(Tiểu
đoàn 2/43/SĐ18BB/QLVNCH)
Tâm
tình của Bảo Định
Chẳng
dám đem mình ví von với danh nhân - Nhưng đầu óc tôi cứ vơ vẩn nhớ tới câu nói
của Napoléon Đệ Nhất:
"Nước
Anh đánh trận nào cũng thua, chỉ có trận cuối cùng họ thắng" - Anh em
chúng tôi, TĐ 2/43, SĐ18BB, ngược lại, đánh trận nào cũng thắng, chỉ có trận
cuối cùng là thua ....... Khởi đầu cho trận thua đau đớn này là cuộc lui binh
nghiệt ngã đêm 20-4-75 tại mặt trận Xuân Lộc, mà TĐ 2/43 chúng tôi phải rút lui
trước địch quân. Một việc chúng tôi phải miễn cưỡng làm, lần đầu tiên và cũng
là lần cuối cùng .
Thật
sự Tiểu đoàn 2/43, đơn vị rời chiến trường sau cùng vì có nhiệm vụ đánh nghi
binh, đánh chặn hậu cho đại quân rút an toàn, nên đã bị tổn thất đáng kể khi
đơn độc vượt qua vòng vây trùng trùng điệp điệp của Cộng quân, nhưng không đến
nỗi bi đát như lời của Luật sư Nguyễn Văn Chức trích lại từ cuốn Việt Sử Khảo
Luận của LS Hoàng Cơ Thụy, viết theo ký giả Mỹ Frank Snepp trong cuốn Decent
Interval: “Trực thăng đã đến bốc cái tiểu đoàn chót của 4 tiểu đoàn sống sót
của Sư đòan 18, kể luôn tướng Lê Minh Đảo. Có 600 người dưới quyền đại tá Lê
Xuân Hiếu tình nguyện ở lại sau cùng để che chở cho cuộc triệt thoái. Trong vài
giờ, họ bị tràn ngập bởi 40 ngàn quân Bắc Việt đã được bố trí để trực tiếp đánh
họ.”
Sự
việc xảy ra vừa đúng 30 năm. Tuổi đời của tôi cũng sắp đến “thất thập cổ lai
hy”. Trí nhớ không được tốt. Những ngày đêm hãi hùng đó trong khu rừng rậm,
trong những căn cứ địa của VC, bị Sư đoàn 341 CSBV truy đuổi và bao vây chặt.
Có những điều tôi vẫn còn nhớ như in, nhớ rất rõ ràng. Nhưng cũng có nhiều điều
tôi chỉ còn nhớ mù mờ, nhớ lẫn lộn, thậm chí đã quên hẳn.
Tên
của các vị Sĩ quan trong Tiểu đoàn, tôi cũng nhớ không hết, ngoài các vị sau
đây:
•
Đại úy Tiểu đoàn phó Nguyễn Tấn Chi, K.12 Thủ Đức.
•
Đại úy Sĩ quan Hành quân/Huấn luyện/TĐ Nguyễn Mỹ.
•
Trung úy Nguyễn Văn Thắng, SQ Quản trị Nhân viên kiêm Chỉ huy Hậu cứ/TĐ
•
Trung úy Nguyễn Văn Hào, ĐĐT/ĐĐ1
•
Trung úy Võ Văn Mười, ĐĐT/ĐĐ2
•
Trung úy Nguyễn Văn Hùng, ĐĐT/ĐĐ3
•
Trung úy Hà Văn Dương, ĐĐT/ĐĐ4
•
Trung úy Võ Kim Thạch, ĐĐT/ĐĐCH&YT
•
Trung úy Tuyển, SQ Truyền tin
•
Trung úy Linh
•
Trung úy Chánh
•
Vị SQ Trợ Y/TD, SQ Tiền sát viên Pháo binh, Vị Trung đội trưởng Pháo binh,…
Nhưng
cũng có nhiều đồng đội đã vĩnh viễn nằm xuống trong khu rừng oan nghiệt đó. Với
tư cách là Tiểu đoàn trưởng, người chịu trách nhiệm đến sự an nguy của Tiểu
đoàn trong cuộc Hành quân Lui binh, tôi xin nhận sự phán xét của các Chiến hữu.
Thay mặt các Chiến hữu, tôi xin kính cẩn nghiêng mình trước Vong Linh của những
đồng đội đã anh dũng nằm xuống để cho chúng ta được sống, Nước Việt được trường
tồn. Nhưng bất hạnh thay! cuộc chiến đấu cho Chính Nghĩa của chúng ta đã bị
phản bội. Rốt cuộc, miền Nam thân yêu của chúng ta đã lọt vào tay bọn CSBV xâm
lăng. Nhưng tôi vẫn tin tưởng sự hy sinh của các bạn không oan uổng, không lãng
phí. Chúng ta chỉ mới thua một trận chiến, cuộc chiến vẫn tiếp tục, nhưng dưới
một hình thái khác. Ngày Quang Phục Quê Hương không còn xa. Chủ Nghĩa Cộng Sản,
Chế độ Cộng Sản nhất định phải bị tiêu diệt. Dân tộc Việt, đất Nước Việt nhất
định trường tồn. ĐỘC LẬP - TỰ DO – DÂN CHỦ và HẠNH PHÚC – NO ẤM nhất định sẽ
trở về với toàn dân.
Bảo
Định
Khi
Tiểu đoàn xuống núi, vừng đông đã ló dạng. Một ngày mới bắt đầu. Những trái đạn
pháo 105 ly được bắn đi xối xả, bắn cho hết đạn, đã liên tục rót lên đầu giặc
chỉ mới vừa ngưng. Hai khẩu pháo thân thương hoàn thành xong nhiệm vụ thì nhận
hai trái lựu đạn nổ tung bụng, đang nằm im lìm, trơ càng như hai đống sắt vụn ở
ngọn đồi phía dưới, cô đơn và lạnh lẽo.
Tiểu
đoàn yên lặng di chuyển. Lộ trình ấn định là Xuân Lộc - Bà Rịa, theo Liên TL2.
Điểm tập trung tại Đức Thạnh, Tỉnh Phước Tuy. Sau đó sẽ có xe đưa về căn cứ
Long Bình nghỉ ngơi, tái bổ sung quân số và đạn dược, rồi nhận nhiệm vụ mới.
Buổi
sáng ngày 20/4/75, lối 9 giờ, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, TL/QĐ III, Quân Khu
3 bay vào Xuân Lộc gặp Tướng Đảo để chỉ thị việc rút quân. Chỉ trong một thời
gian ngắn, Tướng Đảo và Bộ Tham Mưu Sư đoàn đã cấp tốc soạn thảo một kế hoạch
triệt thoái rất tỉ mỉ. Vừa quá trưa, tôi đã nhận được Lệnh Hành Quân để kịp
thời chuẩn bị. Tôi đã thi hành đúng theo những chỉ thị ghi trong LHQ: Tiểu đoàn
giữ lại 2 khẩu pháo 105 ly, còn tất cả sẽ kéo về Xuân Lộc để di chuyển cùng Sư
đoàn. Hậu cứ Tiểu đoàn gồm cả kho lương thực, đạn dược sẽ theo Sư đoàn đi
trước. Tiểu đoàn vẫn duy trì hoạt động bình thường. Hoạt động nghi binh - cũng
giống như trường hợp của Trương Phi cùng 20 người ngựa, tại cầu Trường Bảng, đã
mưu trí dùng những nhánh cây cột vào đuôi ngựa cho chạy lui, chạy tới trên
đường, tạo đất bụi bay mù trời để đánh lừa quân của Tào Tháo, nhờ thế đại quân
của Lưu Bị đã rút đi được. Hai khẩu pháo vẫn tác xạ quấy rối liên tục vào vị
trí địch. Các toán tiền đồn, phục kích vẫn nằm tại vị trí. Nhất là Trung đội
Biệt Kích Tiểu đoàn hoạt động khu vực Núi Ma, đối diện căn cứ Núi Thị, bên kia
đường QL1 về hướng Bắc. Nhờ sự hoạt động hữu hiệu của Trung đội này, Cộng quân
đã không thể nào đến gần đặt súng cối bắn vào Tiểu đoàn. Theo Lệnh Hành Quân,
đúng 7 giờ tối, Tiểu đoàn sẽ vào hệ thống truyền tin của Lữ đoàn 1 Nhay Dù, đặt
dưới quyền chỉ huy của Lữ đoàn trưởng Dù. Đến 12 giờ đêm, Tiểu đoàn trở lại hệ
thống làm việc của Sư đoàn, phá hủy 2 khẩu pháo, rời bỏ căn cứ Núi Thị, rút về
điểm tập trung trước, sau đó là các đơn vị của Lữ đoàn Dù. Đúng lúc 12 giờ, tôi
gọi LĐ Dù cho tôi trở về với SĐ. LĐ Dù bảo chờ. Lúc 1 giờ sáng, tôi gọi lại,
cũng bảo chờ. Lúc 2 giờ sáng, tôi gọi lần nữa, cũng được trả lời: Chờ! Lúc gần
3 giờ, nhìn về hướng thị trấn, tôi thấy có rất nhiều ánh đèn xe hơi di chuyển.
Tôi liền gọi về LĐ Dù hỏi và được trả lời: Nó đấy! Hãy sử dụng pháo bắn. Nhưng
pháo của tôi đã bắn gần hết đạn từ lúc quá nửa đêm, chuẩn bị phá hủy để di
chuyển. Và cũng từ lúc đó tôi mới được lệnh cho Tiểu đoàn rời căn cứ. Nhìn đồng
hồ, kim chỉ vừa đúng 3 giờ - 3 giờ sáng! Tôi cho lệnh gom quân. Việc gom quân
không phải dễ dàng. Làm thế nào để các toán tiền đồn và phục kích rời vị trí,
trở về căn cứ mà địch không phát hiện được, không bám sát đi theo là chuyện
khó. Trong suốt cuộc chiến vừa qua, nhất là thời kỳ chiến tranh Việt – Pháp,
những đơn vị đi tiền đồn, phục kích về bị địch bám sát theo rồi lợi dụng thời
cơ, cướp đồn là chuyện thường xảy ra. Và phải hơn một giờ sau Trung đội BK/TĐ
mới về đến Tiểu đoàn.
Theo
tập Hồi ký của Trung tá Nguyễn Văn Đỉnh mà nhà Sử học George J. Veith gửi cho
tôi bảng dịch tiếng Anh, thì vị cựu Lữ đoàn trưởng LĐ 1 Dù nói đơn vị cuối cùng
của LD, Tiểu đoàn 9 Dù cùng Trung đội Pháo binh đã rời Long Giao lúc 4 giờ 30
sáng. Như vậy là toàn bộ LD Dù đã rút đi trước, đã rời khỏi Mặt trận trước Tiểu
đoàn 2/43. Và TD2/43 là đơn vị cuối cùng rời bỏ Xuân Lộc!
Lúc
Tiểu đoàn đi đến gần Ấp Núi Đô thì trời đã sáng hẳn. Một số Nghĩa quân và Địa
Phương Quân vác súng chạy theo, muốn nhập theo đoàn quân. Nhưng với tinh thần
cảnh giác cao độ, tôi buộc phải đổi hướng, tránh xa họ. Vì tôi không thể phân
biệt được thật hay giả. Tôi phải nghĩ đến sự an nguy của đơn vị trước tiên.
Trong chiến đấu, ta không thể xử sự theo lối nữ nhi thường tình. Tại mặt trận
An Lộc, Bình Long hồi mùa hè đỏ lửa năm 1972, vì lòng nhân đạo, muốn cứu một
thương binh Cộng quân, tôi đã mất đi một y tá khi tên thương binh địch mở chốt
lựu đạn ném vào người định cứu mình!
Tại
Đức Thạnh, tỉnh Phước Tuy, Đại tá Lê Xuân Hiếu, Trung đoàn trưởng 43BB, con
chim đầu đàn của chúng tôi, gọi báo cáo với Tướng Đảo là TD2/43 vẫn còn kẹt ở
Xuân Lộc.
Lối
7 giờ sáng, khi Tiểu đoàn di chuyển gần đến căn cứ Long Giao, đang đi trong khu
rừng chồi, sắp đến vùng đồn điền cao su thì tôi nghe tiếng trực thăng bay ngang
đầu. Tôi nghe tiếng gọi tôi. Đó là tiếng của Đại tá Ngô Kỳ Dũng, Trung đoàn
trưởng 52BB đang bay trên chiếc C&C của Tư lệnh, chuyển lệnh của Tướng Đảo,
ra lệnh cho tôi phải hủy bỏ lộ trình cũ, chuyển hướng băng rừng ra Long Thành,
trên QL15.
Đường
LTL2, Lộ trình triệt thoái theo LHQ, nối liền Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh và
Bà Rịa thuộc tỉnh Phước Tuy, dài trên 40 km đã bị bỏ hoang phế từ lâu, kể từ
sau Hiệp định Đình chiến Paris, khi quân đội Đồng minh rút khỏi chiến trường.
Khi Tướng Đảo quyết định chọn con đường này để làm Lộ trình triệt thoái. Ông đã
có một quyết định táo bạo. Nhưng đã tạo được sự bất ngờ. Đoạn đường dài trên 40
km đó, lâu nay vẫn là vùng an toàn của Cộng quân. Ngoài những toán du kích địa
phương có nhiệm vụ canh giữ con đường, Trung đoàn 33 CSBV vẫn thường xuất hiện
hoạt động quấy phá. Con đường đã là hành lang giao liên an toàn giữa các mật
khu của VC. Quyết định táo bạo của Tướng Đảo, yếu tố bất ngờ của cuộc Hành quân
Lui binh do Sư đoàn 18BB thực hiện đã làm cho Cộng quân trở tay không kịp.
Chúng không thể tức thời điều quân đến truy kích và ngăn chặn. Trong quyển
“Lịch sử Quân Đội Nhân Dân” của CSBV, Quân đoàn IV Cộng quân của Tướng Hoàng
Cầm thú nhận: “Chúng tôi đã không phát hiện kịp thời cuộc di chuyển quân của Sư
đoàn 18 để tổ chức lực lượng truy kích và ngăn chặn.” Nhưng những cuộc chạm
súng lẻ tẻ, tấn công vào đoàn quân triệt thoái cũng đã gây cho lực lượng bạn
một số tổn thất: Đại tá Phạm Văn Phúc, Tỉnh trưởng bị bắt. Trung tá Tham Mưu
trưởng bị tử thương, đồng thời cũng đã gây một số thiệt hại cho LĐ1 Dù, khi đơn
vị này vừa chiến đấu vừa bảo vệ thường dân các ấp Bảo Định, Bảo Hòa và Bảo Toàn
di tản theo. Con đường giờ đây lại nằm dưới sự kiểm soát của Cộng quân, sau khi
đơn vị cuối cùng của LĐ1 Dù đi qua. Chúng cố vớt vát những tổn thất mà chúng đã
gánh chịu trong suốt 12 ngày đêm tại Mặt trận Xuân Lộc, bằng cách phải tiêu
diệt cho được đơn vị còn lại của QLVNCH. Đó là Tiểu đoàn 2/43 Sư đoàn 18BB, vừa
rời bỏ căn cứ Núi Thị.
Đây
là lần đầu tiên kể từ khi xuống núi, tôi bắt được liên lạc với Sư đoàn. Nhưng
khi chiếc trực thăng bay qua, lệnh đã ban xong, tôi lại mất liên lạc hoàn toàn
với bên ngoài. Không còn đơn vị bạn nào ở gần để có thể liên lạc qua lại. Sư
đoàn, Lữ đoàn, Trung đoàn đều ở xa. Tất cả đang di chuyển. Chúng tôi lại đang ở
trong rừng. Máy truyền tin không thể hoạt động tầm xa. Chúng tôi đã hoàn toàn
cô độc. Chúng tôi lạc lõng giữa khu rừng rậm mênh mông với nhiều mật khu, nhiều
căn cứ địa của địch. Khu rừng này nối tiếp với mật khu Hắc dịch nổi tiếng của
VC. Hiện giờ, Sư đoàn 341 của Cộng sản Bắc Việt đang chiếm cứ nơi này. Đây là
một Sư đoàn tân lập, gồm các Tiểu đoàn Chủ lực của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.
Chúng vừa mới được đưa vào Nam hồi cuối tháng 2, sát nhập vào Quân đoàn IV do
Tướng Hoàng Cầm chỉ huy. Binh sĩ phát âm giọng Nghệ - Tĩnh, rất khó nghe.
Lối
9 giờ, Tiểu đoàn đến một khu rừng cao su, phía tây căn cứ Long Giao. Đơn vị
tiền phương chạm địch. Nhưng địch quân chỉ là một toán nhỏ, cấp Tiểu đội. Chúng
đã nhanh chóng bị thanh toán. Liền sau đó, đơn vị tiền phương lại chạm địch.
Lần này địch phản ứng mạnh. Nhưng không có pháo binh và phi cơ yểm trợ. Phải
giao chiến trong tình trạng này thật là bất lợi. Tôi sợ quân sĩ bị thương vong
sẽ gây phiền phức. Tôi quyết định đoạn chiến. Vừa lúc đó, từ hướng đông, một
đoàn xe Molotova chạy vào -sau này đi ở tù cải tạo, được biết đó là loại xe
quân sự do Trung Cộng chế tạo để chở quân, có tên là Hồng Kỳ- trên 10 chiếc
đang đổ quân. Chúng định đánh bọc hậu Tiểu đoàn. Chúng định lùa Tiểu đoàn tôi
vào khu rừng trước mặt, nơi đại quân của chúng đang chờ sẵn để tiêu diệt. Tôi
cho đổi hướng, Tiểu đoàn đi nhanh về hướng Bắc, lẩn vào khu rừng chồi. Sau đó
phải đổi hướng theo hướng Tây trở lại. Khi đến một con suối, Đại đội 2 của
Trung úy Võ Văn Mười báo cáo phát hiện một túp lều, bên trong có mấy tên VC
đang ngồi uống nước trà. Một khẩu K.54 treo trên vách phên. Không thể lẩn tránh
kịp. Tôi cho lệnh nổ súng, thanh toán cho gọn. Toán VC bị tiêu diệt. Tiểu đoàn
tiếp tục tiến. Đến chiều, chúng tôi đến một khu rừng chồi tương đối thoáng, nối
tiếp là rừng rậm. Tôi cho lệnh nghỉ ngơi. Tôi hội ý với Đại úy Tiểu đoàn phó
Nguyễn Tấn Chi, K.12 Thủ Đức, và các Đại đội trưởng. Tiểu đoàn sẽ chia làm hai
cánh: một do tôi trực tiếp chỉ huy, và một do Đại úy Chi chỉ huy, xuyên qua
rừng rậm, tiến về Long Thành. Tùy theo tình thế, các Đại đội trưởng có thể đơn
độc dẫn đơn vị mình về điểm hẹn.
Trời
đã về chiều. Bóng đêm đến nhanh. Tiểu đoàn tiến vào khu rừng rậm. Từ bìa rừng
vào chưa đến 100 mét thì cánh quân của tôi chạm súng dữ dội với địch. Sau một
ngày hành quân mệt mỏi, lại phải chạm địch liên miên. Tinh thần căng thẳng, thể
xác rã rời. Nhất là khi tôi cho lệnh cố tránh né địch, bảo toàn sinh mạng. Nên
vừa chạm súng được một lúc là chúng tôi tìm cách “chém vè”. Toán quân theo tôi
tất cả chỉ còn 28 người, kể cả tôi. Chúng tôi đã bị bao vây chặt. Đêm đó là một
đêm trăng mờ. Hai mươi tám người chúng tôi mò mẩm, im lặng, tìm đường thoát
thân trong bóng đêm, dưới ánh sáng mờ nhạt của vầng trăng khuyết:
“Chàng
từ đi vào nơi gió cát,
Đêm
trăng này nghỉ mát phương nao?
Xưa
nay chiến địa nhường bao,
Nội
không muôn dặm, xiết bao dãi dầu.”
Thật
ra thì đêm trăng đó chúng tôi không thể nào nghỉ mát được. Chúng tôi đã phải
“dãi dầu” suốt 12 ngày đêm tại Mặt trận Xuân Lộc. Ngày hôm nay phải hành quân
đơn độc, chạm súng liên tục, nhưng lại thiếu sự yểm trợ của phi pháo – là hai
yếu tố quyết định thành công của bất cứ cuộc hành quân nào. Tiểu đoàn lại đang
lọt giữa vòng vây trùng trùng điệp điệp của địch. Chúng tôi đang tìm kế thoát
thân. Gần nửa đêm, chúng tôi lần mò đến một khu rừng thấp. Một con đường mòn
cắt ngang. Tôi định cho vượt qua thì gặp một toán Cộng quân di chuyển. Chúng
dừng lại ngay trước mặt, và bắt loa kêu gọi:
“Thiếu
tá Nguyễn Hữu Chế, Biệt hiệu Bảo Định, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2/43, Sư đoàn
18BB Ngụy. Hiện Tiểu đoàn bạn đang bị quân Cách Mạng bao vây. Hàng thì sống,
chống thì chết.”
Tên
bộ đội phát loa, giọng đặc sệt Nghệ - Tĩnh. Chúng thuộc Sư đoàn 341 CSBV. Có
thể chúng chỉ là những đơn vị chủ lực Tỉnh vừa mới đôn quân thành chính quy vì
nhu cầu chiến trường miền Nam, nên kinh nghiệm tác chiến còn kém cỏi. Nếu
không, có lẽ…
Chúng
tôi đổi hướng. Nhưng lại gặp tiếng loa kêu gọi đầu hàng với nội dung và giọng
nói như lúc nảy. Có lẽ chúng đã ghi âm. Tôi bò đến gặp từng anh em và nói với
họ: “Các anh có thể ra, nhưng tôi thì không. Đợi tôi lẩn tránh xa thì các anh
có thể bắt đầu.” Nhưng tất cả đều nhất quyết: “KHÔNG”.
Tiểu
đoàn 2/43, đơn vị thiện chiến của Sư đoàn 18BB. Kể từ thời cố Trung tá Hắc Long
Đỗ Văn Tân, K.7 Võ Khoa Thủ Đức làm Tiểu đoàn trưởng, giao lại cho cố Trung tá
Hắc Long Nguyễn Văn Thoại, gốc Thiếu Sinh Quân, dân Thủy quân Lục chiến, đến
Thiếu tá Bảo Định Nguyễn Hữu Chế là tôi, từng phục vụ tại Binh chủng Biệt Động
Quân, dù chỉ một thời gian ngắn, nhưng cũng học được kinh nghiệm tác chiến “tốc
chiến tốc thắng” của Binh chủng ưu tú này, nên đã giữ cho Tiểu đoàn luôn luôn
là đơn vị xuất sắc của Sư đoàn cũng như của Quân đoàn III.
Sau
trận chiến An Lộc của Bình Long anh Dũng hồi mùa hè đỏ lửa năm 1972, tôi được
đại diện đơn vị về Bộ Tư Lệnh Quân đoàn nhận lãnh phần thưởng do Cố Thiếu tướng
Lê Văn Hưng, lúc đó giữ chức TLP/QĐ trao tặng. Tết năm 1974, Tiểu đoàn lại được
chọn là đơn vị xuất sắc để Ông Tổng trưởng Kinh tế - Tài chánh Hà Xuân Trừng
đại diện Chính phủ đến ủy lạo. Và năm 1974, Tiểu đoàn được Tuyên dương Công
trạng trước Quân đội, Hiệu kỳ của Tiểu đoàn được gắn thêm một Anh Dũng Bội Tinh
với Ngành Dương liễu. Những chiến công vang dội mà Tiểu đoàn đã gặt hái được đã
làm cho Cộng quân khiếp sợ. Từ trận Tái chiếm Phi trường Quản Lợi tại Mặt trận
An Lộc, Bình Long; trận Bố Lá thuộc Quận Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; trận Thái
Hưng thuộc Quận Công Thanh, tỉnh Biên Hòa; trận Võ Đắc – Võ Su thuộc Quận Hoài
Đức, tỉnh Bình Tuy; trận tái chiếm Ngã Ba Dầu Giây thuộc Tỉnh Long Khánh hồi
Hiệp định ngưng bắn Paris đầu năm 1973. Đặc biệt tại trận này, khi khai thác
tên tù binh cấp B trưởng, tức Trung đội trưởng thuộc Trung đoàn 33 Cộng quân,
hắn nói: “Chúng tôi được lệnh của Thủ trưởng E, tức Trung đoàn trưởng, mỗi khi
gặp TD2/43 thì phải đoạn chiến và tìm cách chém vè! Không biết đó là lời thật
hay dối lòng để tâng bốc mình. Nhưng thực tế, TĐ2/43 đã làm cho Cộng quân phải
e dè và kiêng nể.
Nhưng
giờ đây chúng tôi như những con thú bị săn đuổi trong khu rừng săn bắn của
Triều đình Nhà Thanh từ thời đại Khang Hy đến Càng Long. Con thú chỉ có thể
chạy trốn trong khu rừng săn bắn rộng mênh mông, nhưng khó vượt thoát ra ngoài.
Chúng tôi đang bị sa cơ thất thế:
“Lạc
nước hai xe đành bỏ phí,
Gặp
thời một chốt cũng thành công.”
Lúc
gần sáng, chúng tôi gặp một con suối. Sau khi vội vàng cho lấy nước đổ vào
bi-đông, và những bao gạo sấy, chúng tôi lại lên đường. Phải tránh xa các con
suối. Vì đó là nơi địch cũng thường xuất hiện để lấy nước hoặc tắm giặt. Toán
28 người chúng tôi hầu hết là lính Văn phòng, Truyền tin, Quân Y, Pháo binh….
Tất cả chỉ được trang bị súng ngắn hay lựu đạn để dể dàng làm việc. Chỉ có một
số anh em thuộc Trung đội Biệt Kích/TD là có súng M.16. Nhưng chỉ với 28 người,
lại đang nằm trong vòng vây địch, đang bị lùng đuổi. Muốn sống còn, chúng tôi
phải tìm cách lẩn tránh bọn chúng. “Tránh voi cũng chẳng xấu mặt nào”.
Bước
sang ngày thứ ba, kể từ khi rời bỏ Xuân Lộc. Hoạt động của chúng tôi vẫn thế.
Ngày nghỉ, tìm những nơi rậm rạp chui vào. Đêm đến thì di chuyển. Cứ nhắm hướng
Tây, hướng Long Thành mà đi.
Đến
ngày thứ tư, tôi cảm thấy đã thoát ra được khỏi vòng vây địch, nhưng tôi vẫn
chưa dám trả lời máy, mặc cho SĐ, TR/Đ lo lắng, và những người vợ lính đang
ngày đêm khắc khoải chờ tin chồng tại Tiền trạm Tiểu đoàn ở Long Bình. Hàng
ngày, buổi sáng và buổi chiều đều có máy bay, khi thì trực thăng, khi thì L.19,
do Phòng 3 Sư đoàn, Ban 3 Trung đoàn, và thường do Đại tá Lê Xuân Hiếu, Trung
đoàn trưởng 43BB đích thân bay đi tìm.
Tại
Tiền trạm Tiểu đoàn, đặt tạm bên ngoài căn cứ Long Bình, đối diện với BTL/SD,
Trung úy Nguyễn Văn Thắng, Sĩ quan quản trị nhân viên TD, đã bận rộn suốt ngày
để điều động những chiếc xe GMC về Long Thành đón những toán quân vượt thoát
vòng vây địch vừa từ trong rừng ra. Cánh quân của Đại úy Tiểu đoàn phó Nguyễn
Tấn Chi đã về đến gần như nguyên vẹn. Chỉ có cánh quân Thiếu tá Tiểu đoàn
trưởng là đụng độ mạnh, phải phân tán. Nhưng những quân nhân sống sót, cuối
cùng cũng lần mò ra đến điểm tập trung. Trung úy Thắng lại còn phải trả lời,
phân ưu những Bà Vợ Lính, kể cả Bà vợ của Thiếu tá TDT, những quân nhân còn ghi
nhận là “MẤT TÍCH”. Những người vợ lính đợi tin chồng, đang khắc khoải lo âu.
Hàng ngày họ đến đây từ sáng sớm. Có người tay bồng, tay dắt những cháu bé mới
3, 4 tuổi. Hoàn cảnh thật thương tâm.
Buổi
sáng ngày thứ tư của cuộc triệt thoái, tức là ngày 24/4/75, Trung úy Thắng nhận
được chỉ thị từ Sư đoàn là phải chuẩn bị hồ sơ để làm lễ “TRUY THĂNG – TRUY
TẶNG” cho những quân nhân được ghi nhận là “MẤT TÍCH”. Tin này, Thắng hoàn toàn
giữ kín. Thinh thoảng, Trung úy Thắng cũng nhận được những cú điện thoại từ Sư
đoàn, Trung đoàn của Thiếu tướng Tư lệnh Lê Minh Đảo, và Đại tá Trung đoàn
trưởng Lê Xuân Hiếu hỏi thăm: Phu nhân Thiếu tá Chế còn đó không?
Lối
5 giờ chiều, chiếc máy truyền tin của Tiền trạm Tiểu đoàn bỗng vang lên giọng
nói yếu ớt: “Hoàng Yến, đây Bảo Định; Hoàng Yến, đây Bảo Định, nghe rõ trả
lời.” Đó là tiếng gọi của tôi khi khi toán quân đang tiến tới một một khu rừng
chồi thấp mà tôi nghĩ có thể đã thoát ra khỏi vòng vây địch. Lúc đó vừa lúc
chiếc L.19 bay ngang đầu. Vị Đại tá Trung đoàn trưởng của tôi đang ngồi trên
đó, đang gọi tìm tôi:
-
Tôi nghe tiếng ai như tiếng Bảo Định?
-
Bảo Định đây, Hoàng Yến - tôi vội trả lời.
-
Anh cho tôi tọa độ điểm đứng, dọn bãi đáp.
-
Không được, tôi sợ chưa thoát khỏi vòng vây. Để tôi đi xa thêm nữa. Đợi sáng
mai.
-
Được, hẹn Bảo Định sáng mai.
Sau
đó, chiếc L.19 trở về căn cứ. Toán quân của tôi tiếp tục cuộc vượt thoát. Cố di
chuyển càng xa về hướng Đông càng tốt. Hy vọng thoát được vòng vây của địch. Đã
4 ngày 3 đêm kể từ khi xuống núi. Có lẽ đây là giờ phút sung sướng nhất.
Sáng
ngày hôm sau, tức 25/4/75, lối 9 giờ, một đoàn trực thăng 4 chiếc bay vào vùng.
Tôi cho trải “paneau” làm tín hiệu nhận nhau. Tôi cho sắp làm 3 toán. Địa thế
là rừng chồi. Chỉ có một khoảng trống nhỏ có thể dùng làm bãi đáp cho một chiếc
trực thăng. Chiếc thứ nhất đáp xuống bốc toán đầu tiên rồi cất cánh an toàn.
Chiếc thứ hai, bốc toán thứ hai. Cũng cất cánh an toàn. Nhưng đến chiếc thứ ba
– tôi ở trong toán thứ ba - trực thăng vừa đáp xuống thì từ hướng Đông, AK,
B-40 đồng loạt khai hỏa cùng những tiếng la “xung phong” dậy trời. Toán quân
còn lại của tôi nhanh chóng lao vào trực thăng. Trực thăng vội vàng cất cánh.
Tôi chỉ còn kịp chạy đến và nhảy lên ôm càng. Trực thăng lướt nhanh trên đầu
ngọn cây rồi từ từ tăng cao độ, trực chỉ Long Bình. Người xạ thủ đại liên,
gunner, cùng những người lính trong lòng máy bay cố nắm chặt hai tay tôi, và
kéo tôi lên. Nón sắt và bản đồ đã rơi mất. Tôi mệt nhừ ngồi im bất động. Cặp
kính cận thị của tôi cũng không còn. Những giọt nước, nước mắt hay là máu? từ
từ lăng xuống trên khuôn mặt dãi dầu mưa nắng và trận mạc từ hơn hai tuần lễ
nay. Tôi cảm thấy mằn mặn. Trực thăng hạ thấp, chuẩn bị đáp. Từ trên cao, tôi
đã nhìn thấy mờ mờ vị Đại tá thân yêu đã mấy ngày đêm lo âu cho sự an nguy của
tôi, Tiểu đoàn 2/43 của tôi; đang đứng chờ trước đầu xe jeep đậu sát LZ, đàng
sau văn phòng Tư lệnh. Ông đón tôi với tất cả nỗi mừng vui của người anh cả
đang dang tay đón đứa em thất lạc trở về mái nhà xưa. Ông nói: Lên xe vào gặp
Thiếu tướng Tư lệnh. Ổng đang chờ anh.
Michigan,
Mùa Tuyết trắng 2005
Bảo
Định Nguyễn Hữu Chế
Tiểu
đoàn trưởng TĐ2/43 - SĐ18BB/QLVNCH