Rồng!

Non sông như gấm hoa uy linh một phương,

Xây vinh quang ngất cao bên Thái Bình Dương.

Từ ngàn xưa tài danh lừng lẫy khắp nơi,

Tiếng anh hùng tạc ghi núi sông muôn đời.

Máu ai còn vương cỏ hoa,

Giục đem tấm thân xẻ với sơn hà.

Giơ tay cương quyết, Ta ôn lời thề ước.

Hy sinh tâm huyết, Ta báo đền ơn nước.

Dầu thân này nát tan tành gói da ngựa cũng cam,

Thề trọn niềm trung thành với sơn hà nước Nam.


Việt Nam Minh Châu Trời Đông

Việt Nam Minh Châu Trời Đông

Bản Quốc Ca thứ nhì của Việt Nam - 05/1945

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 1968-1975 (Song ngữ Việt-Anh)

 

ARVN: Reflections and Reassessments After 30 Years.

Nhà sử học Bill Laurie

Dịch giả: Nguyễn Tiến Việt

(Song ngữ Việt-Anh)

 SOURCE:

https://www.baoquocdan.org/2026/06/quan-luc-viet-nam-cong-hoa-1968-1975.html 

 

Bill Laurie is not only a Vietnam Vet, but a Vietnam War historian as well (a true expert on Vietnam War, not the kind of "military pundits" who used to talk "bullshit" in some military programs on TV). His following writing has been presented at The Vietnam Center Conference (Texas, March 29. '06) on the subject "ARVN: Reflections and Reassessments After 30 Years." Don't let the quotations, statistic tables, and references intimidate you, this ARVN report speaks outright simple and is worth reading.


Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, một đạo quân đã chiến đấu dũng mãnh chống cả Khối Đế Quốc Liên Xô, Trung Cộng và chư hầu để bảo vệ tự do, no ấm cho miền Nam.(HsPblogspot)

Lời người dịch: Bill Laurie là sử gia Hoa Kỳ, một trong những chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam và nhân chứng được mời trình bày quan điểm trong cuộc hội thảo mang tên “Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa: Suy ngẫm và tái thẩm định sau 30 năm” (ARVN: Reflections and reassessments after 30 years) do Trung Tâm Việt Nam thuộc Ðại Học Texas Tech tổ chức tại Lubbock trong hai ngày 17 và 18 Tháng Ba năm 2006.

Trong số nhiều diễn giả Việt-Mỹ, ông Laurie là người nêu ra quan điểm của riêng ông về một quân đội mà ông từng sát cánh với cương vị một chuyên viên tình báo cao cấp trong nhiều năm. Bài này được chuyển ngữ từ nguyên bản bài viết của Bill Laurie, mà ông dùng để trình bày, vắn tắt hơn, trong buổi hội thảo. Bill Laurie gửi tặng bài viết cho dịch giả, cho phép được dịch và phổ biến trong giới truyền thông Việt ngữ. Những chữ viết ngả để trong ngoặc đơn là chú thích của tác giả để câu văn chuyển dịch mang được đầy đủ ý nghĩa của nó.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thay đổi một cách đáng kể cả về số lượng lẫn phẩm chất trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1975. Sự thay đổi không hề được giới truyền thông tin tức (Hoa Kỳ) lưu ý, và nhìn chung thì đến nay vẫn không được công chúng Mỹ biết đến, vẫn không được nhận chân và mô tả đầy đủ trong nhiều cuốn sách tự coi là “sách sử”. Một phần nguyên nhân của sự kiện này là do bản chất và tầm mức của sự thay đổi không dễ được tiên đoán hay tiên kiến, dựa trên hiệu quả hoạt động và khả năng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1968.

Bài này không hề muốn chối bỏ những vấn đề nghiêm trọng đã hiện hữu, hay phủ nhận rằng vấn đề tham nhũng, lãnh đạo kém cỏi không tiếp tục gây hiểm họa cho khả năng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ đất nước họ. Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó, những vấn đề này có được giải quyết, và những khía cạnh tích cực của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không thể bị xóa khỏi trang lịch sử vinh quang.

Tôi đã tự chứng nghiệm điều này, khi đến Việt Nam cuối năm 1971 và phục vụ 1 năm tại MACV(Phái Bộ Quân Viện Hoa Kỳ tại Việt Nam), rồi sau đó trở lại thêm hai năm, từ 1973-1975, làm việc ở Phòng Tùy Viên Quân Sự. (DAO)

 


Khởi thủy, được huấn luyện và dự trù phục vụ như một cố vấn, tôi tham dự khóa huấn luyện căn bản sĩ quan lục quân tại Fort Benning, Georgia, tình báo chiến thuật và chuyên biệt về Ðông Nam Á ở Ft. Holabird, Maryland, và học trường Việt ngữ tại Ft. Bliss, Texas. Tới Việt Nam thì được biết những nhiệm vụ cố vấn đang được giảm dần để đi đến chỗ bỏ hẳn; nên thay vào đó tôi được chỉ định vào MACV J-2 với cương vị một chuyên viên phân tích tình báo, trước hết phụ trách Cambodia, rồi tập trung vào Quân Khu IV, bao quát toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long. Công việc này mở rộng một cách không chính thức để bao gồm công tác liên lạc giữa Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, các toán cố vấn Mỹ, các chính quyền tỉnh thị của Việt Nam, và cả các đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ở vùng IV. Trong 3 năm đó tôi có mặt lúc chỗ này, lúc chỗ khác, trên khắp 18 trong số 44 tỉnh của Việt Nam Cộng Hòa, liên lạc không những với các đơn vị Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa mà cả với người Úc, cơ quan viện trợ Mỹ USAID, và CIA. Khi thì đứng vào vị trí rất cao cấp trong những buổi thuyết trình ở tổng hành dinh của MACV cũng như ở Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tuần lễ sau đó tôi có thể đã lội trên những ruộng lúa tỉnh Kiến Phong cùng với các binh sĩ Ðịa Phương Quân, hay bay ngang tỉnh Ðịnh Tường trên một chiếc trực thăng Huey của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, hoặc là nằm trong căn cứ Biệt Ðộng Quân Trà Cú bên sông Vàm Cỏ Ðông.

Nói tiếng Việt là điều vô cùng quan trọng, và trong vòng một tháng sau khi tới Việt Nam, thật rõ ràng hiển nhiên là những điều tôi từng nghe ở Mỹ, dù là tin tức báo chí hay là những cuộc thảo luận ngốc nghếch trong các trường đại học, mà có thể diễn tả được những gì tôi đang trải qua và gặp phải. Nói vắn tắt, tôi tự hỏi “Nếu quả thật tất cả những người ở Mỹ đang nói về Việt Nam, thì mình đang ở nơi nào đây?”

Những thời khắc ngoài giờ làm việc của tôi được dàn trải trọn vẹn trong một kích thước thực tế hoàn toàn Việt Nam. Dù là ở Sài Gòn, Cao Lãnh, hay Rạch Giá, tôi cũng lui tới những cái quán nhỏ, với những bàn cà-phê, mì, cháo… háo hức lắng nghe người dân, người lính Việt Nam nói chuyện, tôi hỏi han, và học được thật nhiều, nhiều hơn những gì tôi từng học ở Hoa Kỳ.

Sự học tập của tôi không dừng lại ở năm 1975. Từ đó đến nay tôi đã đọc hằng feet/khối những tài liệu giải mật và hằng trăm cuốn sách, kể cả những tác phẩm tiếng Việt, phỏng vấn đến mức từ kỷ lục này qua kỷ lục nọ với những cựu chiến binh gốc Ðông Nam Á và gốc Hoa Kỳ, săn tìm trong hằng trăm trang web Việt Nam và Ðông Nam Á trên Internet. Vẫn còn rất nhiều điều về Việt Nam, Lào, Cambodia và Thái Lan hơn là những gì công chúng Hoa Kỳ tưởng, và những kết luận do những người ở các xứ ấy tự trình bày lên thì lại không phù hợp với những gì mà hầu hết mọi con người (ở Mỹ) tưởng là họ biết.

Quả là có những vấn đề nghiêm trọng về tham nhũng. Ðúng là có những tấm gương về lãnh đạo bất xứng. Tuy nhiên, chẳng phải ai nói hay gợi ý gì với tôi, mà chính là ngay lần đầu tiên đến với Sư Ðoàn 9 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa, tôi đã phát giác khả năng dày dạn và đầy chuyên nghiệp trong những hoạt động mà tôi chứng kiến ở một trung tâm hỏa lực cấp sư đoàn. Cũng chẳng ai nói với tôi là Sư Ðoàn 7 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa, đơn vị cứ mãi bị kết tội vì khả năng chiến đấu kém cỏi ở Ấp Bắc nhiều năm trước, đã biến thái thành một đơn vị có hiệu năng chiến đấu cao dưới tài lãnh đạo chỉ huy của Tướng Nguyễn Khoa Nam, một con người thanh liêm không một tì vết, song song với tài năng về chiến thuật, mà đến nay vẫn không hề được công chúng Hoa Kỳ biết tới, tuy đã được người Việt Nam tôn sùng đúng mức. Cũng không hề có ai ngụ ý hay nói với tôi rằng có thể là lực lượng Ðịa Phương Quân tỉnh Hậu Nghĩa, là những dân quân của tỉnh, đã làm mất mặt chẳng những 1 mà tới 3 trung đoàn chính quy của quân đội miền Bắc trong chiến dịch tấn công năm 1972 của Hà Nội. Họ đã nhai nát và nhổ ra nguyên cả lực lượng xung kích của đối phương, một lực lượng có thể đã làm đổi chiều lịch sử vào thời kỳ đó.

 


Ðịa Phương Quân không được Pháo Binh và Không Quân sẵn sàng yểm trợ như lực lượng chính quy Việt Nam Cộng Hòa, trong đó kể cả Nhảy Dù, Biệt Ðộng Quân, Thủy Quân Lục Chiến. Quân địa phương chỉ dựa vào kỹ thuật chiến đấu căn bản bộ binh. Nếu quân Bắc Việt đánh thủng được chiến tuyến này thì họ đã lập tức trực tiếp đe dọa Sài Gòn, chỉ cách đó 25 dặm, buộc Sư Ðoàn 21 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa phải rút khỏi quốc lộ 13, từ đó để cho lực lượng Bắc Việt hướng thẳng vào An Lộc. Và như Tiến Sĩ James H. Willbanks viết trong tác phẩm xuất sắc của ông (về trận An Lộc), Sư Ðoàn 21 tuy không thành công trong việc phá vòng vây An Lộc nhưng cũng đã buộc Bắc Việt phải đưa một sư đoàn đổi hướng khỏi chiến trường An Lộc, nếu không, nơi này có thể đã sụp đổ với những hậu quả khốc liệt.

Nói vắn tắt, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một cách toàn diện, đã có khả năng cao hơn nhiều so với những gì tôi biết trước khi tôi qua Việt Nam, và càng cao hơn nhiều so với những gì được chuyển tới cho người dân Mỹ. Ngày trước… và ngày nay cũng vậy.

Trở lại thời kỳ đang thảo luận trong bản thuyết trình này, ai cũng biết Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vướng mắc nhiều vấn đề trầm trọng. Ðiều này là hiển nhiên. Nếu không như vậy thì đã chẳng cần phải yêu cầu những đơn vị chiến đấu của Hoa Kỳ, Úc, Nam Hàn, Thái Lan và New Zealand tới đó.

 


Tuy nhiên, còn có những chỉ dấu cho thấy lực lượng Việt Nam Cộng Hòa khi được trang bị đúng mức và chỉ huy tốt đẹp thì sẽ có khả năng tới đâu. Năm 1966 một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân Việt Nam Cộng Hòa đã gây thiệt hại nặng và đã “giúp” giảm quân số chỉ còn 1 phần 10 cho một trung đoàn Bắc Việt đông gấp ba lần họ ở Thạch Trụ. Tiểu đoàn này được Tổng Thống Johnson tặng thưởng “Huy chương của tổng thống Hoa Kỳ”. Ðại Úy Bobby Jackson, cố vấn tiểu đoàn này, đã mô tả người đối tác của ông, Ðại Úy Nguyễn Văn Chinh (hay Chính?), như là con người tuyệt nhiên không hề sợ hãi. Tiểu Ðoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến, mang huy hiệu Trâu Ðiên, đã từng bắt nạt nhiều đơn vị cộng sản miền Nam và chính quy Bắc Việt, chứng tỏ sự xứng hợp của huy hiệu trâu điên (càng có ý nghĩa đối với những ai đã từng gặp phải một con trâu đang nổi giận (và bị nó ăn hiếp!) Công trạng của họ không hề được tường trình trong giới truyền thông tin tức của Hoa Kỳ, và về sau cũng bị bỏ quên trong cái gọi là “lịch sử”…

Năm 1968, trong bối cảnh cuộc tổng công kích 68 thất bại của Hà Nội, các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ thấy rõ là kế hoạch Việt Nam hóa phải được tăng tiến, nhưng nhiều người (Mỹ) lại lầm tưởng đó là ranh giới giữa hai thời kỳ, thời kỳ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không chiến đấu, và bây giờ là lúc họ bắt đầu chiến đấu. Thái độ này đã bỏ quên dữ kiện là mức tử vong vì chiến sự hằng tháng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã vượt xa mức tổn thất trong toàn cuộc chiến của tất cả các lực lượng đồng minh cộng lại.

Rốt cuộc thì Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cũng được cung cấp vũ khí tối tân, thay thế những trang bị thời Thế Chiến Thứ Hai mà hầu hết quân lực này phải sử dụng (khoảng đầu năm 1968 chỉ có 5% quân đội Việt Nam Cộng Hòa được trang bị súng M16), nhìn chung thì thua kém vũ khí của Việt Cộng và bộ đội Bắc Việt. Ðồng thời, quân số cũng tăng tiến, theo như bảng dưới đây trình bày:

(Bảng ghi những con số gia tăng quân số của các lực lượng chính quy và Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân, từ năm 1968 đến năm 1972, cho thấy quân số tổng cộng tăng 28%, từ 820 ngàn lên 1 triệu 48 ngàn quân. Trong đó, Không Quân gia tăng quân số tới 163%, Hải Quân tăng 110%, Lục Quân tăng gần 8% quân số)

Trong bảng này, nhóm từ Anh ngữ ARVN, tức the Army of Republic of Vietnam, có nghĩa là Lục Quân Việt Nam, chỉ bao gồm 38% Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (tác giả không đồng ý dùng nhóm chữ ARVN để chỉ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và ông dùng nhóm chữ RVNAF, Republic of Vietnam’s Armed Forces). Ngoài ra còn những thành phần khác, gồm Cảnh Sát Dã Chiến, Nhân Dân Tự Vệ, và các toán Xây Dựng Nông Thôn.

Lực lượng xây dựng nông thôn không được coi là lực lượng chiến đấu, còn lực lượng Nhân dân tự vệ thường bị chế diễu nhưng (những lực lượng này) cũng là chướng ngại cho quân Việt cộng và quân đội Bắc Việt (North Vietnam’s Army trong nguyên bản). Có lần một toán cán bộ xây dựng nông thôn đã đẩy lui cả một tiểu đoàn Việt cộng ở tỉnh Vĩnh Long. Các toán viên biết gọi pháo binh của tỉnh yểm trợ. Chuyện này cũng không được biết đến để ghi nhận vào tài liệu.

Thành phần của lực lượng Nhân dân tự vệ thì quá trẻ, hay quá già, hay vì thương tật nên không gia nhập quân đội chính quy, chỉ phục vụ như lực lượng phòng vệ làng ấp chống lại những toán thu thuế, tuyển mộ, hay tuyên truyền của cộng sản địa phương. Nhưng Nhân dân tự vệ cũng là một yếu tố mà cộng sản địa phương phải đối phó sau năm 1968. Trước đó không có lực lượng này, Việt cộng ở địa phương tự do đi vào ấp xã lúc ban đêm. Nhiều lúc Nhân dân tự vệ không có hiệu quả, nhiều khi họ bị tuyên truyền để đi theo Việt cộng, nhưng có nhiều lúc khác lại có những báo cáo như sau: (Trích từ các sách vở của các tác giả người Mỹ).

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

Chào mừng ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

 

Chiêu Anh/Cong Pham

Xin giới thiệu bài viết của một chiến hữu ghi lại nhân ngày QL.VNCH 19/6 .

Hồi ký của một chiến sĩ xuất sắc về tham dự ngày Quân Lực 19/6/1973 

 


Hình chụp tại Sài Gòn Tửu Lầu ngày 18 tháng 6 năm 1973:

 Tr/úy KB Nguyễn Vân Cư và cô Vũ Lan thuộc Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương 

Cục Chính Huấn QLVNCH

 

Tháng 6 năm 1973, đại úy Nguyễn Thường Hưởng Chi đoàn trưởng Chi đoàn 3/15 Thiết kỵ, thuộc Thiết đoàn 15 Kỵ Binh, Lữ Đoàn III Xung Kích, đã đề cử tôi, trung úy Nguyễn Vân Cư, chức vụ Chi đoàn phó, Chi đoàn 3/15 Thiết kỵ là một Chiến Sĩ Xuất Sắc của đơn vị, được phép về Thủ Đô Sài Gòn tham dự ngày Quân Lực 19 tháng 06 năm 1973. Thành tích của cá nhân tôi được đơn vị xét về chiến công, về quá trình hoạt động trong đơn vị, về quân phong , quân kỷ, quân vụ… đã được Trung tá Thiết Đoàn Trưởng, Thiết Đoàn 15 Kỵ Binh và Chuẩn tướng Tư Lệnh Lữ Đoàn III Xung Kích thông qua.

Thật là bất ngờ! Một niềm hãnh diện và vui sướng tràn ngập tận đáy lòng khi các anh em kỵ binh các cấp của chi đoàn đến chúc mừng tôi với những cái xiết tay thật thân mật. Tôi có cảm tưởng mình như đang trong một giấc mơ và… giấc mơ nay đã trở thành sự thật!

Cầm sự vụ lệnh trên tay có dấu ấn ký của Chuẩn tướng Trần Quang Khôi Tư Lệnh Lữ Đoàn III Kỵ Binh, và được đại úy Nguyễn Thường Hưởng, Chi Đoàn Trưởng cấp cho một chiếc xe Jeep A2 về trình diện Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp, bản doanh đóng tại Gò Vấp Gia Định mà lòng tôi cảm thấy như hồn sắp bay bổng tận mây xanh. Tâm trạng vô cùng xao xuyến, rộn rã, hân hoan… khó mà diễn tả hết được!

Tôi trình diện phòng 5 Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp lúc 8 giờ sáng ngày 17 tháng 6 . Lúc bấy giờ, tại đây đã có 3 kỵ binh khác đơn vị cũng được đề cử là Chiến Sĩ Xuất Sắc đã trình diện trước đó vài phút . Những kỵ binh này có lẽ từ các đơn vị Thiết Giáp của các vùng chiến thuật gởi về. Sau khi chào hỏi và bắt tay thân mật, một vị Trung tá (tôi không nhớ tên) Trưởng Phòng 5 BCH/TG đưa mắt nhìn chúng tôi từ trên xuống dưới, ông mĩm cười thông cảm. Vì… chưa có anh chàng kỵ binh nào… kịp hớt tóc, cạo râu,…quần áo còn dính đầy bụi đỏ hành quân vì chưa có thời gian giặt giủ, và trông giống….như…là…lính…bụi đời!

Ông cho biết bốn người chúng tôi thuộc đơn vị của 4 Lữ Đoàn Kỵ Binh của vùng I, vùng II, vùng III, và vùng IV chiến thuật được đề cử là Chiến Sĩ Xuất Sắc, và được đơn vị gởi về Thủ Đô để tham dự Ngày Quân Lực 19 tháng 06 năm nay (1973). Ngoài ra, còn có những anh em kỵ binh khác của các Thiết đoàn trực thuộc các Sư Đoàn Bộ Binh trên toàn quốc cũng đã về trình diện trong những ngày trước và đã được BCH/TG chuyển đến trại Chiến Tranh Chánh Trị Nguyễn Trãi rồi.

Vì không còn đủ thời gian để thăm hỏi , trò chuyện, nên ông trung tá trưởng phòng chỉ hướng dẫn một cách khái quát về những gì cần phải làm trong những ngày giờ sắp tới. Sau đó, ông trao cho mỗi người một phong bì trắng, trong mỗi phong bì có 5.000 đồng tiền giấy năm trăm hình con cọp mới toanh .“Đây là phần quà của Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá, Chỉ Huy Trưởng Thiết Giáp Binh gởi tặng các anh”. Ông nói.

Những thủ tục giấy tờ cần thiết đã làm xong, ông liền gọi tài xế xe Jeep của ông vào trình diện và căn dặn anh ta một vài điều cần phải làm, sau đó ông vui vẻ mời chúng tôi lên xe để chuyển về trại Nguyễn Trãi, Thánh Tổ của ngành Chiến Tranh Chánh Trị /QLVNCH.

Mặc dù miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ đang là thời tiết của mùa mưa, nhưng bầu trời của vùng Thủ Đô Sài Gòn trong thời điểm này trông sao đẹp quá! Không có một cơn mưa lớn, nhỏ nào đổ xuống thành phố và vùng phụ cận. Ánh nắng mặt trời chiếu rọi xuyên qua cành cây kẽ lá của những cây bàng, cây me…được trồng dọc hai bên đường, làm thành những vết trắng đen lốm đốm in lên mặt đường nhựa trông giống như màu áo bông dù của lính. Thời tiết oi bức của thành phố Sài Gòn cũng bị xua đuổi bởi những cơn gió nồm thoáng qua vô cùng mát mẻ. Thỉnh thoảng một vài cụm mây xám kéo đến định che lấp vần thái dương nhưng cũng bị những làn gió mạnh thổi đi nơi khác.

Từ thôn quê cho đến thành thị, từ vùng ngoại ô đến trung tâm Thủ Đô , nói khác hơn là toàn cõi miền Nam Việt Nam thời bấy giờ, người ta cảm thấy như có cái gì mới lạ. Những tư gia, phố xá, công sở, trường học, cơ xưởng, hay xe đò khách , xe gắn máy, thuyền tàu.…. đều có treo hoặc sơn vẽ lá cờ vàng ba sọc đỏ, lá cờ biểu tương cho sự yêu chuộng tự do, dân chủ, và nhân quyền …của đồng bào miền Nam đang tung bay phất phới theo làn gió nhẹ. Hầu hết các dãy phố, các công tư sở, các tư gia …được sơn phết, quét vôi lại sạch sẽ, mới mẻ… người ta có cảm tưởng giống như ngày Tết Nguyên Đán sắp đến. Những đại lộ , xa lộ, đường một chiều, đường hai chiều… đều được vẽ lại những lằn sơn trắng , sơn vàng phân biệt ranh giới cho xe chạy để tránh bớt tai nạn có thể xẩy ra trong những ngày mà toàn dân thủ đô và vùng phụ cận tuông ra đường hân hoan chào mừng ngày Quân Lực. Riêng tại trung tâm thành phố Sài Gòn và xung quanh khu vực chợ Bến Thành hầu hết các nẻo đường sẽ có diễn binh các cửa ra vào đều bị đóng chận bởi những rào cản của sở Cảnh Sát Thủ Đô, và được thông báo cấm tất cả các loại xe di chuyển từ 8 giờ tối ngày 18 cho đến giữa trưa ngày 19 tháng 6 năm 1973. Những đoạn đường này sẽ được mở lại khi nào cuộc diễn binh của các đơn vị quân đội chấm dứt…

Chiếc xe Jeep chở 4 anh em kỵ binh chúng tôi dừng trước cổng trại Nguyễn Trãi, người tài xế xuống xe và trình sự vụ lệnh cho người gác cổng. Một vị sĩ quan trực hướng dẫn chúng tôi vào một hội tường rộng rãi của trại. Trong hội trường đã có chừng khoảng trên 50 quân nhân các cấp đã đến trình diện trước, tất cả đang cười nói chào hỏi với nhau thật nhộn nhịp. Khi thấy chúng tôi vừa bước vào cửa , sự ồn ào hầu như ngưng đọng, họ đưa mắt nhìn ra cửa như muốn tìm xem những anh chàng lính mới đến thuộc đơn vị nào, binh chủng nào? Trong chốc lát không khí trở lại ồn ào nhộn nhịp như cũ sau những câu chào hỏi xã giao và những cái xiết tay thật thân mật

Tôi đưa mắt nhìn lướt qua khối người đang cười nói trò chuyện trong hội trường để tìm kiếm xem có anh chàng nào quen cùng khóa, cùng quê, hoăc cùng đơn vị, hay cùng gặp nhau trên chiến trường trong lúc phối hợp hành quân,.… nhưng không tìm thấy một ai quen biết. Tất cả mọi người đều xa lạ, nhưng chốc lát đã thân quen vì… tất cả là “huynh đệ chi binh”. Những anh chiến sĩ hiện diện mang màu áo của đủ mọi quân binh chủng như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Đông Quân, Sư Đoàn Bộ Binh , Biệt Kích, Thiết Giáp, Pháo Binh, có cả những anh lính Địa Phương Quân, Nghĩa Quân từ các tiểu khu xa xôi được đơn vị tuyển chọn gởi về. Tất cả những người lính hiện diện tại đây có cấp bậc, binh chủng, đơn vị khác nhau, nhưng vẫn có những nét đặc biệt gần giống nhau vì anh chàng nào cũng có một mái tóc dài phủ tai, phủ cổ, râu ria lởm chưởm chưa kịp cạo hớt, quần áo còn dính đầy bụi đất hành quân, nước da sạm nắng trông có vẻ …lính bụi đời! Nét kiêu hùng dũng cảm của những người chiến sĩ từ chiến tuyến trở về thành phố để tham dự ngày Quân Lực không thể giấu diếm, nó được thể hiện qua những bộ quần áo trận đã phai màu vì những tháng năm dài mưa nắng, hoặc trên ngực áo mang đầy những huy chương đủ loại được đơn vị ban thưởng mỗi khi lập được chiến công

Một vị thiếu tá và một trung úy có mang phù hiệu Chiến Tranh Chánh Trị của trại Nguyễn Trãi bước vào, trên tay cầm những xấp hồ sơ giấy tờ, bước lên sân khấu có bục thuyết trình cầm micro lên tiếng mời tất cả các anh em quân nhân ngồi xuống những hàng ghế sắp sẳn, yêu cầu giữ im lặng. Sau những lời chào hỏi xã giao, vị trung úy CTCT điểm danh từng người hiện diện, kế đến vị thiếu tá hướng dẫn anh em các nghi thức sinh hoạt, cũng như lịch trình diễn tiến trong những ngày sắp tới.

Độ khoảng nửa giờ sau, họ hướng dẫn tất cả anh em quân nhân qua một phòng khác. Nơi đây đã có sẳn hơn mười anh thợ hớt tóc, tay cầm sẳn một cái tông-đơ hớt tóc và một cái dao cạo râu …vui vẻ…”chào đón” anh em! Trên sàn xi măng người ta thấy còn đầy ấp những râu tóc bị cạo cắt chưa kịp thu quét. Không cần phải suy đoán, ai cũng thừa hiểu rằng chắc chắn đã có nhiều anh chiến sĩ từ chiến trận về trình diện vào những ngày trước, đã được mấy anh lính “thợ cạo” tình nguyện “dọn dẹp” sạch sẽ, gọn ghẻ mái tóc và hàm râu lởm chưởm… bụi đời của những anh chàng lính…rừng với thời gian ít ỏi ngoài chiến trường khó có thể “dọn dẹp …sạch sẽ” được !

Một khoảng thời gian ngắn, một giờ đồng hồ, tất cả những mái tóc …dài phủ ót, và những đám râu ria moc…mất trật tự của những chàng chiến sĩ mới đến cũng đồng chung số phận rụng rơi lả chả trên sàn xi măng của phòng hớt tóc dã chiến của doanh trại! Những chàng lính trận dạn dày sương gió bây giờ đã trở thành những anh chàng “tân binh” như vừa mới nhập ngũ thi hành quân dịch ở Trung Tâm 3 Tuyển Mộ và Nhập Ngũ để chuẩn bị chuyển sang Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung! Trông các anh cũng đẹp…trai ra phếch!

Trong khi các anh “thợ cạo” đang thi hành nhiệm vụ sửa sang “sắc đẹp” cho các chiến sĩ, một số khá đông các phóng viên báo chí , truyền thanh, truyền hình, các cơ quan truyền thông của chính phủ hoặc tư nhân đến để quay phim , làm phóng sự, và phỏng vấn… Đặc biệt trong số các cơ quan truyền thông hiện diện, tôi nhận thấy có đài truyền hình, truyền thanh quân đội, và chương trình Dạ Lan,… Dạ Lan, một em gái hậu phương lúc nào cũng sẵn sàng chia sẻ những tâm trạng buồn vui của đời lính trong những đêm dài trên làn sóng phát thanh quân đội. Hôm nay, cô Dạ Lan có vẻ rất bận rộn hơn, cô lăn xăn thăm hỏi và phỏng vấn từng anh chiến sĩ về lý lịch, đơn vị phục vụ, quá trình hoạt động, thành tích chiến đấu… với mục đích để vinh danh người lính Quân Lực VNCH trong chương trình phát thanh của cô vào mỗi buổi tối.

Sau khi hớt tóc cạo râu và tắm rửa sạch sẻ, tất cả các chiến sĩ được vị sĩ quan phụ trách hướng dẫn đến phòng quân nhu. Tại đây, các anh quân nhân thợ may nhanh nhẹn cắt đo tùy theo màu áo trận của quân binh chủng cho mỗi người 2 bộ quân phục 4 túi và được cấp phát một đôi giầy “máp” đen bóng loáng. Anh nào có tên trong danh sách được đi du lịch ở Đài Loan thì được may thêm một bộ “vét-tông” và lãnh thêm một túi hành lý xách tay lớn.

Sau bửa cơm trưa và nghỉ ngơi tại trại, khoảng 2 giờ chiều, chúng tôi được vị trung úy phụ trách đọc tên cho lên xe buýt quân đội đang đậu chờ trước sân hội trường để phân phối đến những khách sạn lớn, sang trọng và nỗi tiếng nhất quanh trung tâm Thủ Đô Sài Gòn như khách sạn Continental, Majestic, Palace, Đồng Khánh…(không nhớ hết tên khách sạn). Theo sự hiểu biết của tôi thì có khoảng 10 khách sạn xung quanh Thủ Đô dành riêng cho 300 Chiến Sĩ Xuất Sắc thuộc các quân binh chủng trên toàn quốc, khoảng 100 chiến sĩ bị V.C. bắt làm tù binh được trao trả sau hiệp định Ba-Lê, và khoảng 200 chiến sĩ thuộc ngành Cảnh Sát Quốc Gia, Nghĩa Quân và Nhân Dân Tự Vệ … ở trọ miển phí suốt những ngày tham dự lễ tại Thủ đô Sài Gòn. Tổng số có khoảng hơn 600 Chiến Sĩ Xuất Sắc trên toàn quốc do các đơn vị đề cử và được tuyển chọn về Thủ Đô để tham dự ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 1973.

Chúng tôi, một nhóm 30 người được xe buýt quân đội đưa tới khách sạn Palace, tọa lạc gần bến Bạch Đằng. Những cô tiếp viên trẻ đẹp duyên dáng với những chiếc áo dài màu xanh da trời, niềm nở, tươi cười chào đón và hướng dẫn đến các phòng trọ.

Tôi và ba chiến hữu khác được một cô tiếp viên hướng dẫn lên lầu 9 phòng số 7. Chúng tôi bốn người ở chung một phòng có 2 chiếc giường nệm đôi. Chung phòng với tôi có một chiến hữu kỵ binh thuộc Lữ Đoàn I Quân Khu I. Anh Trung là một Hạ Sĩ Quan, được thăng cấp đặc cách mặt trận 2 lần trong năm , mang cấp bậc thượng sỉ nhất ! Thành tích của anh là đã bắn hạ nhiều chiến xa T54 của việt cộng trong trận đánh phối hợp với Thủy Quân Lục Chiến tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị mùa hè đỏ lửa 1792. Ngoài anh Trung, còn có 2 anh chàng pháo thủ (không nhớ tên) cấp bậc thiếu úy, thuộc binh chủng Pháo Binh Vùng I Chiến thuật…

Lần đầu tiên được ở trọ trong một phòng ngủ của một khách sạn sang trọng giữa trung tâm Thủ Đô Sài Gòn , chúng tôi vô cùng bở ngở và xa lạ! Máy điều hòa không khí chạy 24/24, điện thọai, TV màu, thang máy, giường nệm , vải ra trắng trải giường…đều là những thứ đắt tiền mà… “tiền lính” khó mà …”tính liền” được!. Chúng tôi cảm thấy vô cùng thoải mái và an bình khi đặt lưng xuống “đánh một giấc ngủ” cho đến trời sụp tối để tạm quên đi những ngày tháng chiến đấu không mệt mỏi trên chiến trường.

Khoảng 6 giờ chiều, một trung úy và hai quân nhân thuộc đơn vị Chiến Tranh Chánh Trị có trách nhiệm giúp đở, hướng dẫn các anh Chiến Sĩ Xuất Sắc ở khách sạn Palace, đến gõ cửa, mang đến mỗi người chúng tôi 2 bộ quần áo trận 4 túi mới toanh vừa mới may xong và ủi hồ thẳng nếp, một tấm vải băng-rôn màu đỏ bề ngang khoảng 1 tấc, dài 1 thước, có viết lên hàng chữ lớn bằng sơn trắng “Chiến Sĩ Xuất Sắc 1973” để choàng xéo từ vai phải đến hông trái (xem hình chụp), một phù hiệu gắn vào túi áo có hình người lính VNCH đang cầm súng giơ cao reo mừng chiến thắng. Chúng tôi rất lấy làm danh dự và hảnh diện mang những thứ này trên nguời mỗi khi rời khỏi khách sạn.

Ngày 18 tháng 6. Buổi tiệc đầu tiên do Hội Đồng Nghị Viên Thành Phố Sài Gòn khoảng đãi lúc 12 giờ trưa tại nhà hàng Sài Gòn Đại Tửu Lầu. Nhân dịp này, ông Đô Trưởng Sài Gòn thay mặt đồng bào Thủ Đô đọc diễn văn chào mừng ngày hội ngộ, và gởi lời cám ơn đến tất cả các anh chiến sĩ QLVNCH đã hy sinh cuộc sống riêng tư, cầm súng bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự xăm lăng của Công Sản Bắc Việt, đem lại sự an vui, thanh bình cho toàn dân miền Nam nói chung, và cho đồng bào đang sinh sống tại thủ đô Sài Gòn nói riêng. Sau đó, ông nhờ những nhân viên phụ trách trao cho mỗi anh Chiến Sĩ Xuất Sắc một bao thơ có 10.000$ do đông bào thủ đô gởi tặng. Ban nhạc Tam Ca 3 Con Mèo và toàn thể anh chị em nghệ sĩ thuộc Cục Chính Huấn QLVNCH giúp vui về phần văn nghệ. Trong buổi da tiệc ngắn ngủi và vui vẻ này, tôi đã bất ngờ quen biết được một em gái hậu phương, đó là cô Vũ Lan, Tiểu đoàn 30 CTCT, KBC 4136, trực thuộc Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương, Cục Chính Huấn, Quân Lực Việt Nam Công Hòa. Một mối tình thầm lặng giữa “Nàng Ca Sĩ Cục Chính Huấn Vũ Lan và chàng Thiết Kỵ 3/15” đã kéo dài cho đến ngày “đứt phim” 30 tháng Tư, năm 1975 mới …tan vở…!!!…

Khoảng 4 giờ chiều cùng ngày, đoàn xe buýt quân đội đưa toàn thể các anh Chiến Sĩ Xuất Sắc đến Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa để tham dự Lễ Truy Điệu cho các Chiến Sĩ QLVNCH đã vị quốc vong thân. Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm đến chủ tọa buổi lễ. Ngoài ra, còn có Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, các vị Tướng lãnh quân đội, các vị Đơn Vị Trưởng của các quân binh chủng đều có mặt. Bầu trời đang trong vắt, đột nhiên có những cụm mây xám đen to lớn theo làn gió mạnh kéo đến che kín vần thái dương, khiến cho quang cảnh xung quanh vùng trời Nghĩa Trang lúc bấy giờ trở nên âm u, lạnh lẽo, và buồn tẻ…. Ngọn lửa thiêng được Thủ Tướng và các Tướng lãnh đốt lên trên cái lư hương bằng đồng rất lớn đặt trước ngôi mộ chung của Nghĩa Trang Mọi người hiện diện có linh cảm rằng những anh linh của các chiến sĩ QLVNCH vì nước quên thân đang tập trung quanh ngọn lửa hồng để tìm chút hơi ấm. Buổi lễ thật xúc động qua nghi thức chào kính và hát bài Quốc Ca, lễ đặt vòng hoa, lễ truy điệu Chiến Sĩ Trận Vong và lễ niệm hương trước Đài Tưởng Niệm . Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, các vị Tướng lãnh và các vị lãnh đạo tinh thần các Tôn Giáo như: Phật Giáo , Công Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo…. đứng nghiêm trang và lâm râm khấn nguyện .

Rời Nghĩa Trang khoảng 6giờ 30 chiều, toàn thể các anh Chiến Sĩ Xuất Sắc được xe buýt chuyển đến nhà hàng Continental để tham dự buổi tiệc ăn tối do các vị Dân Biểu Hạ Nghị Viện của Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa khoảng đãi. Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương với các ca nhạc sĩ nỗi tiếng phối hợp cùng ban nhạc AVT phụ trách văn nghệ cho buổi dạ tiệc. Mỗi anh Chiến Sĩ cũng nhận được một món quà tiền mặt 10.000$ do Quốc Hội Hạ Nghị Viện gởi tặng.

Ngày 19 tháng 6. Đây là ngày lễ chánh thức của Quân Lực Quân Lực VNCH. Hôm nay bầu trời vùng thủ đô rất quang đảng, không có một áng mây đen nào lãng vãng trên vùng trời Sài Gòn, tiên đoán thời tiết đã báo trước rằng trời sẽ không có mưa trong ngày này. Tất cả các anh Chiến Sĩ Xuất Sắc được xe buýt đưa đến vị trí hành lễ lúc 8 giờ sáng, và được ngồi cạnh khán đài danh dự dành riêng cho Tổng Thống, phó Tổng Thống, các vị Quan Khách ngoại quốc, và các vị Tướng Lãnh quân đội.

Quang cảnh xung quanh những đoạn đường mà đoàn hùng binh QLVNCH sắp diễn hành ngang qua các khán đài thật là nhộn nhịp. Ngồi trên khán đài quan sát hai bên những con đường của khu vực diễn hành thuộc trung tâm Thủ Đô gần chợ Bến Thành, người ta thấy có những đoạn đường dài hơn 1 cây số đối diện với khán đài, rất đông đảo đồng bào đến từ vùng thủ đô và các tỉnh lân cận để tham dự ngày diễn binh , số người tham dự có thể lên đến nhiều chục ngàn. Họ đến sớm hơn giờ diễn hành 2 hoặc 3 giờ đống hồ để giành chổ tốt.

Những ông già bà lão mặc quốc phục cổ truyền bắt ghế kiên nhẩn ngồi chờ, những cô gái tha thướt với những chiếc áo dài đủ màu sắc sặc sở nhởn nhơ như đàn bướm lượn, những cậu trai trong bộ âu phục chỉnh tề cười nói huyên thuyên , những trẻ em khép nép bên mẹ với ánh mắt ngở ngàng trước đám đông , những chiến hữu đủ mọi binh chủng với bộ quân phục gọn gàn, nét mặt hân hoan hớn hở chào hỏi các đồng đội…Họ đứng thành nhiều hàng dọc hai bên đường; họ đứng trên những bao lơn của những phố lầu cao, họ đứng trên những khán đài được thiết lập hai bên con đường có diễn binh.v.v… thậm chí có một số trẻ em leo trèo lên những cây trụ điện cao để nhìn dễ dàng hơn, nhưng bị các nhân viên phụ trách an ninh, trật tự “mời xuống” vì sợ tai nạn có thể xẩy ra. Tất cả đều chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ của thành phố, nên suốt buổi lễ không có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra.

Những ký giả, phóng viên, báo chí ,truyền thanh, truyền hình, quốc nội cũng như các cơ quan truyền thông ngoại quốc lăn xăn …làm phóng sự, quay phim , chụp ảnh khiến cho quang cảnh buổi lễ càng thêm náo nhiệt Những bong bóng lớn có in hình lá quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ , những biểu ngữ có viết chữ “Toàn Dân Hân Hoan Chào Mừng Ngày Quân Lực 19/06 “ hay “Toàn Dân Vinh Danh Chiến Sĩ QLVNCH” được giăng mắc dọc hai bên những dãy phố và những cây trụ điện đã làm cho buổi lễ càng thêm long trọng.

Các anh Chiến Sĩ Xuất Sắc trong bộ quân phục 4 túi đủ mọi binh chủng sắp thành hai hàng dọc, bước chầm chậm lên khán đài. Tiếp đến các vị Tổng Thống, Phó Tổng Thổng, các vị Bộ Trưởng, các vị Tướng Lãnh, các Quan Khách Ngoại Quốc, các Đơn Vị Trưởng của các quân binh chủng.v…v.. duyệt hàng quân danh dự rồi lần lượt tiến vào lễ đài theo điệu nhạc hùng ca được trổi lên bởi đoàn Quân Nhạc Quốc Gia, hòa lẫn những tràng pháo tay và tiếng hoan hô vang vội của hằng chục ngàn đồng bào tham dự.

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

Phạm Sơn Liêm:19 tháng 06 - Xây Dựng Nông Thôn Việt Nam Cộng Hòa - Cuộc Chiến Không Tiếng Súng

 

Khi nhắc đến Việt Nam Cộng Hòa, nhiều người thường nghĩ đến những trận đánh lớn, những đơn vị thiện chiến như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến hay Biệt Động Quân. Nhưng bên cạnh chiến trường đẫm lửa còn có một mặt trận khác âm thầm hơn, đó là công cuộc xây dựng nông thôn.

Trong những năm chiến tranh, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa hiểu rằng muốn giữ được đất nước thì không chỉ giữ được lãnh thổ mà còn phải giữ được lòng dân. Vì vậy, chương trình Xây Dựng Nông Thôn được hình thành với mục tiêu đem an ninh, giáo dục, y tế và phát triển kinh tế đến tận các làng xã xa xôi.

Tại nhiều vùng quê miền Nam, những con đường đất được mở rộng, cầu khỉ được thay bằng cầu bê tông. Trường học được xây dựng, trẻ em được đến lớp. Các trạm y tế xã xuất hiện ở những nơi trước đây người dân phải đi hàng chục cây số mới gặp được bác sĩ, y tá. Hàng ngàn giếng nước, hệ thống thoát nước và công trình công cộng được xây dựng trong điều kiện chiến tranh khốc liệt.

Các cán bộ Xây Dựng Nông Thôn thường là những thanh niên được huấn luyện đặc biệt. Họ không mang nhiệm vụ chiến đấu trực tiếp mà sống cùng dân, giúp dân sản xuất, tổ chức sinh hoạt cộng đồng, hướng dẫn vệ sinh và hỗ trợ chính quyền địa phương. Nhiều người gọi họ là những “chiến sĩ không súng” trên mặt trận quốc gia.

Tại nhiều nơi, ban ngày người dân cùng nhau xây trường học, làm đường; ban đêm lại phải đối mặt với những cuộc tấn công của du kích cộng sản. Không ít cán bộ Xây Dựng Nông Thôn đã ngã xuống khi đang thực hiện nhiệm vụ tại các vùng hẻo lánh. Họ không được nhắc đến nhiều như những người lính ngoài mặt trận, nhưng sự hy sinh ấy cũng là một phần của cuộc chiến bảo vệ miền Nam.

Đặc biệt sau chương trình Ấp Chiến Lược và các chương trình Bình Định Phát Triển Nông Thôn cuối thập niên 1960, nhiều vùng quê miền Nam đã có những thay đổi đáng kể. Chợ được mở, trường học được xây, tỷ lệ trẻ em đến trường tăng lên, đời sống người dân từng bước được đuợc cải thiện.

Dĩ nhiên, trong hoàn cảnh chiến tranh, không phải nơi nào cũng thành công. Có những công trình bị phá hoại, có những vùng vừa xây dựng xong lại trở thành chiến trường. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng công cuộc xây dựng nông thôn của Việt Nam Cộng Hòa là một nỗ lực lớn nhằm phát triển xã hội giữa lúc bom đạn còn đang vang dội.

Ngày nay, nhìn lại lịch sử, bên cạnh những người lính chiến đấu ngoài tiền tuyến, cũng cần nhớ đến những cán bộ xây dựng nông thôn, những thầy giáo, y tá, kỹ sư và viên chức đã mang ánh sáng văn minh đến các làng quê miền Nam.

Họ không nổi tiếng. Họ không có huân chương rực rỡ.

Nhưng chính họ đã góp từng viên gạch xây dựng một miền quê thanh bình giữa thời chiến.

Đó cũng là một mặt trận của Việt Nam Cộng Hòa, mặt trận xây dựng con người và tương lai đất nước.

Fb Phạm Sơn Liêm.

PHOTO SOURCE:

https://hon-viet.co.uk/HODacHuan_ChaoMungDaiHoiCanBoAoDen.htm