Wednesday, January 19, 2022

TƯỞNG NIỆM HOÀNG SA 19-01-1974 (Phỏng vấn nhà văn Điệp Mỹ Linh)

 

Chương Trình Văn Học Nghệ Thuật Đài Phát Thanh Saigon-Dallas

TƯỞNG NIỆM HOÀNG SA 19-01-1974

Phỏng vấn nhà văn Điệp Mỹ Linh

 

XNV.- Kính thưa quý thính giả, hôm nay là ngày 19-01-2022. Cách nay đúng 48 năm – ngày 19-01-1974 – Trung cộng đã ngang nhiên đưa một lực lượng Hải Quân rất hùng hậu tiến vào hải phận thuộc lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) để tiến chiếm Hoàng Sa.

Để kỷ niệm ngày đau thương của lịch sử và dân tộc, hôm nay, chương trình Văn Học Nghệ Thuật thực hiện cuộc phỏng vấn một nhân vật nữ đã có rất nhiều gắn bó với đại gia đình Hải Quân VNCH trong hơn nửa thế kỷ qua.

Chúng tôi muốn đề cập đến nhà văn Điệp Mỹ Linh.

Kính thưa quý vị, trước khi trở thành tác giả của nhiều tác phẩm được xuất bản, Điệp Mỹ Linh từng tháp tùng nhiều đơn vị tác chiến của Hải Quân VNCH trong những cuộc hành quân hỗn hợp trên sông rạch tại Vùng IV Sông Ngòi, để viết tường thuật. Một trong những tác phẩm của Điệp Mỹ Linh được giới sử học lưu ý là cuốn tài liệu lịch sử rất quan trọng viết về chuyến ra khơi cuối cùng của Hải Quân VNCH, năm 1975.

Vì Điệp Mỹ Linh từng tháp tùng hành quân và cũng là tác giả của cuốn tài liệu Hải Quân VNCH Ra Khơi, 1975, cho nên, hôm nay, chúng tôi mời Điệp Mỹ Linh góp mặt với chúng tôi để cùng thực hiện phần Tưởng Niệm Hoàng Sa, ngày 19-01-1974.

 

Chào cô Điệp Mỹ Linh.

ĐML.- ĐML xin trân trọng kính chào quý thính giả, kính chào Ban Giám Đốc Đài Phát Thanh Saigon Dallas, chào cô Phượng Vi và chào cô Như Tuyền.

XNV.- Thưa cô, hôm nay đúng ngày 19 tháng Giêng, kỷ niệm trận Hải Chiến Hoàng Sa. Trận Hải Chiến Hoàng Sa đã được Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại “đưa” vào Hồi Ký "Can Trường Trong Chiến Bại" do chính Phó Đề Đốc viết. Theo cô, với cuộc chiến đẫm máu và nước măt như thế, và cô đã có viết hàng loạt những trận đánh oai hùng của Hải Quân VNCH, xin cô cho biết ý kiến và nhận xét của cô về trận Hải Chiến Hoàng Sa?

ĐML.- Kính thưa quý thính giả và thưa cô, thái độ của tôi đã được thể hiện rõ nét trong bài phản biện nhà báo Bill Hayton – làm việc cho BBC – khi Bill Hayton có những nhận xét sai lạc, thiếu kiểm chứng, không công bằng đối với trận Hải Chiến hào hùng của Hải Quân VNCH. 

Link: https://www.diepmylinh.com/gop-y-voi-bill-hayton

 

XNV.- Xin cô trình bày sơ lược về trận Hải Chiến Hoàng Sa để quý thính giả am tường.

ĐML.- Theo Hồi Ký của Hải Quân đại tá Hà Văn Ngạc – sĩ quan chỉ huy chiến thuật trận hải chiến Hoàng Sa và cũng là sĩ quan đã trực tiếp ra lệnh cho Hải Đoàn Đặc Nhiệm của Hải Quân VNCH tại Hoàng Sa “khai hỏa”, để khởi đầu cuộc Hải Chiến Hoàng Sa – thì: 

Ngày 11/01/1974, Ngoại trưởng Trung cộng tuyên bố về chủ quyền của Trung cộng trên các quần đảo Hoàng sa và Trường Sa.

 Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao VNCH bác bỏ luận cứ của Trung cộng và tái xác nhận chủ quyền của VNCH trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 16/01/1974, Ngoại trưởng Vương Văn Bắc tuyên bố chủ quyền của VNCH trên 2 quần đảo Hoàng sa và Trường Sa.

Ngày 17/01/1974, từ Saigon, tôi – từ đây, xin hiểu đại danh từ “tôi” là Hải Quân đại tá Hà Văn Ngạc – đến Đà Nẵng lúc 9:00 giờ sáng. Khi đến Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải tôi được biết Tuần Dương Hạm Trần Bình Trong, HQ5, với biệt đội Hải Kích, cũng sẽ đến Đà Nẵng vào tối nay.

Tối 17-01-1974, khoảng 9:00 giờ, HQ5 rời Đà Nẵng, hải hành ra Hoàng Sa. Hạm trưởng HQ5 là Hải Quân trung tá Phạm Trọng Quỳnh. Tôi chỉ huy Hải Đoàn Đặc Nhiệm từ HQ5.

Ngày 18/01/1974, khoảng 9 giờ sáng, HQ5 và HQ10 đến gần Hoàng Sa.. 

Xế trưa, cả 4 chiến hạm (Ghi chú của Trần Đỗ Cẩm: HQ4, HQ5, HQ10 và HQ16)  tập trung trong vùng quần đảo Hoàng Sa.

Hải Đoàn Đặc Nhiệm được thành hình.

Nhóm chiến binh thuộc HQ16 và HQ4 đổ bộ và trương quốc kỳ VNCH trên các đảo Cam Tuyền (Robert), Vĩnh Lạc (Money) và Duy Mộng (Drummond). 

Từ phía Nam đảo Hoàng Sa, Hải Đoàn Đặc Nhiệm tiến về đảo Quang Hòa theo thứ tự: HQ4, HQ5 HQ16 và HQ10.

Khi Hải Đoàn Đặc Nhiệm tiến về đảo Quang Hòa thì hai chiến hạm Trung cộng loại Kronstadt, số hiệu 271 và 274 vận chuyển chặn hướng đi của Hải Đoàn Đặc Nhiệm. Hải Đoàn Đăc Nhiệm vẫn giữ nguyên tốc độ, trong khi hai chiến hạm khác, nhỏ hơn mang số 389 và 396 của Trung cộng vẫn nằm nguyên vị trí sát bờ bắc đảo Quang Hòa.

Chiếc Kronstadt 271 dùng quang hiệu chuyển công điện: “These islands belong to the People Republic of China since Ming dynasty STOP Nobody can deny”. Hải Đoàn Đặc Nhiệm đáp bằng quang hiệu: “Please leave our territorial water immediately.”

Ngày 18-01-1974, khoảng 8 giờ tối, HQ16 chuyển phái đoàn Công Binh, do thiếu tá Hồng hướng dẵn, sang HQ 5 bằng xuồng. Phái đoàn Công Binh  cùng ông Kosh – thuộc cơ quan DAO Hoa Kỳ tại Đà Nẵng – vào gặp tôi.

10 giờ tối, tôi nói chuyện bằng vô tuyến với bốn Hạm Trưởng để thông báo tình hình quân sự rất phức tạp trong vùng, yêu cầu bốn vị chuẩn bị chiến hạm và huy động tinh thần nhân viên, sẵn sàng chiến đấu.

11 giờ tối, lệnh hành quân từ Vùng I Duyên Hải được chuyển mã hóa trên băng tần SSB – single side band – ghi rõ: “Tái chiếm một cách ôn hòa đảo Quang Hòa”.

Nhận được lệnh hành quân, tôi chia Hải Đoàn thành hai Phân Đoàn Đặc Nhiệm:

*.- Phân Đoàn Đặc Nhiệm I gồm HQ4 và HQ5 do Hạm trưởng Khu trục hạm HQ4 chỉ huy;

*.- Phân Đoàn Đặc Nhiệm II gồm HQ16 và HQ10 do Hạm trưởng HQ16 chỉ huy.

Diễn Tiến Trận Hải Chiến ngày 19-01-1974

Ngày 19-01-1974, lúc 6 giờ sáng, Phân Đoàn Đặc Nhiệm I có mặt tại Tây Nam đảo Quang Hòa. Biệt đội Hải Kích – do Hải Quân đại úy Nguyễn Minh Cảnh chỉ huy – được chỉ thị: Không được nổ súng và lên bờ yêu cầu toán quân của Trung cộng rời đảo. Trong biệt đội này có Hải Kích Đỗ Văn Long.

Biệt đội Hải Kích tiến vào đảo bằng 2 xuồng cao su, Hải Kích Đỗ Văn Long là người đầu tiên vừa nổ súng vừa tiến vào đảo. Hải Kích Đỗ Văn Long bị Trung cộng tử bờ bắn ra, tử thương ngay tại bãi biển! Trung úy Lê Văn Đơn – xuất thân từ Bộ Binh – tiến vào để thâu hồi tử thi của Hải Kích Đỗ Văn Long cũng bị Trung cộng bắn, tử thương. Tử thi vị sĩ quan này được thâu hồi ngay.

9 giờ 30 sáng 19-01-1974, đích thân Tư Lệnh Hải Quân VNCH hay Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải ra lệnh “khai hỏa”, bằng bạch văn, cho Hải Đoàn Đặc Nhiệm.

10 giờ sáng 19-01-1974, biệt đội Hải Kích trở về HQ5 với trung úy Lê Văn Đơn tử thương. Trong khi đó, tôi chỉ thị mỗi chiến hạm tấn công một chiến hạm địch, và bám sát địch trong tầm hải pháo 40 ly.

10 giờ 24 sáng 19-01-1974, lệnh khai hỏa được ban hành. 

Chiếc Kronstadt 271 bị trúng đạn, vận chuyển rất chậm, trở thành mục tiêu của HQ5.

Hỏa lực của Kronstadt 271 không gây thiệt hại nhiều cho HQ5; nhưng có thể đã gây thiệt hại nặng cho HQ10 nằm về phía Bắc.

HQ4 nằm về phía Tây Nam của HQ5 đặt mục tiêu là Kronstadt 274 nằm về phía Bắc. Nhưng chẳng may, HQ4 bị trở ngại tác xạ ngay từ phút đầu tiên; tuy nhiên HQ4 vẫn phải tiếp tục bám sát Krondstadt 274, cho nên, HQ4 bị thiệt hại nặng bởi hỏa lực của Kronstadt 274.

10:39 sáng 19-01-1974, HQ16 báo cáo hầm máy bị trúng đạn, chiến hạm  bị nghiêng, khả năng vận chuyển giảm sút, buộc phải lui ra khỏi vòng chiến; cũng không còn liên lạc được với HQ10; không biết rõ tình trạng và chỉ thấy nhân viên HQ10 đang đào thoát.

Tôi ra lệnh cho HQ4 lui ra khỏi vòng chiến ngay; và  HQ5 yểm trợ cho HQ4  tiến ra xa.

Chiếc Kronstadt 274 của Tung cộng tấn công HQ5 với mục đich tiếp cứu chiếc Krondstadt 271 đang bị tê liệt.

HQ5 bị trúng đạn. Sĩ quan trưởng khẩu 127 ly tử thương và hải pháo bất khiển dụng.  Máy siêu tần số SSB không còn liên lạc được. Khẩu hải pháo 40 ly đơn phía tả hạm cũng bị hư hại. 

11 giờ 25 sáng 19-01-1974, cách xa khoảng 8 đến 10 hải lý, xuất hiện một chiến hạm của Trung cộng, được trang bị mỗi bên một dàn phóng kép hỏa tiễn loại hải hải (Ghi chú của Trần Đỗ Cẩm: đây là loại khinh tốc đĩnh Komar) đang tiến vào vùng giao tranh với tốc độ cao. Tôi cho lệnh  HQ4 và HQ5 ra khỏi vùng Hoàng Sa, tiến hướng đông nam về phía Subic Bay.

1 giờ trưa 19-01-1974, HQ4 và HQ5 đã cách Hoàng Sa chừng 10 hải lý. Tư Lệnh Hải Quân đích thân ra lệnh cho HQ4 và HQ5 phải trở lại Hoàng Sa và đánh chìm chiến hạm của Trung cộng – nếu cần. Lệnh được thi hành ngay. Từ HQ5, tôi được thông báo HQ16 được HQ6 hộ tống về Căn Cứ Hải Quân Đà Nẵng.

2 giờ 30 chiều 19-01-1974, khi HQ4 và HQ5 trở lại Hoàng Sa. Khi còn  cách đảo Hoàng Sa chừng 1 giờ rưỡi hải hành thì HQ4 và HQ5 nhận được phản lệnh, trở về Đà Nẵng.

7 giờ sáng ngày 20-01-1974, HQ4 và HQ5 về tới Căn Cứ Hải Quân Đà Nẵng an toàn. HQ16 đã về bến trước đó không lâu...

XNV.- Thưa cô, với trận chiến thư hùng này, không thể nào chỉ với khoảng thời gian ngắn như thế này mà nói hết được. Thường thường các quân binh chủng khác của Quân Lực VNCH có những trận đánh hào hùng trên rừng, ở giới đầu chiến tuyến như Khe Sanh, Hạ Lào, cổ thành Quảng Trị v...v...nhưng với Hải Quân, thì, ngoài việc phòng thủ, bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa, cô có thể cho biết sự tham gia của Hải Quân VNCH trong những trận chiến khác của Quân Lực VNCH hay không ạ?

 ĐML.- Kính thưa quý thính giả và thưa cô, sự tổ chức của Hải Quân VNCH – về hành quân – gồm có hai lực lượng chính yếu: Hành Quân Lưu Động Sông và Hành Quân Lưu Động Biển. Trận Hải Chiến Hoàng Sa do Lực Lượng Lưu Động Biển chủ động. Lực Lượng Hành Quân Lưu Động Sông chỉ huy những đại đơn vị tác chiến của Hải Quân hoạt động trên sông, như: Giang Đoàn Xung Phong, Lực Lượng Thuỷ Bộ (danh xưng khác là Lực Lượng Đặc Nhiệm 211), Lực Lượng Tuần Thám (còn được gọi là Lực Lượng Đặc Nhiệm 212), Lực Lượng Trung Ương (danh xưng khác là Lực Lượng Đặc Nhiệm 214), Giang Đoàn Ngăn Chận, Giang Đoàn Tuần Giang.

 Hoạt động của những đơn vị tác chiến Hải Quân khác, tôi không biết thỉ tôi không nói. Tôi chỉ xin nói qua về những đơn vị mà ông Minh đã phục vụ và tôi đã tháp tùng hành quân, được không ạ?

 XNV.- Vâng, mời cô.

ĐML.- Thời lượng đã được ấn định, tôi chỉ xin tóm tắt. Khi ông Minh chỉ huy Duyên Đoàn 26, hậu cứ tại đảo Bình Ba, Cam Ranh, Duyên Đoàn 26 có nhiều đụng độ với Việt cộng tại bán đảo Vĩnh Hy, cố vấn Mỹ của Vùng II Duyên Hải bị thương. Trong những cuộc tuần tiểu, Duyên Đoàn 26, hai lần, bắt được hai ghe của Việt cộng, bên trên ngụy trang ghe câu; nhưng bên dưới chứa rất nhiều vũ khí nặng.

 Khi ông Minh chỉ huy Giang Đoàn 30 Xung Phong, hậu cứ tại Thị Nghè, Saigon, có nhiều đụng độ với Việt cộng trong các chiến dịch dài hạng, gọi là Hành Quân Tam Giác Sắt.

 Giang Đoàn 30 Xung Phong tham dự cuộc Hành Quân Tam Giác Sắt thứ II, khởi động ngày 09 tháng 01 năm 1967.

Lực lượng Hải-Quân sau đây được đặt dưới sự chỉ huy của – sĩ quan thâm niên hiện diện – Hải-Quân Đại Úy Hồ Quang Minh:

 Giang Đoàn 30 Xung Phong, Chỉ Huy Trưởng là Hải-Quân Đại Úy Hồ Quang Minh.

10 chiến đỉnh và một sĩ quan do Giang Đoàn 24 Xung Phong tăng phái

8 giang đỉnh và một sĩ quan do Đại Đội Tuần Giang tăng phái  

 Các đơn vị Hoa-Kỳ tham chiến:

 Một Lữ Đoàn của Sư Đoàn 1

Một Lữ Đoàn của Sư Đoàn 25

Lữ Đoàn 173 Nhảy Dù

Thiết Đoàn 11

Với sự tham dự của pháo đài bay B-52. (1)

 Bằng sự quyền biến và liều lĩnh đầy mưu lược của một sĩ quan ngành chỉ huy, ông Minh đã chuyển đơn vị Hải-Quân từ thế thủ sang thế công và đem chiến thắng vẻ vang về cho quân bạn và Giang Đoàn 30 Xung Phong.

 Sau chiến thắng Hành Quân Tam Giác Sắt II, đích thân Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu viếng thăm, ủy lạo và gắn huy chương cho binh sĩ. Riêng ông Minh được gắn Bảo Quốc Huân Chương với nhành dương liễu và được Đài Phát Thanh Quân Đội phõng vấn. Từ đó ông Minh được tặng danh xưng “Người Hùng Tam Giác Sắt”.

 Năm 1968, Giang Đoàn 30 Xung Phong giữ an ninh dài hạn cho vùng Bình Điền/Chợ Lớn. Chính trong thời điểm này tôi mới thấy được sự “can cường rất dã man” của csVN!

 XNV.- Cô vui lòng nói rõ hơn.

 ĐML.- Sau khi bị csVN bất ngờ vi phạm Hiệp Định ngưng bắn vào dịp Tết Mậu Thân, sự canh phòng quanh các khu quân sự của VNCH và Hoa Kỳ được tăng viện và trở nên nghiêm nhặt hơn bao giờ hết! CsVN biết rằng khó lòng tấn công các yếu điểm này; cho nên, csVN bắt trẻ em và phụ nữ dàng hàng ngang, đi phía trước – để quân của VNCH và đồng minh không dám bắn – còn Việt cộng và “bộ đội ông Hồ Chí Minh” lom khom đi phía sau. Khi nhóm trẻ em và phụ nữ đến gần các căn cứ quân sự, đồn, bót, “bộ đội ông Hồ” và Việt cộng mới bắn vào mục tiêu! Khi đạn của hai bên “đan” vào nhau thì chỉ có Trời mới có thể che chở cho đám trẻ em và các phụ nữ xấu số đó!

Khi thuyên chuyển đến Giang Đoàn 26 Xung Phong, hậu cứ tại Long Xuyên, ông Minh chỉ huy Giang Đoàn 26 Xung Phong và cũng có nhiều đụng độ tại biên giới Việt Miên, sông Trèm Trẹm, sông Cái Lớn, Kinh Ngang, xã Hộ Phòng, quận Gò Quau... Ông Minh bị B40 tại Kinh Ngang.

 XNV.- Sau đây, chúng tôi xin được đọc một đoạn văn của nhà văn Điệp Mỹ Linh phản biện nhà báo Bill Hayton – làm việc cho đài  BBC – về bài nhận định thiếu trung thực của Bill Hayton.

 Góp Ý Với Bill Hayton về Trận Hải Chiến Hoàng Sa, 19-01-1974

 ... Bất ngờ, được website truclamyentu chuyển đến một bài dịch từ bài viết của ông Bill Hayton, tôi nhận thấy có vài điều tôi muốn viết để góp ý. 

Tôi nghĩ, khi đề cập đến một trận chiến – chứ không phải viết lịch sử – người ta thường nhìn vào tinh thần chiến đấu của người lính tham gia trận chiến đó và phản ứng thức thời, thích nghi của cấp chỉ huy của trận chiến đó. Còn nếu chỉ nhìn cuộc chiến đó bằng kế hoạch hành quân và những “tai nạn” – như Bill Hayton đã nêu ra trong bài của ông ấy – khi khói lửa ngập trời mà không hề đề cập đến tinh thần của binh sĩ thì đó là một cách nhìn thiếu công bằng.

 Tôi được hiểu rằng: Kế hoạch hoặc phương án hành quân và lệnh hành quân lúc nào cũng được bảo mật; sĩ quan thuộc cấp có thể biết một vài phần nhưng hạ sĩ quan và lính thì không được phép biết. Vì lẽ đó, những Người Lính VNCH đã tham chiến trận Hải Chiến Hoàng Sa ngày 19 tháng 01 năm 1974 – cả Địa Phương Quân/Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến – khi trở về đất liền được chào đón như những vị anh hùng là hoàn toàn hợp lý; bởi vì, Người Lính chỉ biết tuân lệnh, xã thân vào trận chiến vì tinh thần yêu nước, muốn bảo vệ quê hương chứ Người Lính không thể lựa chọn và cũng không cần biết ai phát họa phương án hoặc kế hoạch hành quân; phương án hoặc kế hoạch hành quân đó tốt hay xấu, có lợi hay bất lợi; phương án hoặc kế hoạch hành quân đó là một thảm họa hay là một khúc khải hoàn ca!

 Cả thế giới đều biết, trận Hải Chiến giữa Hải-Quân VNCH và Hải Quân Trung cộng là một cuộc chiến không cân sức, như là "châu chấu đá xe". Thế mà Hải Quân VNCH vẫn chấp nhận chiến đấu để quân cướp Trung cộng biết rằng VNCH là chủ của Hoàng Sa – nghĩa là Hải-Quân VNCH cũng như Chính Phủ VNCH tự "rước" thảm họa (chữ của người nào dịch bài báo của Bill Hayton). Đó là tinh thần dũng cảm của Quân Lực VNCH, tác giả và mọi người – nhất là người Việt Nam – cần phải ghi nhận một cách trân trọng và nêu cao...

 ... Bill Hayton viết rằng: “…chính quyền Sài Gòn phải tham chiến với một nền kinh tế hầu như bị tê liệt…” 

Đúng! 

Vào thời điểm Hải Chiến Hoàng Sa, Chính Phủ VNCH với nền kinh tế hầu như bị tê liệt (chữ của Bill Hayton) và Người Lính VNCH chiến đấu trong điều kiện cạn kiệt vũ khí (chữ của Điệp Mỹ Linh); vì Hoa Kỳ không còn viện trợ vũ khí cho miền Nam Việt Nam nữa! Thế mà Chính Quyền VNCH và Người Lính VNCH vẫn “…Thù nước lấy máu đào đem báo…” (lời ca bài Quốc Ca VNCH). Tư cách như vậy, tác phong như vậy và tinh thần yêu nước như vậy phải được ghi nhận một cách công bằng và trang trọng, thưa ông Bill Hayton!...

 XNV.- Thưa cô khi viết đoạn văn này cảm giác của cô như thế nào?

 ĐML.- Tôi rất tức giận.

 XNV.- Là phu nhân của một sĩ quan cao cấp Hải Quân, xin cô cho biết tâm sự khi chứng kiến những trận thư hùng của hải quân và cô có cảm tưởng gì về người lính Hải Quân nói riêng, và người lính VNCH nói chung?

 ĐML.- Kính thưa quý thính giả và thưa cô, để trả lời câu hỏi của cô, tôi xin trích một phần trong bài Nỗi Niềm của Người Vợ Lính. Đoạn ấy như thế này: “Từ ngày trở thành vợ của một ‘ông Hải Quân’ và được tháp tùng những cuộc hành quân hỗn hợp với các quân, binh chủng bạn, tâm nguyện của tôi là: Viết về những chiến tích có thật, sự dũng cảm có thật và những anh hùng có thật trong cuộc chiến giữa người Lính VNCH và người lính của đảng cộng sản Việt Nam (csVN) ... 

...Năm 1974, Hải Quân VNCH cùng một số Địa Phương Quân, Người Nhái, Thủy Quân Lục Chiến, v.v… đã chống lại sự xâm lăng của Trung cộng tại Hoàng Sa. Tôi rất hãnh diện về sự kiện đó; vì trong đời tôi, Hải Chiến Hoàng Sa là cuộc chiến đầu tiên mà người Lính VNCH cùng thời đại với tôi đã hiên ngang chiến đấu chống lại sự xâm lược của ngoại xâm Trung cộng – kẻ thù truyền kiếp của người Việt Nam yêu nước – vào vùng lãnh hải của miền Nam Việt Nam.

Sau khi niềm hãnh diện trong tôi lắng xuống, bình tâm trở lại, bản tính ngay thẳng trong tôi bừng lên và tôi nhận ra, trong tim tôi, tất cả quân nhân Quân Lực VNCH đều có cùng một vị thế rất đặc biệt và bình đẳng. Bất cứ một người Lính của quân binh chủng nào bị thương hoặc tử trận, lòng tôi cũng ngậm ngùi và biết ơn. Lòng biết ơn của tôi đối với Thương Binh VNCH được thể hiện một cách trực tiếp và âm thầm – với sự hỗ trợ của các con tôi – trong mấy mươi năm qua. Lý do tôi viết nhiều về Hải Quân VNCH không phải tôi thiên vị Hải Quân VNCH mà chỉ vì tôi không biết, không hiểu nhiều về các quân binh chủng khác thuộc Quân Lực VNCH...

 XNV.- Tiếp theo,mời quý vị theo dõi một đoạn văn khác của nhà văn ĐML:  Xin trích một đoạn trong bài Người Lính Mỹ: “... Đối với tôi, cảnh lửa đạn trên sông hoặc dọc bờ sông, vào ban đêm, mang nặng tính chất hào hùng và bi thảm. Nhưng, hình ảnh và tiếng hát nghẹn ngào của Hải Quân đại úy Ashmore nơi mũi chiếc Command vào một đêm trăng, trên sông Cái Lớn, lại cho tôi hiểu thế nào là thương nhớ, thế nào là cô đơn, thế nào là bơ vơ, lạc lõng của một người lính chiến phải xa quê hương cả nửa vòng trái đất!

Gần nửa thế kỷ qua, không thể nào tôi nhớ được tựa đề của ca khúc mà Ashmore thường hát trên những dòng sông nhuộm máu. Nhưng giọng hát đầy u uẩn và bóng dáng đơn độc của Ashmore nơi mũi chiếc Command thì mãi hoài đọng lại trong hồn tôi!...”

XNV.- Thưa cô, với cuốn “Hải Quân Ra Khơi” cô đã gởi những tâm tình gì trong đó cho nguời Việt và đặc biệt như giới trẻ tụi cháu?

 ĐML.- Kính thưa quý thính giả và thưa cô, Hải Quân VNCH Ra Khơi, 1975 là một cuốn tài liệu lịch sử, nhiều nhân chứng còn sống. Tôi quan niệm, khi viết truyện, tác giả có thể gửi gấm tâm tình của tác giả vào truyện; nhưng khi viết tài liệu thì chỉ có sự thật mà thôi.

 XNV.- nhân ngày tưởng niệm Hoàng Sa và 74 tử sĩ của Hải Quân VNCH xin cầu nguyện Quốc Tổ linh thiêng phù trợ cho đất nước Việt Nam thoát khỏi ách cộng sản và đòi lại

được Hoàng Sa, Trường Sa. Mời cô gửi lời tạm biệt thính giả trước khi kết thúc chương trình.

 ĐML.- ĐML xin trân trọng cảm ơn quý thính giả đã lắng nghe; kính chào Ban Giám Đốc Saigon Dallas Radio và chào hai cô xướng ngôn viên duyên dáng.

 THE END

 

 

 

Tuesday, January 18, 2022

BÁC-SĨ TRONG TÙ - Tác-Giả: BS.Tôn-Thất-Sang

 

Sinh Viên Sĩ Quan Quân Y thời Việt Nam Cộng Hoà

 

Crack!

Tiếng cơ bẩm đẩy viên đạn lên nòng súng nghe gai nhọn và lạnh lùng như tiếng gằn giọng của tử thần! Một luồng cảm giác ớn lạnh chạy dọc xương sống, làm toàn thân tôi nổi ốc. Tôi chưa kịp định thần thì một giọng nói chát chúa vang lên:

- Ðứng lại, không tôi bắn!

Tôi vội vàng cố khép hai vạt áo mưa đang phần phật bay trong gió, quay mình lại. Một tên "Cán bộ" sát khí đằng đằng lạnh lùng chĩa mũi súng vào tôi và nhìn tôi không chớp mắt. Tôi vội nói:

- Báo cáo Cán bộ, tôi, Y tế trại, đi cấp cứu.

- Vậy đèn đóm đâu hết?

- Bị gió lùa mới tắt!

Tên Cán bộ nhìn tôi gằn giọng:

- Lần sau đi không có đèn thì tôi bắn! Thôi anh đi đi!

Tôi gật đầu chào nó, vội quay đi mà lòng còn ấm ức.

Tôi đi trong cái lạnh và cô đơn vô cùng của đêm khuya ở trại Z 30D Hàm Tân, khoảng 2, 3 giờ sáng, giữa hai hàng cây so đũa đưa đẩy cùng bóng tối, đang chập chờn uốn éo và cất tiếng hú xào xạc dưới cơn mưa lất phất nghe như tiếng rên xiết thở than của linh hồn những người tù ở trại đã bỏ mình quá nhiều vì bệnh tật, vì lao động khổ sai! Tôi thốt nhiên rùng mình xốc lại túi cứu thương nặng trĩu một bên vai, hai tay khép chặt tà áo mưa cúi mình rảo bước.

Xa xa, lẫn trong tiếng gió, văng vẳng tiếng la lớn của một tù nhân:

- Báo cáo Cán bộ, buồng 9 có người bệnh nặng, xin cấp cứu!

Tiếng kêu được lập đi lập lại nhiều lần, thống thiết, khẩn cầu và khổ sở nhưng chứa chan tình đồng đội. Tôi chạy vội lại hướng đó.

Đêm khuya lắm rồi, trời lạnh thấu xương, cả trại Hàm Tân đang đắm chìm trong giấc ngủ đầy giá buốt và ác mộng, một giấc ngủ dật dờ không đầy giấc để tờ mờ sáng hôm sau, nghe kẻng báo thức, tất cả lại phờ phạc thức dậy, lại đi lao động, lại kéo dài cuộc sống khổ sai!

Đến buồng 9, qua chấn song sắt của khung cửa hẹp, tôi thấy một số anh em còn thức, ngồi quây quần ở bục xi măng cuối phòng. Dưới ánh đèn le lói, khoảng giữa một số mùng đã được cuốn lên nhăn nhúm, có một thân hình bọc kín trong hai ba lớp chăn đang run lên từng chập, cất tiếng rên hừ hừ giữa hai hàm răng đánh lập cập. Mọi người chung quanh đang lo lắng, kẻ thoa dầu, người bắt gió. Trông thấy tôi, ai nấy đều thở phào, nhẹ nhõm:

- Y tế đến rồi, yên tâm đi, có gì thì khai với Bác sĩ.

Tôi vội hỏi người trưởng buồng:

- Ai bệnh vậy, anh Ngọc?

- Anh Loan đó anh.

Mọi người chung quanh vội đẩy anh Loan đến sát bờ cửa sổ vì cửa chính đang bị đóng kín với vòng xích sắt khổng lồ được khóa bằng một khóa Virex to tổ bố. Trong lúc đó, tôi cởi áo mưa, ngồi xổm xuống, mở túi cứu thương, lùa tay qua chấn song, kẹp nhiệt người bệnh, sờ trán thấy nóng như lửa, tốc mền bệnh nhân ấn chẩn, thấy đau vùng gan lách, bắt mạch thấy nhanh, đều, đọc nhiệt kế thấy 40 độ C. Tôi bảo bệnh nhân ngồi dậy để nghe tim, phổi, không có tiếng thổi bệnh lý, tuy nhịp có nhanh hơn vì đang sốt. Bệnh nhân khai sốt về chiều, rét run và đổ mồ hôi, ăn không ngon, miệng đắng, nhức đầu.

Tôi trấn an anh Loan, bảo anh đang lên cơn sốt rét và sau khi ra mồ hôi, thân nhiệt sẽ hạ và khỏe lại, không có gì đáng ngại. Tôi nhờ anh em vén cao tay áo anh Loan, làm garrot và dưới ánh đèn leo lét, tôi vỗ, vuốt, nắn, tìm veine mediane và chích ống Quinoserum vào tĩnh mạch một cách nhẹ nhàng và đầy kinh nghiệm, cái kinh nghiệm đắng cay và đầy linh động tính của một thầy thuốc trong trại tù thường khi phải hành xử những thủ thuật Y khoa trong mọi điều kiện thiếu thốn về vệ sinh, thuốc men, y cụ...

Mỗi lần phải cấp cứu trong đêm khuya, thường phải chẩn bệnh qua song sắt, mà khi chích thuốc, anh em tù nhân thường phải đứng nhón mông lên đúng giữa hai chấn song, và thầy thuốc định vị xong cũng phóng kim nhanh như chớp. Cái khó là chích gân (veine) qua khe cửa vì lấn cấn, tuy nhiên lâu ngày cũng quen dần nên mọi sự vẫn trôi chảy.

Chích thuốc xong, tôi đưa thêm anh Loan vài viên Quinine, Perymethamine và một viên an thần. Dặn anh cách sử dụng xong tôi về Phòng y tế. Trong giấc ngủ chập chờn, tôi mơ hồ nhớ lại hồi ở trại miền Trung.

Hồi ở trại Tiên Lãnh, tù nhân có ba Bác sĩ là các anh Phùng Văn Hạnh, Vương Ngọc Lâm và tôi. Tuy nhiên, trại bảo chúng tôi là thành phần trí thức Tiểu tư sản nguy hiểm nên cả ba anh em chúng tôi không ai được làm Y tế. Tên trại trưởng chỉ định một anh cán sự Y tế (anh Hiển) lên làm Y tế trại để định bệnh và trị bệnh cho hàng ngàn tù nhân. Anh Hiển làm việc rất tận tâm và cũng được anh em thương mến, tuy nhiên vì bệnh nhân quá nhiều và có những trường hợp vượt quá khả năng của một Y tá nên thỉnh thoảng vẫn có những vấn đề nghiêm trọng xảy ra. Trong khi đó thì những Bác sĩ vẫn phải đi lao động khổ sai!

Anh Phùng Văn Hạnh đi nhổ mạ, tăng gia sản xuất. Anh Vương Ngọc Lâm theo đội 11 lên rừng đốn củi, một công việc rất nặng nhọc và theo chỉ tiêu tăng dần.

Có bữa đi lao động ngoài, gặp Lâm. Nhìn anh trong bộ Treillis tơi tả, lưng đeo túi cải thiện (vỏ đựng mìn Claymore), tay xách lon gô (Guizgo), vai vác cây rựa cùn, mặt mày đen nhẻm, tôi cười bảo: Sao, ngày nay lại lên rừng khám bệnh cho khỉ à? Anh nhìn lại tôi, nói: Anh lại ra ruộng nghiên cứu chất Heparine chống đông máu à? (chất của đỉa tiết ra làm loảng máu để dễ hút). Hai thằng chua chát cười xòa rồi tôi vội đi nhanh cho kịp đội ra ruộng đàn piano - mò cỏ lúa - làm bạn với đỉa, với ếch nhái và rắn nước.

Bầu trời xanh lồng lộng gió nhưng tôi không thấy bầu trời theo hướng bình thường mà chỉ thấy một bầu trời đục nhờ nhợ, nhăn nhó lộn ngược phản chiếu trong mặt nước đục ngầu tanh tưởi dưới chân tôi. Tất cả bọn tù đều chổng mông, đầu cúi xuống, hai tay khuấy, mò, rứt những chòm cỏ mọc gần thân lúa. Thỉnh thoảng chớp được con nhái con ếch thì reo mừng cho vào túi cải thiện. Nếu gặp được bầy dế nhủi thì thật là béo bở. Chúng tôi đàn piano suốt ngày, khi nghe kiểng bãi, mừng rỡ bước lên bờ thì mặt nặng, chân phu, sưng vì dồn máu, lưng chồn gối mỏi, đĩa đeo đầy kẻ móng chân, có vài con lại mò lên hút máu gần chỗ bí hiểm, ngứa ngáy cùng mình, cảm thấy cuộc đời tù tội là cả một chuỗi ngày dài thê thảm và quá ảm đạm!

Một thời gian sau vì tù nhân chết quá nhiều, giao mùa Hè - Thu là thời gian sốt rét hoành hành song song với cường độ lao động căng thẳng thi đua sản xuất để thu hoạch vụ mùa. Tù nhân đi lao động mà như đang đi vào cõi chết, lừ đừ, mệt nhọc, tay chân làm mà tai chỉ lóng nghe tiếng kẻng bãi! Tai nạn lao động xảy ra liên miên: người bị tre đâm, kẻ bị sập nhà, người bị rắn cắn, kẻ bị cây đè, có bữa anh em lại đạp phải mìn bị thương nhiều người nên trại phải điều động Bác sĩ Hạnh lên phụ trách Y tế. Anh nguyên là Thiếu tá BS, trưởng Khoa xương ở bệnh viện Ða Khoa và Giám đốc một Bệnh viện tư ở Đà nẵng. Anh làm việc tận tụy bất kể ngày đêm. Việc anh khoái nhất là nhổ răng cho anh em và các tiểu phẩu; (BS Giải Phẩu, nên thấy máu là nhớ nghề lắm).

Trong thời gian đó anh Lâm bị tai nạn lao động vì khiêng cây quá nặng, vấp té ngồi trên một chồi cây đã vót nhọn làm rách toát hậu môn máu tuông xối xả. Anh em vội cõng về Bệnh xá cấp cứu và chính B.S. Hạnh đã khâu nhiều lớp trong ngoài rất đẹp và rất thành công. Một thời gian sau anh Lâm cũng được điều lên Bệnh xá. Tuy nhiên sau đó ít lâu thì nghe nói hai anh Hạnh và Lâm bị chế tài phải ra lao động lại vì phát biểu linh tinh.

Tôi, sau một thời gian lao động chết bỏ, cũng được điều lên Na Sơn, trại lẻ cách đó mười tám cây số đường núi, làm Y tế. Ở trại này là nơi sơn cùng thủy tận, đầy sương lam chướng khí, đêm đêm trong cái lạnh tê người, nằm nghe tiếng suối chảy róc rách lẫn với tiếng thác dội ì ầm, tiếng chim gõ mõ, thỉnh thoảng lại vang lên tiếng bóp bóp, bóp thì bóp của đôi chim đỗ quyên suốt đêm cô đơn đi tìm nhau mà hừng sáng là chấm dứt: một chuyện tình, một lời nhắn gọi đầy bi thảm, quyến luyến, thi vị và đầy kịch tính.

Có một lần, trong đêm, cả trại hầu như thức dậy xôn xao, sợ hãi vì một tiếng gầm rung chuyển cả núi rừng. Tiếng của chúa sơn lâm, đang giận dữ tìm mồi lẩn quẩn đâu đây gần doanh trại. Tôi rùng mình mơ màng, không tin rằng mình đang ở hậu bán thế kỷ 20, gần đầu thế kỷ 21, thời gian mà nền khoa học vũ trụ đang phát triển tột đỉnh với những trạm không gian có người ở, với hệ thống vệ tinh và những tàu con thoi tuyệt hảo mà thân phận những tù nhân Việt Nam phải còn ở nơi rừng xanh núi thẳm làm bạn với rắn rít, với hổ dữ, một kiếp sống nô lệ không tương lai, một cuộc sống cô lập với thế giới bên ngoài, hoàn toàn bị bưng bít sau bức màn sắt.

Ở trại tù, tình trạng lao động nặng, lại thêm suy dinh dưỡng của anh em đã đến cực độ, thân mình chỉ còn da bọc xương, hoặc phù thũng vì thiếu ăn, thiếu sinh tố.

Anh em bị bệnh sốt rét rất nhiều (tôi cũng trải qua mấy cơn), kế đến là lao phổi, kiết lỵ, dạ dày, gan, thấp khớp và tim mạch, v.v. và v.v... Thuốc men giới hạn, thiếu ăn, đói khát, nên có lần tôi phải xin Cán bộ chăn nuôi cho một ít cám heo (thường hàm chứa một số Vitamine B1) để phát cho anh em quá suy dinh dưỡng đang bị phù thủng. Nhìn anh em nhận lon cám heo, đôi mắt rực sáng sung sướng tôi không khỏi ngậm ngùi nghĩ đến cái nhân vị con người ở mức độ không thường dưới chế độ Cộng sản.

Trong trại tù, đau răng là một bệnh hầu như mọi người đều mắc phải. Theo thống kê, đau răng khi lên cơn nhức thường có cường độ cao hơn khi đau đẻ. Khi chịu không nổi, anh em thường nhờ tôi nhổ (cũng nhờ tôi thưòng xem BS. Hạnh nhỗ cho các bạn tù, chính tôi cũng được anh nhỗ cho ba cái răng sâu). Tôi soạn dụng cụ nhổ răng gồm có hai thanh sắt nhỏ dẹp đầu, một cái dùng để nạy (tôi thường gọi là thanh xà beng), một cái sắc cạnh hơn dùng để tách và rọc nếu răng. Ngoài ra còn có một cây kềm mỏ cong như mỏ chim ưng, để nhổ.

Thấy tôi bày đồ ra anh em cứ tưởng tượng là dụng cụ sửa xe đạp thì hết hồn. Nhưng sau khi nấu sôi dụng cụ cùng với bông gòn để sát trùng, chích thuốc tê, tiếp đó bảo bệnh nhân ngồi trên chiếc ghế, dựa lưng sát tường, đầu ngẩng cao, lại nhờ một anh bạn mạnh bạo giữ thật chặc đầu bệnh, không cho lắc! Sau đó tôi dùng thủ thuật róc, tách nướu ra và lấy kềm mỏ cong (nhờ thợ rèn trong trại làm) kẹp chính xác, nhổ răng ra nhẹ nhàng thì anh em như cất được gánh nặng cám ơn rối rít. Có nhiều lúc, vì răng cấm quá chắc nên thầy thuốc, bệnh nhân cùng người kềm giữ đánh vật với nhau gần nữa tiếng mới xong, và cả ba đồng cưòi xoà và thở ra nhẹ nhỏm! Vì vậy, hầu như ngày nào cũng có người đăng ký nhổ răng.

Có những khi trại hết thuốc tê mà anh em đau quá, tôi phải dùng nước cất chích vào nướu răng để bệnh nhân yên trí là có thuốc tê (Phương pháp dùng thuốc tâm lý placebo) và tôi cũng nhổ được răng mà người bệnh quả nhiên không thấy đau bao nhiêu.

Có một thời gian thuốc thông thường, trụ sinh đều thiếu trầm trọng, Cán bộ Y tế chỉ cho được vài chai Xuyên tâm liên và quảng cáo đó là thuốc trị bá bệnh của nhà nước ta, vì vậy, đau đầu, nhức răng, khó ngủ, đau bụng, nhiễm trùng... tất cả đều được cấp phát Xuyên tâm liên mà sau này tôi gọi đùa là Xuyên tâm tiễn.

Có đôi lúc khâu vết thương rách toạt vì tai nạn lao động mà không có kim mỗ, tôi phải lấy kim may và chỉ may quần áo nấu sôi sát trùng và khâu vết thương, cho thêm trụ sinh và cắt chỉ năm hay bảy ngày sau.

Tóm lại, làm Y tế trại tù là phải quyền biến, thường phải dùng xuyên tâm trị liệu kết hợp với vật lý trị liệu, tâm lý trị liệu, cùng với thuốc tây, thuốc nam (cỏ mực để cầm máu, vỏ cây xoài để trị nhức răng, lá ổi nấu nước uống để cầm tiêu chảy...) Phải biết làm thầy mằn để trị bong gân, trật xương, phải biết châm cứu để trị đau lưng, mất ngủ, di tinh... Vì vậy tôi nhắn người nhà gởi lên cuốn châm cứu thực hành của cụ Thượng Trúc để biết thế nào là nhâm mạch, đốc mạch cùng 12 đường huyệt đạo chính trên cơ thể: thủ thái âm, thủ thiếu âm, túc khuyết âm, túc thiếu dương... hiểu thế nào là bá hội huyệt, phong phù, phong trì, thiếu dương, quan xung, đan điền v.v...

Cũng nhờ vậy mà tôi biết những tay viết kiếm hiệp thường dùng từ đả thông huyệt nhâm đốc, sinh tử huyền quan, kinh kỳ bát mạch và những tay xạo có hạng thường chế thêm ra chưởng thế này thế nọ, dùng cách không điểm huyệt cách sơn đả ngưu, câu hồn đại nã di tâm pháp. v.v... là cũng dựa vào tên các huyệt đạo này để lòe độc giả, làm mọi người say mê đến quên ăn bỏ ngủ một thời (trong đó cũng có tôi).

Hơn 12 năm trời rồi cũng trôi qua, lần tay đếm lại thấy số đậu trắng rất nhiều mà số đậu đen hầu như rất ít. Mừng, vì mình làm đuợc nhiều việc hữu ích cho anh em, 12 năm trời qua đi như một giấc mộng đớn đau ở chín tầng địa ngục, bây giờ mới thấy ánh bình minh!

Cuối cùng tôi cũng hết hạn tù, ra về với tâm hồn thanh thản vì đã sống được một cuộc sống đẹp và hết lòng với anh em, một cuộc sống không chút bợn nhơ, được anh em thương mến. Tôi ra về, anh em chào giã từ trong thương yêu và ngậm ngùi, có một vài bác già, bệnh nặng kinh niên, khi tôi về các bác mừng cho tôi nhưng lại lo lắng vì không biết ngưòi kế tiếp có nắm vững bệnh lý của các bác mà chữa trị không?! Tôi trấn an và bồi hồi chào giã biệt các bác.

Trên đường ra khỏi cổng trại, ngoảnh mặt lại, bùi ngùi vẫn thấy anh em vẫn lao động miệt mài khổ ải ở hiện trường, tôi bâng khuâng đưa tay vẫy anh em một lần nữa, anh em lưu luyến khẻ vẫy tay chào lại và trong ngấn mắt mờ lệ, tôi thoáng nhớ đến câu nói của một Văn sĩ nào đó: "Trại tù không phải là nơi anh ăn ở suốt đời, sẽ có một ngày nào đó anh sẽ được trở về với gia đình, với xã hội. Ðiều quan trọng là anh ăn ở làm sao mà khi ra đời, gặp lại bạn tù, người ta vui vẻ chào anh, mời anh một điếu thuốc, chứ đừng để cho người ta phải tránh né anh, hoặc nhổ vào mặt anh một bãi nước miếng!".

Tôi tự nhiên cảm thấy sung sướng thật sự vì mình đã không nằm ở vế thứ hai .