Friday, July 1, 2022

Bộ ảnh về Trường Bộ Binh Thủ Đức – 1 trong 6 trường đào tạo sĩ quan cho QL.VNCH khi xưa

 .

 



 


 

Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức hoặc Liên trường Võ khoa Thủ Đức hay còn gọi là Trường Bộ  Binh Thủ Đức (đầu tiên ở Thủ Đức, đến cuối năm 1973 thì chuyển đến Long Thành) là một trong sáu trường đào tạo sĩ quan cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cùng với Trường Võ bị Quốc gia, Đại học Chiến tranh Chính trị ở Đà Lạt, Trường Sĩ quan Không quân, Trường Sĩ quan Hải quân và Trường Hạ sĩ quan Đồng Đế ở Nha Trang.  

Trường Thủ Đức hoạt động từ năm 1951 đến năm 1975.

Ngày 15 tháng 7 năm 1951 Quốc Trưởng Bảo Đại ký sắc lệnh kêu gọi tổng động viên: Thanh niên tuổi từ 18 đến 28 đều phải nhập ngũ. Những người có bằng từ Cao đẳng Tiểu học trở lên sẽ nhập học khóa sĩ quan trừ bị.

Vào thời điểm này Chính phủ Quốc gia Việt Nam tổ chức 2 vị trí để thành lập Trường sĩ quan trừ bị: miền Bắc lập trường tại Nam Định gọi là Trường sĩ quan trừ bị Nam Định và miền Nam lập tại Thủ Đức gọi là Trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức (trường Thủ Đức được xây dựng trên đồi Tăиg Nhơn Phú, xã Linh Xuân Thôn, Quận Thủ Đức, Tỉnh Gia Định, Hiện nay là phân hiệu trường ĐH GTVT cơ sở 2). Cả hai trường đều tuyển sinh và khai giảng khóa học đầu tiên cùng thời gian: 1 tháng 10 năm 1951. Khóa 1 Nam Định mang tên Lê Lợi và khóa 1 Thủ Đức mang tên Lê Văи Duyệt.

Qua năm 1952, trường Nam Định được lệnh giải tán và sáp nhập vào với trường Thủ Đức. Cũng từ thời điểm này, thí sinh trên toàn Quốc gia nhập ngũ vào sĩ quan trừ bị đều vào học tại Trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. 

 

Từ khóa 1 đến khóa 5, tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu uý, trường hợp thi tốt nghiệp với số điểm thấp hơn quy định thì ra trường mang cấp bậc Chuẩn úy hoặc Trung sĩ (hạ sĩ quan). Thiếu úy sau 2 năm được đương nhiên thăиg cấp Trung úy và Chuẩn úy sau 18 tháng được thăиg cấp Thiếu úy.

Từ khóa 6, khóa sinh tốt nghiệp chỉ mang cấp bậc Chuẩn úy. Sĩ quan xuất thân từ khóa này trở về sau, không được áp dụng tiêu chuẩn lên cấp tướng. Cho nên, sau này chỉ thấy cấp cao nhất là cấp Đại tá (Ngoại trừ trường hợp được xét chuyển qua ngạch hiện dịch sẽ được hưởng quy chế lên tướng. Ngoài ra, các quân nhân xuất thân từ trường Thiếu sinh quân và 4 khóa sĩ quan hiện dịch đặc biệt thụ huấn ở Trường Hạ sĩ quan Đồng Đế các năm từ 1959-1963 cũng được hưởng quy chế này).

Đầu tháng 2 năm 1955, Trường gián đoạn tuyển sinh và đào tạo sĩ quan trừ bị do ảnh hưởng của Hiệp định Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954 trong điều khoản giảm trừ quân bị. Cuối tháng 2 năm 1957, Trường tái hoạt động và được cải danh thành Liên trường Võ khoa Thủ Đức.

Tháng 10 năm 1961, các trường Chuyên môn được tách ra khỏi Liên trường Võ khoa Thủ Đức (ngoại trừ 3 Trường Bộ binh, Thiết giáp và Thể dục Quân sự).

Năm 1962, phù hiệu của Liên trường Võ khoa Thủ đức gồm ngọn lửa hồng bao quanh thanh kiếm bạc trong nền xanh và được ghi thêm phương châm Cư An Tư Nguy.

 

 

Bốn chữ “Cư an tư nguy” – sống yên (không quên) lo nguy, được ghi thêm vào theo đề nghị của Đại-tá Phan Đình Thứ, tự Lam Sơn, đương kim Chỉ Huy Trưởng Trường (1962).


Nền xanh da trời: biểu-hiện sự thanh-khiết từ tư-tưởng đến hành-động và ý-chí cao-cả của thanh-niên đối với quê-hương.
Ngọn Lửa Hồng: biểu-hiện lòng dũng-cảm,chí cương-quyết, đức hy-sinh.
Thanh Kiếm: biểu hiện cho Cấp Chỉ-Huy. 

 

Câu này trích từ Hệ Từ Hạ của Khổng-тử:

“Nguy giả an kỳ vĩ giả dã

Vong giả bảo kỳ tồn giả dã

Loạn giã hữu kỳ trị giả dã

Thị cố quân-тử an nhi bất vong nguy,

tồn nhi bất vong vong

Tri nhi bất vong loạn

Thị dĩ nhân an nhi quốc gia khả bảo gia”

 

Nghĩa là:

 

“Người bị nguy là bởi cứ yên vui nơi ngôi phận mình

Bị mất là bởi chỉ tới cái hiện có

Bị loạn bởi tin cậy cái trị có sẵn,

Bởi thế, người quân-тử lúc sống yên không quên cái nguy,

còn không quên lúc mất

Khi thịnh-trị không quên cảnh loạn suy,

như vậy mới yên thân mà giữ được nước nhà”

 

Câu từ dài ấy được rút lại còn 8 chữ: “Cư an lự nguy, xử trị tư loạn” và gọn hơn nữa, 4 chữ: “CƯ AN TƯ NGUY”

 

Ngày 1 tháng 8 năm 1963, Trường lấy lại danh hiệu cũ lúc ban đầu là Trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. 

Năm 1964, Trường lãnh thêm nhiệm vụ đào tạo các cán bộ Đại đội trưởng và Tiểu đoàn trưởng (theo chương trình học, khi mãn khóa được cấp văn bằng tốt nghiệp Đại đội trưởng hoặc Bộ Binh Cao cấp). Cũng kể từ năm này các thí sinh muốn trúng tuyển vào học sĩ quan trừ bị phải có văn bằng Tú tài 1 trở lên hoặc chứng chỉ tương đương. 

Ngày 1 tháng 7 năm 1964 Trường được cải danh thành Trường Bộ Binh Thủ Đức

 

Trường đào tạo từ khóa 1 (1951) đến khóa 27 theo thứ tự từng năm nhưng khi chiến cuộc leo thang, nhu cầu đòi hỏi nhiều sĩ quan khiến số khóa tăng lên từ 2 khóa mỗi năm. Kể từ năm 1968 trở đi thì mỗi khóa được gọi là “1/68”, “2/68”, “1/69”, “2/69″….

 

Trong khuôn viên Trường có một đài tưởng niệm gọi là Trung Nghĩa Đài ghi bốn chữ “Tổ quốc ghi ơn.” Kể từ năm 1968 công việc đào tạo Sĩ quan Trừ bị của Trường Thủ Đức được bổ túc bởi Trường Hạ sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa, thường gọi là Trường Đồng Đế ở Nha Trang.

Cuối năm 1973, Trường Bộ  Binh Thủ Đức được lệnh di chuyển về Huấn khu Long Thành. 

Đến giữa tháng 4 năm 1975 lại di chuyển về Thủ Đức.

 

Trường Bộ Binh Thủ Đức giải  thể vào năm 1975, khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ. Trong thời gian hoạt động 1951-1975, Trường Thủ Đức đã đào tạo hơn 80.000 sĩ quan trong đó khoảng 4.000 sĩ quan đặc biệt.

 

Những Chỉ-huy-trưởng Việt Nam trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ-Đức
– Đại-tá Phạm Văn Cẩm
– Thiếu-tướng Lê Văn Nghiêm
– Thiếu-tướng Nguyễn Văn Chuân
– Thiếu-tướng Hồ Văn Tố
– Đại-tá Lam Sơn Phan Đình Thứ
– Trung-tướng Trần Ngọc Tám
– Thiếu-tướng Bùi Hữu Nhơn
– Trung-tướng Trần Văn Trung
– Trung-tướng Phạm Quốc Thuần
– Thiếu-tướng Lâm Quang Thơ
– Trung-tướng Nguyễn Vĩnh Nghi
– Trung-tướng Nguyễn Văn Minh
– Đại-tá Trần Đức Minh


CÁC GIAI-ĐOẠN HUẤN-LUYỆN

 
Chương-trình huấn-luyện quân-sự tại Thủ Đức nhằm đào-tạo sĩ-quan chỉ-huy trung-đội, gồm:
– Bộ Binh căn bản (18 tuần): vũ khí cá-nhân, cá nhân chiến đấu, đội hình tác chiến . . .
– Bộ Binh trung-cấp (28 tuần): Vũ khí cộng-đồng như đại-liên, súng cối 60 ly, 81 ly, súng phóng hỏa-tiễn; vượt sông,
chiến thuật, bản đồ, la-bàn, pháo binh, Chiến tranh chính trị, quân-pháp v...v...


THÀNH-QUẢ CỦA TRƯỜNG BỘ-BINH THỦ-ĐỨC
Theo niên giám của trường, trong 25 năm, các trường sĩ-quan trừ-bị đã đào tạo khoảng 55,000 sĩ-quan, trong đó khoảng 15.000 nguời biệt-phái về các ngành chuyên môn (hầu hết là giáo chức)


Các vị tướng xuất-thân từ các trường Sĩ-quan trừ-bị:

 
Khóa 1 Thủ-Đức:
-Trung-tướng Trần Văn Minh (Tư-lệnh Không-quân)
-Trung-tướng Đồng Văn Khuyên (Tổng Cục trưởng Quân-vận)
-Thiếu tướng Nguyễn khắc Bình (Tổng Giám-đốc Cảnh-Sát Quốc-gia)
-Chuẩn-tướng Phạm Hữu Nhơn
-Chuẩn-tướng Huỳnh Bá Tính


Khóa 2 Thủ –Đức:
-Chuẩn-tướng Bùi Quý Cảo (Tổng Giám-đốc Tài-chánh và Thanh-tra quân-phí)


Khóa 3 Thủ-Đức :
-Thiếu-tướng Nguyễn Khoa Nam (Tư-lệnh Quân-đoàn IV, tuẫn-tiết ngày miền Nam lọt vào tay Cộng-Sản Bắc Việt)


Khóa 4 Thủ-Đức
-Trung-tướng Ngô Quang Trưởng (Tư-lệnh Quân-đoàn I)
-Thiếu-tướng Bùi Thế Lân (Tư-lệnh Thuỷ Quân Lục Chiến)
-Thiếu-tướng Lê Quang Lưỡng (Tư-lệnh Nhảy Dù)
-Chuẩn-tướng Hồ Trung Hậu
-Chuẩn-tướng Trần Quốc Lịch.


Khóa 5 Thủ-Đức
-Chuẩn-tướng Lê Văn Hưng (Tư-lệnh phó Quân-đoàn IV, tuẫn-tiết ngày miền Nam bị cưỡng chiếm bởi Cộng Sản Bắc Việt)


Khóa 16 Thủ-Đức
-Chuẩn-tướng Cảnh Sát Trang Sĩ Tấn (Chỉ-huy-trưởng BCH Cảnh Sát Đô-thành Sàigòn)
Với 23 vị tướng và 55 ngàn sĩ-quan (số tử vong khoảng 15,000), các trường đào-tạo sĩ-quan trừ-bị đã đào tạo cho đất nước những chiến sĩ chỉ huy xứng-đáng với châm ngôn Cư An Tư Nguy, sống yên vui phải biết nghĩ tới lúc khó khăn, muốn hưởng hòa-bình phải chuẩn bị
chiến tranh.

 


 












 










SOURCE:

https://gocxua.net/sai-gon-xua/bo-anh-ve-truong-bo-binh-thu-duc-mot-trong-sau-truong-dao-tao-si-quan-cho-quan-luc-viet-nam-cong-hoa-khi-xua.html

 .

Văn Tế 15 Ngàn Cựu Sinh Viên SQTBTĐ/QLVNCH Vị Quốc Vong Thân



CHIÊU HỒN TỬ SĨ

Hồn Tử Sĩ nương theo mây gió.

Trung Nghĩa Đài khói tỏa trầm hương.

Chiêu Hồn nay lập đàn tràng,

Hiển linh xin hãy tìm đàng về đây

Hồn phảng phất lung lay đâu đó,

Ngọn đuốc thiêng mờ tỏ lung linh.

Soi đường dẫn dắt Anh Linh,

Về đây chứng giám lòng thành anh em.

Than ôi…!

Vận nước nổi trôi, trời sầu đất thảm,

Anh hùng mạt vận, thế sự loạn ly!

Bá tánh phân kỳ, cơ đồ nghiêng ngửa.

Sa trường rực lửa, chiến sĩ trận vong!

Nhớ linh xưa…!

Người Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Xông pha chiến trận.

Thề hy sinh xương máu,

Bảo vệ giang sơn nước Việt

Thề chống giặc ngoại xâm,

Quyết tâm giữ vững cơ đồ,

Nối gót Cha Ông, kế thừa hào kiệt.

Chiến công oanh liệt, Quân Sử lưu danh

Trên khắp 4 vùng Chiến Thuật

Từ Bến Hải đến Cà Mau thành tích lẫy lừng.

Ý chí đấu tranh kiên, hùng, dũng, liệt.

Tết Mậu Thân, Khe Sanh, Đắc Tô,

Cổ Thành Quảng Trị, Mùa Hè đỏ lửa,… Hợp sức diệt thù.

Tây Ninh, Đồng Xoài, Bình Giả,

An Lộc, Ấp Bắc, U Minh,…Hành quân truy quét.

Lấy chánh nghĩa chiêu hồi giặc cộng,

Khiến năm châu ngưỡng mộ,

Quốc Tế ngợi khen,

Đồng Minh nể phục,

Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị

Ngẩng mặt không thẹn với Đất Trời,

Đem lòng nhân thu phục dân Nam,

Làm cộng quân mất hồn,

Tay sai khiếp vía,

Toàn dân vinh danh.

Bọn Việt gian cộng sản Bắc phương

Gục đầu xấu hổ vì thua thiệt.

Nhưng ….than ôi!

Thời thế trớ trêu, Đồng Minh bỏ cuộc,

Miền Bắc chiếm miền Nam.

Nước mất nhà tan, dân tình khổ ải,

Kẻ ác reo mừng!

Đổi thay vận nước, anh hùng sa cơ,

Toàn quân đành bức tử.

Vận nước điêu linh, trời Nam đổ lệ,

Dân lành rên siết!

Thành đã mất, theo thành tuẫn tiết,

Danh Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng,

Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai,

Hồ Ngọc Cẩn… nêu cao Chí Khí Anh Hùng.

Nước không còn, tù đầy cải tạo,

Sĩ Quan Bộ Binh, Nhảy Dù, Biệt Động Quân,

Thủy Quân Lục Chiến, Lực Lượng Đặc Biệt,

Thiết Giáp, Pháo Binh, Địa Phương Quân,

Giữ vững Tinh Thần Hào Kiệt.

Hôm nay,

Chúng tôi toàn thể Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa,

Phủ phục dưới Quân Kỳ và Hiệu Kỳ

Đồng tâm khấn nguyện

Trước Anh Linh các vị Chỉ Huy Trưởng,

Và hơn 15 ngàn Anh Linh Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị

Đã Vị Quốc Vong Thân!

Thắp nén hương lòng, ngưỡng mộ tri ân.

Dâng rượu ân tình, đồng thanh bái tạ.

Tình Chiến Hữu,

Tương thân tương ái, mãi mãi trường tồn,

Nghĩa Đồng Môn

Son sắt một lòng, luôn luôn bất diệt

Sống làm Tướng

Giúp quê hương sớm thoát khỏi cộng sản độc tài.

Già trẻ an vui, Đất Mẹ thanh bình.

Chết làm Thần

Cứu đất nước mau phục hồi Dân Chủ Nhân Quyền.

Gái trai hạnh phúc, trời Nam sum hợp…

Hỡi ôi…!

Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,

Ngọn đuốc thiêng dẫn lối Anh Linh.

Đài tưởng niệm kính cẩn nghiêng mình

Trước 15 ngàn Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Thủ Đức

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Đã Vị Quốc Vong Thân

Nghìn thu an nghỉ.

Tổ Quốc ghi ơn anh hùng tử sĩ.

Hồn phách hiển linh về đây chứng giám.

Thượng hưởng! Hỡi hồn linh xin thượng hưởng…!

Toàn thể Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Đồng thanh bái tạ.

 

Chiêu Anh Nguyễn Vân Cư

Cựu Sinh Viên Sĩ Quan K8/68 Thủ Đức.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

.