Thursday, June 10, 2021

* Ðổng Duy Hùng - Trung Tá Lê Văn Ngôn Trấn Thủ Tống Lê Chân Như Thế Nào ?

 Ban Tu Thư/TVVN

09/6/2021

Trung Tá Lê Văn Ngôn

Trung Tá Lê Văn Ngôn vào đầu năm 1971 khi mới từ Lực Lượng Ðặc Biệt chuyển sang Biệt Ðộng Quân, lúc 24 tuổi mang quân hàm Ðại úy. Ông được vinh thăng Trung tá khi mới 27 tuổi và qua đời trong lao tù cải tạo ở tuổi 30. 

(Hình: Facebook General War – Thế Giới Ðại Chiến)

Viết để ngợi ca và vinh danh 275 chiến sĩ Mũ Nâu của Tiểu Ðoàn 92 Biệt Ðộng Quân và người bạn cùng khóa, cố Trung Tá Lê Văn Ngôn. 

Xin nguyện cầu hương linh của anh ngàn thu yên nghỉ ! 

Anh chính là một biểu tượng của Tống Lê Chân, là niềm hãnh diện của cựu sinh viên sĩ quan khóa 21 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam-Ðà Lạt.

 

SOURCE:

https://ongvove.wordpress.com/2010/05/12/t%E1%BB%91ng-le-chan-ti%E1%BB%81n-d%E1%BB%93n-qua-xa-2/

 

Nhìn lại toàn cuộc chiến mùa Hè của năm 1972, từ Dakto-Tân Cảnh xuống tới An Lộc-Bình Long rồi ra tận Quảng Trị kiêu hùng, Trung Tá Lê Văn Ngôn đã nổi lên như một người hùng. Anh sinh năm 1941 tại thị xã Vĩnh Long, trong một gia đình nho giáo, cha và người anh cả của Ngôn đều chọn nghề dạy học và rất được sự kính trọng của phụ huynh lẫn học sinh trong vùng.

Như bao thanh niên khác cùng thế hệ, Ngôn đành phải xếp bút nghiên, giã từ giảng đường đại học, nơi mà tuổi trẻ luôn miệt mài đầu tư cho tương lai tươi sáng của mình. Vì anh ý thức được bổn phận và trách nhiệm của người trai trong thời quốc biến, cho nên, cuối năm 1964, anh tình nguyện gia nhập khóa 21 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, như là một sự dấn thân để phục vụ lúc tổ quốc lúc đang cần.

Vào thời điểm ấy, Cộng Sản đã có những toan tính lọc lừa, ngang tàng xua quân vào để mở rộng cuộc chiến xâm lược miền Nam. Những trận đánh lớn đã thường xuyên xảy ra trên khắp bốn vùng chiến thuật và đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự tham chiến ồ ạt của Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam vào năm 1965.

Lê Văn Ngôn tốt nghiệp ngày 26 tháng Mười Một, 1966, với cấp bậc thiếu úy hiện dịch và anh chọn Binh Chủng Lực Lượng Ðặc Biệt để phục vụ. Do nhu cầu phát triển của Quân Lực, vài năm sau đó, binh chủng này bị giải tán và được sát nhập vào Biệt Ðộng Quân. Ngôn được bổ nhiệm giữ chức vụ chỉ huy trưởng trại Lực Lượng Ðặc Biệt Biên Phòng Tống Lê Chân vào năm 1972, rồi đơn vị này được cải danh thành Tiểu Ðoàn 92 Biệt Ðộng Quân và Ngôn trở thành vị Tiểu đoàn trưởng.

 


Nói về căn cứ Tống Lê Chân, nơi này là vùng đất của hai xã Minh Ðức và Minh Tâm thuộc tỉnh Bình Long, là một trại biên phòng, nằm cách biên giới Việt-Miên 13 km về phía Nam và cách thị xã An Lộc 15 km về hướng Ðông Bắc, nghĩa là hết tầm yểm trợ của đại bác 155 ly. Nguyên thủy, cứ điểm ấy mang một tên địa phương là Tonlé Tchombé, sau đó, chỉ huy trưởng đầu tiên của trại này là Thiếu Tá Ðặng Hưng Long đã đổi thành Tống Lê Chân. Trại được bao quanh với tám lớp hàng rào kẽm gai, cộng thêm với hệ thống mìn bẫy dầy đặc, tự nó đã rất vững vàng trong việc phòng thủ, cũng đã góp phần đẩy lui nhiều cuộc tấn công điên cuồng của giặc Cộng. Ngự trị trên một ngọn đồi yên ngựa, cao khoảng 50 mét, nhìn xuống hai dòng suối nhỏ là Takon và Neron và có một phi trường nằm trên ngọn đồi thấp của dãy yên ngựa này mà vận tải cơ C.123 có thể đáp được.

Tống Lê Chân bị tấn công kể từ ngày 10 Tháng Năm, 1972. Vào thời điểm khốc liệt ấy, những dàn phòng không dày đặc của địch thực sự đã kiểm soát được vòm trời của căn cứ, gây không ít trở ngại cho Không Quân VNCH khi phải thực hiện các phi vụ tiếp tế và yểm trợ.

Giống như tình trạng tại An Lộc, trong những ngày đầu bị vây hãm, mọi tiếp tế lương thực và đạn dược đều được thực hiện bằng cách thả dù. Nhưng hầu như chỉ một nửa rơi vào vòng phòng thủ của ta và phần còn lại thì rớt xuống vùng của địch. Thế mà Tống Lê Chân vẫn đứng lừng lững, dũng cảm và hiên ngang với nhiệm vụ chận đứng mọi sự chuyển quân của Việt Cộng từ Cambodia xuống phía Nam, cứ điểm này chính là một vị trí chiến lược, trở thành một tiền đồn trọng yếu trong việc phòng thủ Sài Gòn.

Tống Lê Chân được lực lượng Hoa Kỳ thành lập, họ xây dựng một hệ thống giao thông hào chằng chịt, rất thích ứng với chiến thuật phòng thủ. Từ hệ thống có sẵn này, Ngôn ra lệnh cho binh sĩ đào ra những ngách nhỏ, kích thước vừa đủ trú ẩn cho mỗi cá nhân, vừa dùng để quan sát địch, vừa tránh pháo, lại vừa chiến đấu rất hữu hiệu.

Thật vậy, Tiểu Ðoàn 92 Biệt Ðộng Quân và Ngôn đã cùng chung nhịp thở với Tống Lê Chân trong 510 ngày bị vây hãm, họ phải chiến đấu trong những điều kiện vô cùng khó khăn. Họ phải tiết kiệm từng viên đạn và thậm chí ngay cả từng hớp nước uống! Với hơn 20 lần bị tấn công, bảy lần bị đánh đặc công, 233 lần với khoảng hơn 14,500 đạn pháo đủ loại đã dội vào căn cứ. Tống Lê Chân hiển nhiên đã trở thành một trận chiến dai dẳng nhất.
Trong suốt thời gian đó, Việt Cộng đã rót vô số bom đạn đủ loại, nướng không biết bao nhiêu con thiêu thân cuồng tín vào mặt trận này. Ðây là một bãi chiến trường mà ban ngày cũng như ban đêm, đều bị choáng ngợp do mùi nồng nặc và khét lẹt của thuốc súng. Nhưng bọn chúng cũng thất bại trước toan tính san bằng cứ điểm và đã không đè bẹp được tinh thần chiến đấu kiên cường của những dũng sĩ Mũ Nâu. Do đó, song song với việc tấn công hỏa lực, hằng ngày chúng đã phát động chiến dịch chiêu dụ bằng cách dùng loa kêu gọi rã ngũ hay đầu hàng. Hẳn nhiên, đã có phần tác động đến tinh thần chiến đấu của binh sĩ và gây ra không ít khó khăn cho sự chỉ huy của Ngôn. Và “Ngôn cũng vô hiệu hóa chiến dịch ấy bằng nghệ thuật chỉ huy và bằng sự can đảm của chính bản thân mình.”

Vài hàng dưới đây, tôi muốn đưa lên vài trận đánh đã diễn ra qua nhiều cuộc chiến khác nhau để chúng ta dễ dàng làm một sự so sánh và từ đó chúng ta có thể hãnh diện mà vinh danh sức chịu đựng, tinh thần chiến đấu kiên cường của những người lính trận miền Nam nói chung và của Tiểu Ðoàn 92 Biệt Ðộng Quân nói riêng.

Hồi thời Ðệ Nhị Thế Chiến, Quân Ðức Quốc Xã rất hùng mạnh lúc bấy giờ, đã tấn công thành phố Stalingrad kể từ ngày 17 Tháng Bảy, 1942, nhưng đến ngày 2 Tháng Hai, 1943, phải rút lui trong thảm bại. Tính ra thì sự chịu đựng của binh lính Nga cũng chưa đến sáu tháng.

Cũng vào thời kỳ này, quân đội Nhật tấn công cứ điểm Bataan ở Phi Luật Tân do lực lượng Hoa Kỳ và Phi Luật Tân trấn giữ vào Tháng Mười Hai, 1941, và đến ngày 24 tháng Bảy, 1942, Tướng Douglas MacArthur phải ra lệnh rút lui.

Quân lực Anh và Khối Thịnh Vượng Chung Âu Châu trấn giữ Tobruk tại North Africa, đương đầu với cuộc bao vây của liên quân Ðức-Ý, do Tướng Erwin Rommel chỉ huy. Trong trận này, quân đội Anh cũng chỉ cầm cự được từ ngày 11 Tháng Tư, 1941, đến ngày 27 Tháng Mười Một, 1941, rồi bị thất thủ, nghĩa là chỉ khoảng 240 ngày.

Còn tại Việt Nam, quân Cộng Sản tấn công và bao vây quân đội Pháp tại Ðiện Biên Phủ vào ngày 13 Tháng Ba, 1954, cho đến ngày 7 Tháng Năm, 1954, thì Pháp thua trận, có nghĩa là chỉ giữ được cứ điểm này trong vòng 57 ngày.

Cận kề bên Tống Lê Chân trong mùa đỏ lửa,với ý đồ muốn biến An Lộc thành bình địa, Cộng quân cũng chỉ có khả năng bao vây thị xã này được 110 ngày, để sau cùng phải gánh chịu một sự tổn thất rất nặng nề, vì rằng cả ba sư đoàn, đó là Sư Ðoàn 5, 7 và 9 của địch đều bị tổn thất rất nặng và phải rút qua bên kia biên giới Việt-Miên.

Chúng ta rất hãnh diện về tinh thần hào hùng của các chiến hữu mũ nâu, Tiểu Ðoàn 92 Biệt Ðộng Quân đã anh dũng chiến đấu trong những điều kiện vô cùng nghiệt ngã và đơn độc. Thật vậy, những chiến sĩ này và Lê Văn Ngôn đã lập nên một kỳ công về lòng can đảm và sức đựng! Ngôn, vị trung tá trẻ (29 tuổi) của QLVNCH, dường như đã cột chặt tên anh và rực sáng lên cùng với địa danh này. Trong nỗi gian nguy được tính theo từng giây phút, trong cận kề cái chết, vị chỉ huy trẻ ấy đã mưu lược, dũng cảm và âm thầm lèo lái đơn vị, luôn luôn sát cánh với thuộc cấp để giữ vững tinh thần, giữ lửa chiến đấu cho nhau, cùng nhau ghì chặt tay súng trước một chiến trường vô cùng khốc liệt!

Ðúng vậy, một cuộc chiến đấu thật oanh liệt của các chiến sĩ mũ nâu, trong một hoàn cảnh bất cân xứng về tương quan lực lượng đối đầu giữa hai bên! Tiểu Ðoàn 92 Biệt Ðộng Quân với 275 người đã cùng nhau vượt lên trên giới hạn tột cùng của sự gian nguy bằng chính tinh thần trách nhiệm, danh dự và ý chí chiến đấu của mỗi người lính VNCH.

Lê Văn Ngôn và Tống Lê Chân trở thành một biểu tượng, đã hòa nhập với nhau như bóng với hình, tạo nên một thành tích lẫy lừng, tô đậm thêm trang sử, mà vốn dĩ đã quá lẫy lừng của binh chủng Biệt Ðộng Quân nói riêng về lòng can đảm, sức chịu đựng và tinh thần kỷ luật trong chiến đấu.
Ðược biết, sau khi Trung Tướng Phạm Quốc Thuần về thay thế Trung Tướng Nguyễn Văn Minh ngày 29 Tháng Mười, 1973, vị tân Tư Lệnh Quân III đã đệ trình lên Bộ Tổng Tham Mưu một kế hoạch gồm hai giải pháp cho trại Tống Lê Chân:

- Nếu tiếp tục duy trì căn cứ trọng yếu này thì phải khai thông một con đường từ thị xã An Lộc đến Tống Lê Chân để đưa một đơn vị khác vào thay cho Tiểu Ðoàn 92 Biệt Ðộng Quân.
-Hoặc là bỏ cứ điểm đó và Tiểu Ðoàn 92 Biệt Ðộng Quân âm thầm rút khỏi căn cứ, rồi tìm cách bắt tay với các đơn vị bạn.

Vào khoảng đầu năm 1974, Bộ Tổng Tham Mưu không còn bất cứ một lực lượng tổng trừ bị nào nằm tại Thủ Ðô để thực hiện kế hoạch thứ nhất, cho nên Tướng Thuần đã cho phép Trung Tá Ngôn tùy nghi quyết định.
Với một khoảng thời gian quá dài mà đêm ngày luôn trực diện với địch, hẳn đã vượt ra ngoài sức chịu đựng của người lính. Cuối cùng, Ngôn cũng đành phải ngậm ngùi để lại Tống Lê Chân phía sau lưng và toàn bộ đơn vị rút khỏi căn cứ vào đêm 11 Tháng Tư, 1974. Ngôn đã đưa Tiểu Ðoàn về đến thị xã An Lộc vào ngày 16 Tháng Tư với chỉ còn vỏn vẹn 196 chiến binh, đặc biệt là có đến hai phi công chính và hai phi công phụ trong số này.
Tất cả các tử sĩ đều được chôn cất ngay tại cột cờ chính của căn cứ. Cũng ghi nhận thêm là đã có một chiếc Chinook, hai chiếc trực thăng UH1, một chiếc khu trục và một chiếc quan sát L.19 bị bắn rớt và phải nằm lại tại chiến trường này.

Một thời gian sau đó, Ngôn được điều động theo học Khóa 2/74 Bộ Binh cao cấp tại Long Thành. Tốt nghiệp, Ngôn được thuyên chuyển về Sư Ðoàn 5 Bộ Binh.

Vào một buổi trưa nắng gắt của Tháng Ba, 1975, khi Trung Ðoàn 8 thay thế nhiệm vụ, Tiểu Ðoàn của tôi rời vùng hành quân ở phía Bắc Bầu Bàng, nằm giữa Lai Khê và Bến Cát.
Trên đường trở về hậu cứ, tôi phải di chuyển qua căn cứ tiền phương của Trung Ðoàn 8, nơi đây là Bộ Chỉ Huy nhẹ của Ngôn. Ghé vào đó để thăm một người bạn mà kể từ khi rời trường Mẹ (Trường Võ Bị Ðà Lạt), đây chính là lần hôị ngộ đầu tiên với Ngôn.
Ngôn đứng đón tôi ở ngoài hầm chỉ huy, Thiếu Tá Ðổng Duy Hùng, tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 3/9, phải đứng nghiêm chỉnh chào Trung Tá Lê Văn Ngôn, trung đoàn phó Trung Ðoàn 8/Sư Ðoàn 5, theo đúng quân kỷ. Sau đó, cả hai chúng tôi nhanh chóng quay về với tình bằng hữu, trong vòng 30 phút cùng nhau hàn huyên, ngôn ngữ trao đổi chỉ là “mày tao” rất thân thiết, rất tự nhiên của những người cùng một khóa tại Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Chúng tôi ôn lại những kỷ niệm của một thời thật đẹp khi còn là Sinh Viên Sĩ Quan với quá nhiều hoài bão. Thế mà mãi cho đến ngày mất nước, hai chúng tôi vẫn không được may mắn để gặp lại nhau cho lần kế tiếp.

Vài sự kiện được ghi nhận quanh chiến sự diễn ra trong thời điểm Tống Lê Chân đỏ lửa:

- Lúc bấy giờ, Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III có ý định rút bỏ 4 căn cứ: Thiện Ngôn, Katum, Tống Lê Chân và Bù Gia Mập. Khi lệnh này truyền đến, Ngôn đã khẳng khái xin được ở lại chiến đấu và nói rằng Biệt Ðộng Quân chưa được đánh địch mà sao lại phải rút lui! Tiếc quá, đừng nên rút. Câu hỏi tiếp theo là liệu có giữ nổi không? Bằng mọi giá, tôi và tất cả binh sĩ đều tình nguyện ở lại với căn cứ này. Ðó là câu trả lời cương quyết của nguời chỉ huy và căn cứ đã đứng vững như là lời hứa, mà người chỉ huy thì rất trẻ so với tuổi lính của anh.


- Có một phi vụ từ phi trường Biên Hòa bay vào tiếp tế cho Tống Lê Chân. Phi vụ này có nhiệm vụ mang quà tưởng thưởng của quân dân miền Nam, lương thực đạn dược và cặp lon trung tá cho Ngôn. Ðặc biệt hơn nữa, người bay phi vụ này là bạn cùng khoá với Ngôn, Thiếu Tá Phi Công Trần Gia Bảo (Khóa 21 Ðà Lạt). Ðây là một nghĩa cử rất anh hùng, bởi vì Bảo rất cảm thông, muốn chia sẻ phần nào đó về sức chịu đựng phi thường và mang những nhu cầu cần thiết đến cho đơn vị bạn. Do đó, Bảo đã bất chấp mọi hiểm nguy đang rình rập và tự tình nguyện thực hiện chuyến bay. Ðược biết phi vụ này hầu như bay bằng kỹ thuật phi cụ và gồm hai chiếc Lôi Ðiểu: Lôi Ðiểu 1 do Bảo điều khiển đáp trước, Lôi Ðiểu 2 phải bay vòng chờ Bảo rời Landing Zone mới nhào xuống. Nhưng chẳng may, chiếc này bị va chạm làm cho hai người bị thương. Vì có yếu tố bất ngờ và lại bay không đèn, nên chỉ ghi nhận được những tiếng súng bắn cầu âu của địch mà chẳng hề hấn gì đến phi cơ.


-K21 Biệt Ðộng Quân Lê Văn Ngôn ngày đêm tử thủ Tống Lê Chân giữa trùng điệp giặc Bắc, K21 Không Quân Trần Gia Bảo liều mình bay vào lửa tiếp đạn cho Ngôn diệt quân thù.


-Kẻ thù muốn giết Ngôn ngay từ ngày khởi đầu của cuộc vây hãm, nhưng thực tế chứng minh rằng họ đã thất bại. Sau biến cố đau thương của cả dân tộc vào Tháng Tư Ðen, cùng với những sĩ quan khác, Ngôn cũng bị tống vào địa ngục của trần gian này và thêm một lần nữa để họ trả thù.

Ngôn bị đọa đày cho đến hơi tàn lực kiệt! Trong khung trời ảm đạm của một ngày mùa Ðông buốt giá vào cuối năm 1977, tại trại 1, Liên Trại 1, Ðoàn 776 thuộc vùng Yên Bái và sau hơn hai tháng chịu đựng từ căn bệnh ung thư gan quái ác kia, thế mà Ngôn chỉ được điều trị bằng thuốc “thần dược trị bá bệnh xuyên tâm liên.”

Vào ngày 19 Tháng Giêng, 1978, Ngôn đã vĩnh biệt cõi đời từ nơi ngục tù Yên Bái ấy, lạnh lùng, âm thầm đi vào lòng đất mẹ, chẳng có một chiến hữu tiễn đưa, không có môt nén nhang để sưởi ấm Hương Linh!

Ngôn đã chết thật rồi, tức tưởi, đau thương và hẩm hiu đến tột cùng! Khóa 21 luôn hãnh diện về Ngôn và chúng tôi đã dành nhiều phút im lặng trong những lúc hội ngộ để mặc niệm và nguyện cầu Vong Linh của anh được ngàn đời yên nghỉ!tRồi qua những năm dài sau đó, mãi đến ngày 8 Tháng Ba, 1996, chị quả phụ Lê Văn Ngôn cùng hai người con đã lặn lội đến tận Yên Bái để mang xương cốt của người chồng yêu quí về lại nơi chôn nhau cắt rốn, để được ấm áp bên mộ cha, mộ mẹ, bên mộ ông bà, tổ tiên! Vợ chồng của Ngôn đã hội ngộ trong một hoàn cảnh như thế đó! Quả là xé lòng qua cái thảm trạng tử biệt sinh ly này! Trên đường ôm cốt chồng trở về, một bất hạnh khác lại ập xuống gia đình của chị, đứa con út bị một tai nạn ngay tại Hà Nội và hiện đang sống vất vưởng với mảnh đời tàn phế!

Thương thay cho thân phận của những ai đã trót làm vợ của người lính VNCH, nhất là trong một thời loạn ly, lại phải sống tại một xã hội mà bọn quỷ đỏ đã có cả một chính sách, chủ trương để gieo rắc và cổ võ cho sự hận thù. Sự bất hạnh đâu có dừng lại tại đó!

Ðược biết người chị ruột của Ngôn đã làm đơn bảo lãnh cho vợ con của Ngôn theo chương trình H.O. Nhưng khi được phái đoàn Mỹ phỏng vấn tại Sài Gòn, thì gia đình này bị từ chối chỉ vì có sự khác biệt về ngày khai tử qua lời khai giữa người chị và vợ của Ngôn. Quả thật tội nghiệp, đúng là họa vô đơn chí!

Sau Tháng Tư Ðen, ngày tang tóc của cả một dân tộc, số phận của quý chị cũng đã gắn liền với thảm họa ấy, cũng đau thương, cũng nổi trôi, cũng bềnh bồng và cũng lắm thăng trầm như vận nước.

SOURCE:

https://www.tvvn.org/trung-ta-le-van-ngon-tran-thu-tong-le-chan-nhu-the-nao-dong-duy-hung/



Tống Lê Chân- Thiên Bi Hùng Ca QLVNCH- Phan Nhật Nam


 .


Wednesday, June 9, 2021

* TƯỞNG NHỚ TRUNG TƯỚNG LỮ LAN (1927 - 2021) -- Thiếu Tá Hồ Đắc Huân

 


Sáng Thứ Sáu ngày 30/5/2021, tôi đang đọc báo, xem mục Cáo Phó, Phân Ưu để biết các chiến hữu, bằng hữu thân quen có ai vừa mãn phần hay không. Thế hệ chúng tôi đã vào hàng bô lão hết rồi. Vừa xem xong mục này có tiếng báo hiệu từ điện thoại. bên kia là chú Bùi Đình Can, thứ nam của Tướng Bùi Đình Đạm gọi. Thường chú Can gọi đều có tin tức mới về thời sự, có khi báo tin thêm có chiến hữu vừa qua đời. Đúng như tôi nghĩ, chú Can báo tin không lành là Trung Tướng Lữ Lan vừa mới qua đời ngày 28-5-2021 tại Virginia, hưởng đại thọ 96 tuổi. Qua tin trên tôi buồn quá! Mới đây ngày 18-3-2021 Trung Tướng Lan có viết thư cho tôi với những lời tâm tình vàng ngọc vô cùng quý báu sau khi ông xem xong cuốn sách “Tôi đi Khóa 2 Nha Trang” do tôi biên soạn gởi tặng Trung Tướng.

Mới đó từ ngày Trung Tướng viết thư chỉ hơn 2 tháng, ông đã rời bỏ người thân trong gia đình, bà con, họ hàng, chiến hữu, bằng hữu để vào cõi vĩnh hằng đoàn tụ với hiền nội là bà Tôn Nữ Minh Đức đã về miền Tây Phương Cực Lạc 4 năm trước.

Sau khi VNCH bị bức tử ngày 30-4-1975, Trung Tướng Lan cùng gia đình thoát khỏi nanh vuốt Cộng Sản từ 29-4-1975 sang sống lưu vong tại Hoa Kỳ. Cuộc sống đại gia đình Tướng Lan lần hồi ổn định và vô cùng hạnh phúc bên vợ con và cháu chắt.

Thời gian phục vụ trong quân ngũ Trung Tướng Lan là một trong các vị Tướng VNCH mẫu mực, tiết tháo, hòa mình với cấp trên, vui vẻ, hòa nhã với cấp dưới, trong sạch, đã giữ những chức vụ quan trọng từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Thân làm Tướng của ông chỉ phục vụ cho Tổ Quốc Việt Nam.

Sau khi sang Hoa Kỳ, cuộc sống gia đình ổn định, Trung Tướng Lan dành thì giờ soạn ghi lại chiến sử của QLVNCH cùng chứng minh những nguyên nhân đưa đẩy VNCH đi đến bức tử, rã ngũ. Tài liệu viết bằng song ngữ Anh-Việt in thành sách để làm sáng tỏ QLVNCH có chính nghĩa.

Trung Tướng Lan có gởi tặng tác giả hai bài viết về:

- “Cuộc chiến ba mươi năm nhìn lại từ đầu”, biên xong Ngày Quốc Hận thứ 31.

- “Người Việt Quốc Gia trước thời cuộc”. Tướng Lan đọc bài này trong Đại Hội lần thứ 14 của Tổng Hội Cựu SVSQ Trường VBQG/VN ngày 7-8-2004.

Ngoài ra Trung Tướng Lan còn được một số Đại Học Hoa Kỳ danh tiếng mời thuyết trình về tình hình cuộc chiến Việt Nam.

Từ năm 2004, qua sự giới thiệu của Tướng Bùi Đình Đạm, chúng tôi trong Ban Biên Soạn sách Lược Sử QLVNCH với Đại Tá Trần Ngọc Thống, Trung Úy Lê Đình Thụy và tôi là Thiếu Tá Hồ Đắc Huân đã được Trung Tướng Lan tận tình giúp gởi cho nhiều tài liệu nói về Tướng lãnh và QLVNCH cùng hình ảnh sống động, nhờ đó chúng tôi đã biên soạn cuốn sách trên được phong phú, được bạn đọc khắp nơi nhiệt liệt hoan nghênh.

Vào tháng 5-2009, Trung Tướng Lan cùng phu nhân sang Nam California thăm bà con và bạn bè. Nhân dịp này, Trung Tá Nguyễn Văn Tố cũng là người bạn tù của tôi từ trại Kỳ Sơn, Tiên Lãnh, Quảng Nam, nguyên Tỉnh Trưởng Phú Yên rất thân tình, coi như ruột thịt với Tướng Lữ Lan và gia đình, giới thiệu tôi gặp Trung Tướng Lan. Qua diện kiến, ông bà rất vui vẻ và biết rõ công việc biên soạn sách Lược Sử của chúng tôi. Từ đó Trung Tướng Lan và tôi thường xuyên liên lạc hỏi thăm sức khỏe và đôi khi ông tặng thêm tài liệu mới.

Nhân sự đau buồn này chúng tôi xin tóm lược phần nhỏ chính yếu về tướng mạo và quân vụ của Trung Tướng Lữ Lan (trích từ sách Lược Sử QLVNCH) để bạn đọc ở mọi thành phần từ trẻ, già, nam nữ có cơ hội biết thêm về đời quân ngũ của Trung Tướng Lữ Lan, một vị Tướng tài ba của VNCH.

Xin bắt đầu tóm lược về tướng mạo, quân vụ của Trung Tướng Lữ Lan:

- Tên thật: Lữ Mộng Lan (đã được trình tòa xin cải danh thành Lữ Lan vào năm 1962).

- Sinh ngày 28-9-1927 tại Ninh Hương, quận Triệu Phong, Quảng Trị.

- Thân phụ: Cụ ông Lữ Mộng Liên.

- Thân mẫu: Cụ bà Lê Thị Minh Nguyệt.

- Phu nhân: Bà Tôn Nữ Minh Đức.

- Em trai: Đại Tá Lữ Mộng Chi, Khóa 2 Lê Lợi Võ Bị Địa Phương Huế. Giám Đốc Nha Nhân Dụng Bộ Lao Động VNCH.

- Các con: Gồm có 6 người con, 3 nam và 3 nữ: Lữ Anh Tuấn, Lữ Anh Thư, Lữ Anh Kiệt, Lữ Anh Đài, Lữ Anh Triết và Lữ Anh Tú.

- Học lực: Học sinh trường Lycée Khải Định, Huế. Năm 1944 tốt nghiệp bằng DEPSI (Thành Chung).

- Nguyên lai binh nghiệp: 1950 dân chính trúng tuyển theo học Khóa 3 Trần Hưng Đạo, Võ Bị Liên Quân Đà Lạt khai giảng ngày 1-10-1950, mãn khóa ngày 1-7-1951.

 

I. CẤP BẬC ĐƯỢC THĂNG TRONG BINH NGHIỆP:

- 1951. Tốt nghiệp Khóa 3 Đà Lạt, thăng Thiếu Úy hiện dịch thực thụ.

- 2/1/1953 Thăng Trung Úy tạm thời.

- 1/4/1953 Thăng Trung Úy thực thụ.

- 1/8/1954 Thăng Đại Úy hiện dịch thực thụ.

- 16/6/1955 Thăng Thiếu Tá giả định.

- 1/11/1955 Thăng Thiếu Tá hiện dịch thực thụ.

- 29/1/1957 Thăng Trung Tá thực thụ.

- 26/2/1961 Thăng Đại Tá hiện dịch tạm thời.

- 15/10/1964 Thăng Đại Tá hiện dịch thực thụ.

- 20/10/1964 Thăng Chuẩn Tướng chỉ huy.

- 1/6/1965 Thăng Chuẩn Tướng hiện dịch thực thụ.

- 1/11/1965 Thăng Thiếu Tướng hiện dịch nhiệm chức.

- 15/6/1966 Thăng Thiếu Tướng hiện dịch thực thụ.

- 1/3/1969 Thăng Trung Tướng hiện dịch nhiệm chức.

- 1/7/1970 Thăng Trung Tướng hiện dịch thực thụ.

 

II. CÁC CHỨC VỤ ĐẢM NHIỆM:

- 8/8/1951 Đại Đội Trưởng Đại Đội 20 thuộc Trung Đoàn Võ Tánh.

- 20/10/1951 Đại Đội Trưởng Đại Đội 18 Trung Đoàn Võ Tánh.

- 12/10/1952 Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 254 Dã Chiến Việt Nam.

- 15/3/1954 Trưởng Phòng 3 Liên Đoàn Lưu Động Số 21.

- 28/10/1955 Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn Khinh Chiến 16.

- 20/1/1956 Tư Lệnh Phó Sư Đoàn Khinh Chiến 16.

- 10/4/1956 Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn Dã Chiến Số 2.

- 27/2/1958 Phụ Tá Tham Mưu Trưởng QĐVNCH.

- 30/4/1958 Tham Mưu Phó Hành Quân Huấn Luyện kiêm Trưởng Phòng 3 Bộ TTM.

- 8/12/1962 Tư Lệnh Sư Đoàn 25 Bộ Binh kiêm Biệt Khu Quảng Ngãi thay Đại Tá Nguyễn Văn Chuân.

- 17-6-1964 Phụ Tá Hành Quân Quân Đoàn II.

- 4/9/1964 kiêm nhiệm Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II Vùng 2 Chiến Thuật.

- 14/10/1964 Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh thay Chuẩn Tướng Hoàng Xuân Lãm.

- 13/4/1965 Chánh Thẩm Dự Khuyết Tòa Án Quân Sự tại mặt trận Vùng 2 Chiến Thuật thay Đại Tá Bùi Văn Mạnh.

- 7/12/1965 Tư Lệnh Sư Đoàn 10 (18) Bộ Binh và Khu 33 Chiến Thuật.

- 27/9/1966 Chỉ Huy Trưởng Trường Đại Học Quân Sự kiêm Đại Diện Bộ TTM TCQH giám sát hoạt động Quân Y Viện Trường Võ Bị Quốc Gia.

Theo các văn thư Tướng Lữ Lan gởi cho tác giả: Công Điện số 26088 ngày 25/8/1966 của Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, Thiếu Tướng Lữ Lan Chỉ Huy Trưởng Trường Đại Học Quân Sự kiêm Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia thay thế Thiếu Tướng Tôn Thất Xứng và Đại Tá Đỗ Ngọc Nhận. Đến ngày 18/9/1966 tiếp Công Điện số 28664, Thiếu Tướng Lữ Lan chỉ đại diện Tổng Cục Quân Huấn giám sát hoạt động Quân Y Viện Trường Võ Bị Quốc Gia, hủy bỏ chức Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia.

- 8/12/1966 Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Quân Huấn.

- 12/10/1967 kiêm nhiệm Chỉ Huy Trưởng Trường Cao Đẳng Quốc Phòng.

- 1/3/1968 Tư Lệnh Quân Đoàn II kiêm Tư Lệnh Vùng 2 Chiến Thuật.

- 1/8/1970 Tổng Thanh Tra QLVNCH.

- 1974 Chỉ Huy Trưởng Trường Cao Đẳng Quốc Phòng (lần 2).

 

III. THAM DỰ CÁC KHÓA HỌC:

- 28/9/1953 Khóa 1 Tham Mưu tại Centre d’Etudes Militaire Hà Nội.

- 11/8/1957 Du học Trường Chỉ Huy Tham Mưu Fort Leavenworth, Kansas Hoa Kỳ từ 11/8/1957 đến 20/12/1957.

- 2/1/1958 Du học lớp Art Tactical Support tại Amphibious Training Command, San Diego từ 2/1/1958 đến 17/1/1958.

 

IV. THAM DỰ CHIẾN DỊCH:

- Atlante từ ngày 30/5/1954 đến 16/7/1954.

- Lam Sơn, tiếp thu Quảng Ngãi từ ngày 25/7/1954 đến 10/11/1954.

- Ba Lòng, Quảng Trị từ ngày 20/2/1955 đến 19/3/1955.

- Đinh Tiên Hoàng, miền Tây từ ngày 20/5/1955 đến 20/9/1955.

- Nguyễn Huệ, Tây Ninh từ ngày 15/1/1956 đến ngày 20/4/1956.

 

V. HUY CHƯƠNG:

- Đệ Tam Đẳng Bảo Quốc Huân Chương.

- Chương Mỹ Bội Tinh Đệ Nhị Hạng.

- 11 Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu.

- 26 huy chương quân sự.

- 9 huy chương dân sự.

* Huy chương ngoại quốc:

- Huy chương UL Chi Đại Hàn (Korea Order of Military Merist).

- Bạch Tượng Bội Tinh Thái Lan (The Order of White Elephant).

- Vân Mỹ Bội Tinh Trung Hoa (The Order of Cloud and Banner).

 

Về tướng mạo quân vụ của Trung Tướng Lữ Lan chúng tôi đã tóm lược như trên. Nhân bài viết, tác giả đã tổng kết số Tướng lãnh đã qua đời như sau: VNCH đã sinh sản được 170 vị Tướng. Đến hôm nay 6/6/2021 đã có 151 vị Tướng đã qua đời trong các trường hợp: tuẫn tiết, hy sinh tại chiến trường, qua đời trong ngục tù Cộng Sản, còn lại mãn phần vì lý do bệnh tật hoặc tuổi già. Hiện còn lại 19 vị Tướng tuổi đời đã cao, sức khỏe có phần suy yếu.

Thưa bạn đọc, đời người đều có số phận, có người qua đời lúc tuổi còn trẻ hoặc trung niên, có người vào tuổi già (luật vô thường). Trung Tướng Lữ Lan đã qua đời ở tuổi đại thọ 96 kể ra ít người có được.

Qua sự đau buồn này chúng tôi một nhóm thân hữu đậm tình của gia đình Trung Tướng Lữ Lan xin thành thật chia buồn cùng các con của ông bà Lữ Lan cùng đại gia đình tang quyến.

Nguyện cầu anh linh Trung Tướng Lữ Lan, pháp danh Tâm Thắng sớm về cõi Phật cùng đoàn tụ với phu nhân là bà Tôn Nữ Minh Đức nơi Miền Tây Phương Cực Lạc.

Gia đình cố Luật Sư Lâm Lễ Trinh.

Gia đình cố Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm.

Gia đình cố Thiếu Tướng Bùi Đình Đạm.

Gia đình cố Đại Tá Trần Ngọc Thống.

Gia đình cố Đại Tá Lê Minh Quý.

Gia đình cố Đại Tá Lê Khắc Lý.

Gia đình cố Đại Tá Hồ Ngọc Tâm.

Gia đình cố Trung Tá Phùng Ngọc Bang.

Gia đình cố Trung Tá Nguyễn Văn Tố.

Đại Tá Trần Văn Tự (Tỳ Kheo Thích Không Chiếu) và gia đình.

Đại Tá Nguyễn Kỳ Nguyện và gia đình.

Đại Tá Lê Bá Khiếu và gia đình.

Đại Tá Phan Văn Nương và gia đình.

Đại Tá Cổ Tấn Tinh Châu và gia đình.

Cựu Dân Biểu Nguyễn Lý Tưởng và gia đình.

Nhà văn Huy Phương và gia đình.

Nguyệt San KBC.

Thiếu Tá Hồ Đắc Huân và gia đình.

ĐỒNG THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

Westminster 6 tháng 6 năm 2021

Tiếc nhớ Trung Tướng Lữ Lan

Hồ Đắc Huân

Khóa 2 Nhân Vị Hiện Dịch Nha Trang

 

* Tham khảo:

- Sách Lược Sử QLVNCH 2011 của Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân và Lê Đình Thụy (2011).

- Tài liệu Trung Tướng Lan gởi cho tác giả.  

 

Hình

Trung Tướng Lữ Lan, Chỉ Huy Trưởng Trường Cao Đẳng Quốc Phòng 

(đứng giữa hàng đầu) và các học viên Khóa 6 năm 1974-1975.

 *

 

Trung Tướng Lữ Lan đón tiếp Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

*

Thư Trung Tướng Lữ Lan gởi Ban Biên tập sách Lược Sử QLVNCH.

*

 

Thư Trung Tướng Lữ Lan gởi cho tác giả đề ngày 18/3/2021.

*

 

Từ phải: Trung Tá Nguyễn Văn Tố, Trung Tướng Lữ Lan và phu nhân, 

Thiếu Tá Hồ Đắc Huân (tác giả).

 

Bài viết do Thiếu tá Hồ Đắc Huân gởi đến cho Như Thương

***

 .

Tuesday, June 8, 2021

* "Vâng! Chúng tôi hãnh diện đã có một cấp chỉ huy như thế!” - Phạm Tín An Ninh


(Viết để tưởng niệm Đại Tá Nguyễn Bá Thịnh)

 

Đại tá Nguyễn Bá Thịnh (1928 - 2003)

 Source: https://nguyentin.tripod.com/dt_nguyenbathinh.htm

.

Sau Tết Mậu Thân, khi vừa đánh thắng nhiều trận lớn, giải tỏa thành phố Phan Thiết trong vòng vây và tiêu diệt toàn bộ đám Cộng quân xâm nhập, đơn vị tôi đón mừng một vị trung đoàn trưởng mới. Ông được Đại Tá Trương Quang Ân, Tư Lệnh Sư Đoàn xin bổ nhậm và đích thân đưa đến bản doanh của Trung Đoàn tại Sông Mao, để bàn giao với vị tiền nhiệm. Ông đến nhậm chức với duy nhất một cái “xắc ma- ranh” vác trên vai, trông giống như anh chàng tân binh vừa lãnh quân trang ở một quân trường nào đó.

Buổi lễ bàn giao đơn giản nhưng rất trang nghiêm, dưới sự chủ tọa của vị Tư Lệnh Sư Đoàn. Sau khi tiễn đưa ông cựu trung đoàn trưởng theo ông Tư Lệnh lên trực thăng bay đi, tất cả được lệnh “thao diễn nghỉ” để nghe vị tân Trung Đoàn Trưởng ban chỉ thị:

Điều trước tiên mọi người lưu ý là ông rất nhỏ con, nhưng đôi mắt sáng quắc, có nhiều uy lực, tướng đi nhanh nhẹn. Tóc cắt ngắn ba phân, để lộ từ trên đầu sau vành tai bên trái một vết sẹo láng bóng làm tăng thêm cái uy dũng của một người từng dạn dày trận mạc.

Sau khi được vị trung đoàn phó trình diện hàng quân, ông đi quanh một vòng bắt tay các sĩ quan thuộc bộ chỉ huy trung đoàn và các đơn vị trưởng. Ông đi đứng, bẻ góc, dậm chân, đằng sau quay, và chào hỏi rất đúng quân cách. Bọn tôi không mấy ngạc nhiên vì đã được biết, trước khi thuyên chuyển về đây, ông từng là Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn SVSQ của Trường Võ Bị QGVN, một quân trường nổi tiếng tại Vùng Đông Nam Á. Nhưng ngay sau đó ông lại làm chúng tôi ngạc nhiên với câu hỏi đầu tiên của ông:

- Các anh có biết tôi đi lính từ cấp bậc gì không?

- Thiếu úy! – một sĩ quan lên tiếng.

- Sai!

- Trung sĩ! – một sĩ quan khác trả lời

- Cũng sai!

- Binh nhì – một anh tiểu đoàn trưởng, tốt nghiệp từ Trường Võ Bị, tỏ ra biết ít nhiều về ông.

Nhưng rồi tất cả, từ quan tới lính, đều ngơ ngác khi nghe ông bảo:

- Cũng chưa đúng!

Im lặng một lúc, để gợi thêm sự tò mò, ông lên giọng nói lớn:

- Binh ba!

Rồi tự giải thích:

- Đúng như thế! Binh nghiệp của tôi đi lên từ cấp “binh ba”. Vì khi vào lính nhảy dù, tôi chưa được cho đi đánh nhau mà phải làm hỏa đầu quân, tức là thằng nấu bếp, rồi sau đó làm “ô đô” cho ông Đại đội trưởng Đỗ Cao Trí.

Giải thích xong, ông ngẩng mặt lên và cao giọng:

- Tất cả các anh nên hãnh diện là đang có một cấp chỉ huy như thế!

Phải công tâm mà nói, từ khi ông về chỉ huy, Trung Đoàn đã thay đổi khá nhiều, từ cách tổ chức, sinh hoạt tới chiến thuật phòng thủ, hành quân. Nhưng song song với việc tạo cho đơn vị một khí thế mới để vươn lên, trở thành đơn vị ưu tú với nhiều chiến công hiển hách, ông cũng đã để lại rất nhiều giai thoại, mà đến hôm nay, mỗi lần anh em cùng đơn vị xưa có dịp gặp nhau luôn nhắc tới. Ngày xưa, đó chỉ là những mẩu chuyện vui để cùng cười, nhưng bây giờ tất cả trở thành những kỷ niệm mang theo nhiều cảm xúc.

Trước tiên phải công nhận là ông rất liêm khiết, công minh. Ngay cả cái xe jeep của ông cũng đích thân ông ký giấy nhận xăng, và mỗi khi xong công việc, tài xế đưa ông về trước tư thất rồi quay lại đậu trước văn phòng. Vợ con ông không được phép ngồi trên xe, chứ đừng nói đến việc xử dụng. Ông không hề dùng một người lính nào cho gia đình hay trong công việc riêng.

Trong đơn vị có anh Hoàng Văn An, sau khi tốt nghiệp Khóa 20 VB cũng được bổ sung về Trung Đoàn. Anh An là em (thúc bá) của vợ ông. Khi anh An còn là SVSQ thì ông đang là Liên Đoàn Trưởng LĐ/SVSQ. Một lần đi phép về trễ một ngày, anh An bị ông gọi lên văn phòng bảo: “Nếu là SVSQ khác tôi tha, nhưng vì chú là em nên tôi phạt chú 7 ngày trọng cấm!” (Sau này anh An cho biết đó là 7 ngày trọng cấm duy nhất trong hồ sơ quân bạ của anh)

Với các sĩ quan già, ông xưng hô “ông, tôi”, nhưng với mấy thằng sĩ quan trẻ như bọn tôi, ông chỉ gọi “mày” hoặc “chú mày” và xưng “tao” như em út trong nhà. Sau một cuộc hành quân, ông thường mời tất cả sĩ quan thuộc BCH Trung Đoàn và các đơn vị đóng chung quanh, dùng cơm với ông. Điều đặc biệt là đích thân ông đi chợ, lựa và mua cá, mua rau. Món ông thích nhất là cá rô chiên. Được ông mời ăn cơm phải nói là một cực hình. Nhưng không ai có thể vắng mặt bởi ông sẽ điểm danh. Nói là mời nhưng phải xem đó là lệnh. Trong bữa ăn ông thường luận về các món ăn dân giả và cách nấu nướng. Có một lần anh đầu bếp không hiểu ý của ông, đánh vảy, chặt vi mấy con cá rô, chiên vàng xong mang bày lên bàn, bay mùi thơm phức, nhưng rồi bọn tôi bất ngờ tròn mắt, khi ông ném cả đĩa cá vào sọt rác và la cho một trận! Ông bảo, con cá rô mà mất vảy và cái vi thì còn ăn cái gì?

Lâu lâu ông cũng mời một số sĩ quan tham mưu cũng như các tiểu đoàn trưởng đến tư thất của ông dùng cơm. (Tư thất là một villa khá đẹp nằm trong doanh trại do Sư Đoàn 5 của Đại Tá Wòng A Sáng để lại). Các bữa cơm do chính tay vợ chồng ông nấu nướng. Điều làm chúng tôi ái ngại nhất, là phu nhân của ông không được ngồi chung mà là người hầu bàn. Hầu bàn chính hiệu chứ không phải làm cảnh. Bà đứng sau lưng, rót nước, xới cơm vào bát và đưa cả từng tấm giấy lau miệng cho “thực khách”. Bà là một người đàn bà có nhan sắc, phúc hậu và là một “phu nhân” hiếm hoi mà tôi đã gặp trong cuộc đời binh nghiệp. Bà không hề biết (và có lẽ không được quyền biết) bất cứ điều gì của đơn vị. Cả đám sĩ quan bọn tôi ngồi trong bàn ăn, bà không biết cả tên và ai đang giữ chức vụ gì. Chúng tôi rất nể phục bà, nhưng cũng thấy tội nghiệp cho bà. Lúc ấy tôi thầm nghĩ, giá mà vị “phu nhân” nào cũng như bà thì quân đội và đất nước mình có lẽ đã khá hơn.

Trong bữa ăn, ông cũng thường kể về cuộc đời và binh nghiệp của mình, đôi lúc có chút xúc động nhưng luôn với niềm hãnh diện:

- Các anh biết tại sao tôi nhỏ con như vầy mà được đi lính nhảy dù không?

- Có lẽ Trung tá nhanh nhẹn và gan dạ! – một sĩ quan trả lời

Ông cười, xuống giọng:

- Gan dạ cái con khỉ! Quê tôi ở tận Hòa Bình, ngoài Bắc. Lúc nhỏ nhà nghèo. Sau khi học hết bậc tiểu học, tôi phải tạm ở nhà phụ bố ra đồng. Một hôm, lúc trời chạng vạng tối, lùa trâu về chuồng, phải qua một con sông khá lớn. Khi ngồi trên mình một con trâu để nó bơi, tôi bất ngờ thấy một đám người lố nhố ẩn núp dưới mấy lùm cây bên bờ sông. Họ có cả súng. Tôi biết là đám Việt Minh, nên giả vờ la hét đàn trâu, như không nhìn thấy gì. Khi qua sông, tôi tìm đến cái đồn lính nhảy dù đóng bên kia, nói tiếng Tây với thằng lính gác, đòi gặp ông đồn trưởng. Tôi báo cho ông biết là bên kia sông có rất nhiều lính Việt Minh, có lẽ họ chuẩn bị tấn công đồn lính nhảy dù của ông đêm nay. Tôi được ông quan ba trưởng đồn thưởng cho mấy thùng bánh biscuit và hỏi con cái ai, nhà cửa ở đâu. Tối hôm đó, tôi nghe tiếng pháo dội xuống bên kia sông. Sáng hôm sau nghe tin một số lớn lính Việt Minh bị chết, số còn lại bị quân nhảy dù vây bắt. Sau chiến thắng lớn này, tôi được ông quan ba đồn trưởng cho người gọi vào và bảo ông muốn thưởng công cho tôi, hỏi tôi thích cái gì ông sẽ cho. Tôi bảo, tôi chỉ muốn đi lính Nhảy Dù. Vậy mà ông gật đầu ngay. Thế là tôi trở thành thằng lính Nhảy Dù! 

Sau đó, tôi được bổ sung về đại đội do một sĩ quan Việt Nam làm đại đội trưởng. Đó là Trung Úy Đỗ Cao Trí. Thấy tôi nhóc con, nên ông đại đội trưởng cho tôi vào toán đầu bếp, và sau đó lấy tôi theo làm “ô đô” cho ông. Trong một lần bị phục kích, địch tràn cả vào ban chỉ huy đại đội, tôi xông vào đánh cận chiến, giết chết mấy thằng, giải vây cho ông. Tôi được lên hạ sĩ và trở thành “gạc đờ co” của ổng. Khi lên Đại úy đi làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 19 Việt Nam (tiền thân của Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù), ông dắt tôi theo làm tiểu đội trưởng thám báo, đánh bao nhiêu trận ngon ơ, được lên hạ sĩ nhất, rồi trung sĩ. Sau này chính ông giới thiệu, để tôi được nhận vào Khóa 9 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt.

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP