Mar 27,
2012
Góc chiến
trường xưa:
Một khóa
huấn luyện của Lực lượng Dân sự Chiến đấu
Những
năm đầu (1961-1967)
Ngày 7
tháng Năm, 1954, Việt Minh đã chiến thắng quân đội Pháp trong trận Ðiện Biên
Phủ. Việt Nam bị chia đôi theo vĩ tuyến 17 và Tổng Thống Dwight D. Eisenhower
hứa sẽ trợ giúp Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm xây dựng một lực lượng quân sự chống
lại phía cộng sản. Ðến tháng Bẩy năm 1954, Hoa Kỳ đã có 342 cố vấn quân sự
trong miền nam Việt Nam. Nhóm Cố Vấn Quân Viện (Military Assistance Advisory
Group – MAAG). Mới đầu, cơ quan này chỉ chú trọng đến vấn đề phản tuyên truyền,
những luận điệu tuyên truyền bôi nhọ chính quyền Ngô Ðình Diệm từ phía cộng
sản.
Ðến năm
1961, miền Bắc đã dựng nên Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, thường được gọi là
Việt Cộng, phát động chiến tranh Giải Phóng trong miền nam. Tổng Thống Kennedy
được sự ưng thuận của Quốc Hội, gia tăng viện trợ kinh tế, quân sự cho người đã
trở thành Tổng Thống VNCH Ngô Ðình Diệm. Sự giúp đỡ này nhằm gia tăng khả năng
chống xâm nhập của Việt Cộng qua vài chương trình, trong đó có chương trình
phát triển canh tác trên vùng cao nguyên.
Sự thật,
chương trình này để che dấu một hoạt động bí mật do cơ quan Trung Ương Tình Báo
CIA phác họa ra, nhằm mục đích thâu thập tin tức về các hoạt động của du kích
cộng sản trong khu vực, và sự xâm nhập của quân đội Bắc Việt vào vùng rừng núi
cao nguyên, dọc theo biên giới. Sau khi nghiên cứu, đánh giá các nguồn tin tức,
cơ quan CIA sẽ xây dựng một đơn vị Dân Sự Chiến Ðấu, tuyển mộ từ các sắc dân
thiểu số (đồng bào Thượng).
Những
toán A, Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa Kỳ được trao cho nhiệm vụ bí mật của cơ quan
tình báo CIA. Phòng Nghiên Cứu Hỗn Hợp trong nhóm Cố Vấn Quân Viện Hoa Kỳ
(MAAG) sẽ yểm trợ, cung cấp phương tiện huấn luyện cho sắc dân thiểu số qua kế
hoạch Lực Lượng Dân Sự Chiến Ðấu. Tài liệu này là phần đầu trong hai bài viết
về Lực Lượng Dân Sự Chiến Ðấu do người Hoa Kỳ tổ chức. Phần đầu sẽ nói về việc
xây dựng, phát triển (1961-1967), phần thứ hai sẽ nói về LL/DSCÐ (CIDG) trong
kế hoạch Việt Nam Hóa (1968-1971), khi lực lượng này được chuyển giao cho Biệt
Ðộng Quân QLVNCH.
Tại sao
có lực lượng Dân Sự Chiến Ðấu? Thứ nhất, cơ quan CIA tin rằng, với một lực
lượng võ trang bao gồm sắc dân thiểu số sẽ làm cho chính quyền miền Nam tăng
thêm khả năng chống xâm nhập của địch vào những khu vực hẻo lánh. Thứ hai, nhóm
sắc dân thiểu số đông đảo nhất là người Thượng, họ bị chính quyền “không màng
đến”, coi như những “công dân hạng ba (hạng bét)”, nên rất dễ bị cộng sản tuyên
truyền, xúi giục, và tuyển mộ. Hơn nữa, sự kiểm soát của địch trên vùng cao
nguyên cũng là một điều đáng lưu ý.
Ðến năm
1961, sự xâm nhập của địch là một mối đe dọa cho chính quyền Ngô Ðình Diệm và
quân đội VNCH. Chính quyền miền Nam yêu cầu sự trợ giúp của phòng Nghiên Cứu
Hỗn Hợp và cho phép người Hoa Kỳ tiếp xúc với những người lãnh đạo sắc dân
Rhade. Sau đó cơ quan này sẵn sàng huấn luyện quân sự, trang bị cho người
Rhade, nếu họ tuyên thệ trung thành với chính quyền miền Nam, và tổ chức việc
phòng thủ xóm làng (buôn, bản Thượng).
Ngôi làng
đầu tiên được chọn là Buôn Enao trong tỉnh Darlac, sau này gọi là “Thí Nghiệm
Buôn Enao”. Theo một sắc lệnh của Tổng Thống (Hoa Kỳ), việc này đặt dưới quyền
quản trị độc nhất của phòng Nghiên Cứu Hỗn Hợp, không lệ thuộc vào quân đội
VNCH cũng như cơ quan Cố Vấn Quân Viện (MAAG). Trong tháng Mười năm 1961, hai
người Hoa Kỳ, David A. Nuttle, một viên chức trong cơ quan Dịch Vụ Tình Nguyện
Thế Giới (International Voluntary Services), đã làm việc tại Việt Nam từ năm
1959 trong những dự án nông nghiệp, người kia là Trung Sĩ Paul F. Campbell,
Quân Y Lực Lượng Ðặc Biệt, thuộc Liên Ðoàn 1 LLÐB/HK đến buôn Enao.
Trung sĩ
Campbell kể lại lần đầu tiên gặp gỡ những vị “trưởng lão” trong làng: “Nuttle
giải thích cho họ rằng, chương trình nhằm cải thiện đời sống của đồng bào
Thượng, việc làm rẫy, trồng tỉa, y tế. Chúng tôi sẽ đến những làng mạc như Buôn
Enao để huấn luyện, chỉ dẫn việc bảo vệ xóm làng, không cho người lạ vào trong
làng. Ngăn ngừa Việt Cộng và cả quân đội VNCH”. Chuyện này sẽ “tự lập, tự
cường”, những người dân làng sẽ đứng lên bảo vệ xóm làng của mình.
Sau hai
tuần lễ “thương thuyết”, và trung sĩ Campbell biểu diễn tài chữa bệnh cho dân
làng rất thành công, những vị “trưởng lão” ưng thuận và tuyên thệ trung thành,
để bắt đầu công việc tổ chức phòng vệ ngôi làng (Village Defense Program, VDP).
Những người Thượng xây một hàng rào chiến lược bao quanh làng và đào hầm trú ẩn
cho người già, đàn bà và trẻ con, đề phòng Việt Cộng tấn công. Họ xây cất một
khu huấn luyện, một bệnh xá và tổ chức đường dây lấy tin tức, theo dõi những sự
di chuyển của địch trong khu vực, và báo động khi bị tấn công.
Ðến giữa
tháng Mười Hai năm 1961, “thí nghiệm Buôn Enao” hoàn toàn xong xuôi. Thêm năm
mươi (50) đàn ông từ làng kế cận được huấn luyện như một lực lượng an ninh di
động để bảo vệ Buôn Enao và khu vực lân cận. Sau khi hoàn tất ngôi làng “thí
điểm đầu tiên”, vị tỉnh trưởng Darlac cho phép phát triển ra thêm bốn mươi buôn
Thượng Rhade khác trong đường bán kính 15 cây số từ tâm điểm Buôn Enao và “ép buộc”
vị trưởng làng, phó trưởng làng phải thụ huấn quân sự.
Chương
trình “Phòng Vệ Xóm Làng” (VDP) phát triển quá nhanh, trong khoảng thời gian từ
tháng Tư cho đến tháng Mười năm 1962, thêm hai trăm (200) buôn Thượng khác được
“đoàn ngũ hóa”. Ðến cuốn năm 1962, “chuyện làm ăn coi bộ khấm khá”, chính quyền
miền Nam trao trách nhiệm chương trình này cho vị tỉnh trưởng Darlac với chỉ
thị bao gồm thêm những bộ lạc người Jarai và Mnong.
Câu
chuyện về Buôn Enao làm tăng thêm các hoạt động của Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa Kỳ
trong miền Nam. Lực Lượng Ðặc Biệt Việt Nam (LLÐB) được huấn luyện thêm. Những
nhiệm vụ mới này đòi hỏi có thêm những toán A LLÐB/HK trong thời gian phục vụ
sáu (6) tháng tại Việt Nam và thành lập Bộ Chỉ Huy LLÐB/HK tại Việt Nam. Ðến
giữa tháng Chín năm 1962, Ðại Tá George C. Morton, trưởng ngành Chiến Tranh Ðặc
Biệt, phòng 3 (Hành Quân), bộ chỉ huy Quân Viện (MACV) cùng với bẩy mươi hai
(72) quân nhân LLÐB đến từ căn cứ Fort Bragg, tiểu bang North Carolina thành
lập bộ chỉ huy C với bốn toán A trong Saigon. Ðến tháng Mười Một, phần còn lại
của bộ chỉ huy đến làm việc. Bộ chỉ huy C lúc đó có mười bốn sĩ quan và bốn
mươi ba binh sĩ LLÐB.
Ðại Tá
Morton ra lệnh cho Trung Tá Eb Smith đem theo mười tám binh sĩ ra Nha Trang,
thiết lập căn cứ hành quân LLÐB (Special Force Operation Base, SFOP), để sau đó
sẽ di chuyển toàn bộ chỉ huy C ra khỏi Saigon. Từ vị trí “trung tâm” miền nam
Việt Nam, Ðại Tá Morton chỉ huy, điều hành 530 chiến sĩ LLÐB (HK) gồm có bốn bộ
chỉ huy B và hai mươi tám toán A/LLÐB, rải rác trong khắp miền nam Việt Nam.
Cùng với
đà phát triển, Nhóm Cố Vấn Quân Viện (MAAG) được sắp xếp lại trở thành Bộ Tư
Lệnh Quân Viện tại Việt Nam (MACV). Sự phát triển này tạo nên hai việc thay đổi
lớn: MACV sẽ cố vấn và trợ giúp chính quyền miền Nam, tổ chức việc huấn luyện,
quân trang quân dụng, và chương trình “Phòng Vệ Xóm Làng” (VDP) trở thành Lực
Lượng Dân Sự Chiến Ðấu (LL/DSCÐ – CIDG).
Trong
tháng Hai năm 1962, phòng Nghiên Cứu Hỗn Hợp (CSD) có nhiệm vụ điều hành
LL/DSCÐ, theo dõi các đơn vị LLÐB/HK phục vụ trong lực lượng này, và phối hợp
các hoạt động của lực lượng DSCÐ với cơ quan MACV. Ðến tháng Năm 1962, phòng
Nghiên Cứu Hỗn Hợp nhận lãnh nhiệm vụ trang bị, hoạt động của LL/DSCÐ, còn Lực
Lượng Ðặc Biệt Việt Nam thuộc về quân đội VNCH. Ðó là những thay đổi nhỏ trong
sự làm việc chung giữa Hoa Kỳ và VNCH.
Vào ngày
23 tháng Bẩy năm 1962, Bộ Quốc Phòng (HK) ban hành quyết định 57 An Ninh Quốc
Gia. Theo quyết định này, cơ quan Trung Ương Tình Báo CIA sẽ bàn giao tất cả
những hoạt động bán quân sự (như LL/DSCÐ) bí mật cho bộ tư lệnh Quân Viện Hoa
Kỳ tại Việt Nam (MACV). Quân đội Hoa Kỳ sẽ phải lo vấn đề yểm trợ tiếp vận cho
Lực Lượng Dân Sự Chiến Ðấu. Bộ Quốc Phòng vẫn nắm giữ quyền bổ nhiệm vị chỉ huy
trưởng LLÐB/Hoa Kỳ tại Việt Nam. Quân đội Hoa Kỳ có nhiệm vụ, mềm dẻo, hiệu quả
trong việc thiết lập ngân khoản để điều hành LL/DSCÐ.
Trong kế
hoạch Trở Lại (Switchback), nhiệm vụ của LL/DSCÐ thay đổi đôi chút. Việt Cộng
là mục tiêu chính, nhưng không được tuyển mộ thêm sắc dân thiểu số (dân số họ
vốn đã ít). Kế hoạch Trở Lại (Switchback) này phải được hoàn tất vào ngày 1
tháng Bẩy năm 1963. Lúc đó quân Mũ Xanh, LLÐB Hoa Kỳ đã huấn luyện quân sự đầy
đủ cho các trại DSCÐ, lực lượng xung kích, tiếp ứng (Mobile Strike Force – Mike
Force) để làm trở ngại cho sự xâm nhập, bành trướng của quân đội Bắc Việt và
Việt Cộng trong những khu vực xa xôi hẻo lánh, miền nam Việt Nam.
Những
thành quả đạt được trong chương trình “Phòng Vệ Xóm Làng” (VDP) và Lực Lượng
Dân Sự Chiến Ðấu (CIDG) từ tháng Năm 1962 đến tháng Mười 1963 gần như biến mất,
vì những biến cố quân sự, chính trị xẩy ra trong miền nam.
Cuộc đảo
chánh ngày 1 tháng Mười Một năm 1963, đưa đến cái chết của Tổng Thống Ngô Ðình
Diệm và người em trai của ông ta, ông cố vấn Ngô Ðình Nhu. Biến cố lớn này là
động lực thúc đẩy cơ quan Quân Viện MACV và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thay đổi
theo tình thế. Trước đó, Tổng Thống Diệm không đồng ý cơ quan MAAG/MACV và cấp
chỉ huy trong quân đội miền Nam nhúng tay vào công việc huấn luyện của LLÐB/HK,
cũng như LL/DSCÐ.
Ngày 5
tháng Giêng năm 1964, chính quyền “quân đội”, dựa vào kế hoạch Trở Lại
(Switchback), không chấp thuận LLÐB/VN biệt lập, đặt dưới sự chỉ huy, kiểm soát
của QL/VNCH. Cơ quan MACV được quyền hành rộng rãi, nhanh chóng kiểm soát
LLÐB/HK, các đơn vị Mũ Xanh Hoa Kỳ bị đặt dưới quyền chỉ huy của các sĩ quan
cao cấp, cố vấn Hoa Kỳ trên các vùng chiến thuật thuộc cơ quan MACV.
Ðại Tá
Theodore Leonard được chỉ định thay thế Ðại Tá Morton làm chỉ huy trưởng
LLÐB/HK tại Việt Nam. Vị chỉ huy trưởng mới, Ðại Tá Leonard thẩm định và xác
định lại vai trò của LLÐB/HK, và tập trung quyền chỉ huy, điều hành chương
trình Dân Sự Chiến Ðấu. Vấn đề chỉ huy LLÐB/HK tại Việt Nam trực thuộc bộ tư
lệnh Quân Viện Hoa Kỳ (MACV).
Trong
nhiệm vụ mới được trao phó cho LL/DSCÐ, cơ quan MACV muốn biên giới nam Việt
Nam phải được phòng ngự bằng những trại biên phòng LLÐB, tuyển mộ từ “lính đánh
thuê” sắc dân Nùng. LL/DSCÐ được tổ chức lại theo kiểu chính quy, thành những
đơn vị tác chiến (Strike Forces) để giảm bớt gánh nặng cho QL/VNCH.
Sự thay
đổi trong vấn đề điều hành, quản trị và sự kỳ thị dân tộc thiểu số của giới
chức thẩm quyền Việt Nam gần như “bóp chết” LL/DSCÐ. Ngày 19 tháng Chín năm
1964, năm trại DSCÐ (LLÐB) gần Ban Mê Thuột nổi loạn, chống lại chính quyền
miền Nam. Tọa lạc trên vùng II chiến thuật, Ban Mê Thuột được coi như “Thủ Ðô”
của người Thượng. Sau mười ngày, cuộc nổi loạn kết thúc, khi các cố vấn Hoa Kỳ
đứng ra làm trung gian, khuyến cáo giới chức, thẩm quyền VNCH rằng, có lợi cho
cả đôi bên, nếu chính quyền VNCH công nhận một ít “quyền” của họ. Cuộc nổi loạn
tạm thời chấm dứt mà phần cuối, nhiều vấn đề vẫn chưa tìm ra câu trả lời.
Lực Lượng
Ðặc Biệt phải chấp nhận thực tế: cơ quan MACV không thích những lực lượng
“ngoại lệ”; người Việt coi thường các sắc dân thiểu số, người Thượng; các trại
DSCÐ biên phòng sẽ bị phá bỏ nhanh chóng cũng như khi chúng được xây dựng. Khi
vấn đề nội bộ của quốc gia lung lay, quân Việt Cộng gia tăng các hoạt động. Bộ
Quốc Phòng và cơ quan MACV nhận định rằng, nhiệm vụ của LLÐB trong tương lai và
luật lệ làm việc (gia nhập DSCÐ) ở Việt Nam phải được quy định rõ ràng.
Ngày 1
tháng Mười năm 1964, Bộ Quốc Phòng chấp thuận, đưa 1297 quân nhân Mũ Xanh thuộc
Liên Ðoàn 5 LLÐB (cả một đơn vị) từ căn Fort Bragg đến Nha Trang thay thế nhiệm
vụ cho LLÐB/HK tại Việt Nam. Các quân nhân Mũ Xanh đang phục vụ tại Việt Nam
(674 người) sẽ nhập vào liên đoàn 5/LLÐB Hoa Kỳ. Các quân nhân LLÐB/HK sẽ phải
phục vụ một năm tại Việt Nam, kỳ hạn sáu tháng trước đây sẽ hết hiệu lực kể từ
ngày 1 tháng Năm, 1965.
Nhiệm vụ
mới của liên đoàn 5/LLÐB Hoa Kỳ gồm có: Cố vấn cho cơ quan MACV về việc thiết
lập (xây dựng), cũng như bỏ rơi (đóng cửa) các trại biên phòng LLÐB; xây dựng
thêm trại LLÐB mới, cố vấn cho bộ tư lệnh LLÐB Việt Nam; và nếu nhu cầu cần
thiết, sẽ huấn luyện cho các đơn vị LLÐB/VN và LL/DSCÐ. Trong nhiệm vụ mới này,
liên đoàn 5/LLÐB Hoa Kỳ thiết lập bốn bộ chỉ huy C, mười hai bộ chỉ huy B, và
bốn mươi tám toán A LLÐB vào tháng Hai, năm 1965.
Thời gian
đầu, sự hiện diện của liên đoàn 5/LLÐB Hoa Kỳ chỉ có ảnh hưởng chút ít đến các toán
A LLÐB (biên phòng) hoặc các đơn vị xung kích (Strike Force) DSCÐ. Lực Lượng
Ðặc Biệt vẫn tiếp tục nhiệm vụ cố vấn, yểm trợ LL/DSCÐ trong khi các đơn vị
xung kích bảo vệ các làng mạc của dân tộc thiểu số.
Trong dịp
Tết vào cuối năm 1964, tình thế chiến trường tại Việt Nam có nhiều biến chuyển.
Các đơn vị chính quy cấp lớn Việt Cộng bắt đầu xuất hiện, tấn công, gây tổn
thất cho các đơn vị VNCH. Do đó, liên đoàn 5/LLÐB Hoa Kỳ phải tái xác định lại
nhiệm vụ “chống xâm nhập” vào tháng Giêng năm 1965. Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ tuyên
bố sẽ gửi những đơn vị lớn, trang bị tối tân qua Việt Nam trong mùa Xuân để
đánh đuổi quân cộng sản. Trong khi chờ đợi các đơn vị cấp lớn Hoa Kỳ đến và bắt
đầu hoạt động, Ðại Tướng William C. Westmoreland, tư lệnh, bộ tư lệnh MACV ra lệnh
“LLÐB và các đơn vị bán quân sự (LL/DSCÐ) phải đảm nhận nhiệm vụ tấn công trong
vai trò người thợ săn ‘Lùng và Diệt’ địch quân”.
Với đà
gia tăng xâm nhập của Việt Cộng và quân đội từ miền Bắc vào. Thay vì giúp đỡ
chính quyền miền Nam tự phát triển quân đội và đảm nhận vai trò phòng vệ, những
tướng lãnh cao cấp trong quân đội Hoa Kỳ đã đưa vào chiến trường Việt Nam,
những đơn vị chiến đấu lớn, tiếp tay với quân đội VNCH. Cơ quan MACV dự định sẽ
“chính quy hóa” LL/DSCÐ, chuyển một số đơn vị DSCÐ chọn lọc qua Ðịa Phương
Quân, và sẽ hoàn tất vào ngày 1 tháng Giêng (đầu năm) 1967. Tiếp theo là kế
hoạch đưa hết quân Mũ Xanh LLÐB về lại Hoa Kỳ (Tướng Westmoreland tính chuyện
‘Chiến Tranh Quy Ước’). Các đơn vị xung kích DSCÐ sẽ không còn nhiệm vụ bảo vệ
xóm làng nữa mà sẽ phải tấn công địch quân trên các chiến trường trong miền nam
Việt nam.
Trong
giai đoạn chuyển tiếp này, bộ tư lệnh MACV nhận định rằng, cán bộ LLÐB/HK chỉ
huy DSCÐ rất giỏi về lấy tin tức, lùng và diệt địch, và có thể tự lực chiến
đấu. Những khả năng này là một cây kiếm hai lưỡi của LLÐB và đơn vị xung kích
DSCÐ. Những tin tức tình báo tác chiến thâu thập được được phân tích để gia
tăng hiệu năng, củng cố thêm sức mạnh cho LL/DSCÐ. Nhu cầu lấy tin tức về sự
xâm nhập của quân đội Bắc Việt gia tăng trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến
năm 1968, việc phòng vệ các làng người dân tộc thiểu số giảm đi.
Các đơn
vị DSCÐ được quân Mũ Xanh LLÐB Hoa Kỳ chỉ huy vẫn tiếp tục chạm trán với địch
quân. Ðược trực thăng yểm trợ, bắt đầu từ tháng Năm 1966, LL/DSCÐ trở nên di
động, tiếp ứng nhanh chóng. Là một đơn vị xung kích lưu động (Mobile Strike
Force – Mike Force), chiến sĩ DSCÐ phải đi hành quân thường xuyên, làm đơn vị
tấn công hoặc tiếp ứng cho các trại biên phòng, khi các trại này bị tấn công.
Ðến tháng Chín năm 1966, LLÐB/HK thiết lập thêm hai mươi hai trại LLÐB mới, và
tăng số trung đội trinh sát DSCÐ từ ba mươi tư lên bẩy mươi ba. Bộ tư lệnh Quân
Viện MACV ra lệnh cho LÐ5/LLÐB/HK thiết lập trường huấn luyện “Recondo” (Trinh
Sát Cảm Tử – Recondo School) ở Nha Trang. Trường này huấn luyện khóa học mười
hai ngày “chiến tranh VN” cho tất cả các quân nhân LLÐB Hoa Kỳ mới qua Việt Nam
và khóa Viễn Thám cho quân nhân từ các đơn vị tác chiến gửi về.
Với sự
thành công, đạt được nhiều kết quả trong năm 1966, đặc biệt trong các trận đột
kích ban đêm, Tướng Westmoreland ra lệnh cho Ðại Tá Francis J. Kelly, chỉ huy
trưởng liên đoàn 5/LLÐB Hoa Kỳ xem xét lại việc sử dụng các toán A LLÐB trên
toàn lãnh thổ miền nam Việt Nam và đưa ra những kế hoạch hàng năm để phối hợp
với các vị tư lệnh vùng chiến thuật.
Chuyện
“xét lại” này được bộ tư lệnh MACV đưa ra bản hướng dẫn: Mỗi toán A LLÐB và các
trại biên phòng phải hoạt động tối đa trong nhiệm vụ trao phó. Những toán A
LLÐB có thể được thay thế bằng cách hoán chuyển đơn vị xung kích DSCÐ sang quân
đội VNCH. Phối hợp làm việc với các cố vấn trưởng tại các quân đoàn và phía
Việt Nam Cộng Hòa. “Chỉ nói đơn giản, nhiệm vụ chúng tôi là trợ giúp để người
Việt Nam tự giúp đỡ họ”. Trong tháng Tám năm 1966, Ðại Tá Kelly cho biết, nếu
số quân nhân LLÐB/HK cắt giảm, LLÐB/VN sẽ phải điền khuyết vào để đảm nhận vai
trò.
Ðến năm
1967, bộ tư lệnh Quân Viện MACV đưa ra một chương trình, nhưng không có thời
khóa biểu nào đề ra để chấm dứt chiến tranh. Chỉ nói đến việc tăng cường quân
đội Hoa Kỳ tại Việt Nam và sự phát triển đáng kể của QL/VNCH. Tuy nhiên, Ðại Tá
Kelly vẫn đệ trình lên một chương trình về LL/DSCÐ và đã được các vị cố vấn
trưởng Quân Ðoàn, cũng như các Tướng tư lệnh vùng chiến thuật chấp thuận.
Chương trình này trình bày kế hoạch thay thế hoàn toàn LLÐB Hoa Kỳ vào cuối năm
1971.
Không may
cho cả Hoa Kỳ và quân đội VNCH, phía Bắc Việt cũng có một… kế hoạch riêng của
họ. Kế hoạch dài hạn của cơ quan MACV sụp đổ vào tháng Giêng năm 1968 khi quân
cộng sản tổng tấn công nhân dịp Tết (Mậu Thân).
Theo tài
liệu: Veritas Vol.5, No.4, 2009. Trang: 19, 20, 24-27
Dallas,
Texas
vđh
( Vũ Đình Hiếu)
.