Monday, September 15, 2025

Đối thoại với nhà văn Bảo Ninh (Trần Hoài Thư)

 

Link:

https://www.baoquocdan.org/2025/09/oi-thoai-voi-nha-van-bao-ninh.html

***

Nhà văn TRẦN HOÀI THƯ

(1942-2024) 

 

Giới thiệu: Nhân dịp cuốn phim Mưa Đỏ, trong đó có cảnh những người lính VNCH thiêu sống lính CS miền Bắc trong trận Quảng Trị 1972 gây phẫn nộ không những người lính miền Nam mà ngay cả những người cựu chiến binh CS có lòng tự trọng. Đơn giản vì đó chuyện bịa với mục đích tuyên truyền, hạ nhục quân đội VNCH.

Sách về chiến tranh Việt Nam có cả hàng ngàn cuốn và tài liệu trong các khu lưu trữ quốc gia (National Archives) chính thức của Mỹ cũng rất nhiều. Người viết đọc khá nhiều nhưng chỉ đọc những tài liệu cần để viết nên không thể hết. Nhưng qua những gì đã đọc, đã nghe, chưa bao giờ đọc hay nghe chuyện người lính miền Nam thiêu sống lính CS.

Sự kiện trong Mưa Đỏ nhắc lại một sự kiện khác tương tự trong tác phẩm Nỗi Buồn Chiến Tranh của nhà văn Bảo Ninh. Trong tác phẩm đó, nhà văn Bảo Ninh mô tả một toán thám báo VNCH vào mật khu, bắt theo 3 cô gái, hãm hiếp và sau đó giết họ rồi vất xuống sông. Nhà văn còn nêu đích danh sĩ quan chỉ huy là một Trung úy, cùng cấp với sĩ quan thám báo Trần Quí Sách, tức nhà văn Trần Hoài Thư.

Bài viết Đối Thoại Với Nhà Văn Bảo Ninh của nhà văn Trần Hoài Thư in lần đầu trong tuyển tập Đại Đội Cũ Trang Sách Cũ của anh năm 2002 với tựa Đối Thoại Với Một Nhà Văn. Khi gởi cho Talawas, 25 tháng 5, 2005, để phản biện một số chi tiết trong tác phẩm Nỗi Buồn Chiến Tranh của nhà văn Bảo Ninh vì ông đã dùng tác phẩm của mình để bôi nhọ những người lính VNCH, anh viết thẳng tên tác giả vào tựa.

Nhà văn Trần Hoài Thư viết: “Tôi đã rưng nước mắt trên những trang giấy về nỗi chán chường cùng cực của một thế hệ bị đẩy vào lò nướng, nhưng tôi không thể không phẫn nộ khi anh dùng nỗi buồn chiến tranh ấy để cố ý xuyên tạc bôi nhọ một hàng ngũ thất thế.”

Nếu Nỗi Buồn Chiến Tranh viết và in trong rừng hay ngoài Hà Nội trước 1975 hay ngay sau 1975, nhà văn Trần Hoài Thư có thể không cần phải bỏ công phê bình một tác phẩm được viết với mục đích tuyên truyền giống như hàng trăm “tác phẩm văn học” khác dưới chế độ CS. Nhưng 12 năm từ 1975, văn học đã được “cởi trói” hay ít ra nới lỏng, cánh cửa hé mở và vài tia sáng rọi vào căn nhà văn học vốn âm u. Nhà văn Bảo Ninh có dịp tiếp xúc dù chỉ mới bên ngoài với hàng trăm tác giả và hàng ngàn tác phẩm đủ loại xuất bản ở miền Nam. Không phải tác phẩm nào cũng ca ngợi chính quyền. Miền Nam dù trong chiến tranh tàn phá vẫn cố gắng vươn mình lên với bầu trời tự do dân chủ của nhân loại. Sau 12 năm, nhận thức của nhà văn Bảo Ninh lẽ ra cũng lớn lên theo thời gian. Những dữ kiện ông viết lẽ ra phải được kiểm chứng qua giao tiếp, học hỏi, thăm dò trước khi in.

Bà Margaret Mitchell dành 10 năm để hoàn tất Gone with the Wind, nhưng trước khi in bà còn dành thêm 6 tháng nữa để kiểm chứng lại các chi tiết lịch sử mà bà dùng trong tác phẩm. Nhà văn Bảo Ninh đã không làm vậy. Ông quan tâm đến ý kiến của cơ quan kiểm duyệt hơn là ý kiến độc giả, quan tâm đến tuyên truyền của đảng hơn là sự thật của lịch sử.

Nhà văn Trần Hoài Thư nhắn nhà văn Bảo Ninh: “Anh quả là một nhà văn tài hoa chữ nghĩa. Có điều, một nhà văn có tài, không phải là tài ở những chuyện bịa đặt, phóng tác có chủ ý, để lường gạt những người ngây thơ nhẹ dạ, hay không có kinh nghiệm. Ông ta phải biết thành thật, cho chính ông, và độc giả của ông và cả kẻ từng thù địch với ông nữa. “

Nhà văn Trần Hoài Thư sinh năm 1942 và qua đời ngày 27 tháng 5, 2024. Anh ra đi để lại ngoài nhiều tác phẩm của anh còn có cả một công trình Di Sản Văn Chương Miền Nam do nhóm các anh sưu tập, in ấn một cách thủ công nhưng phát hành cùng khắp suốt mấy mươi năm.

Tất cả sẽ còn đó cho một ngày nắng đẹp trên quê hương. Cơn bão lớn thế nào rồi cũng sẽ qua, các cháu sinh viên học sinh Việt Nam sẽ lớn lên. Những bài thơ của anh sẽ được đọc, và bên ngoài cửa lớp bầy chim sẻ líu lo:

Ngôi trường cũ có bao nhiêu ô cửa

Để tôi về đếm những đám mây

Tôi sẽ gọi một bầy chim sẻ nhỏ

Những con chim từ xa vắng lạc bầy

(Ô Cửa, thơ Trần Hoài Thư)


Mời đọc bài viết của nhà văn Trần Hoài Thư

 

 

Từ lâu, người ta đã chờ đợi những tác phẩm viết về chiến tranh Việt Nam bằng ngòi bút trung thực, vượt khỏi định kiến, guồng máy, lập trường, từ những nhà văn miền Bắc. Tại sao là miền Bắc? Bởi vì, những người viết của miền Nam ít ra, đã thả dàn biểu lộ hầu hết những gì mà họ đã tham dự hay nhân chứng, mà không bị ràng buộc bởi bất cứ một ai, bất cứ một thế lực nào. Chính vì sự mong mỏi ấy, những tác phẩm của Dương Thu Hương, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, vân vân... đã được đón nhận từ trong nước, đến ngoại quốc, và cả người Mỹ lưu tâm về Việt Nam và đã được xem là hiện tượng. Trong số những tác phẩm này, tôi được đọc hai truyện dài: Ly thân của Trần Mạnh Hảo, và Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Tôi xin được góp ý về Nỗi buồn chiến tranh (NBCT) vì truyện này đã nhắc thường trực về những người lính thám báo VNCH, mà tôi là một thành viên. Hơn nữa NBCT hiện nay là một đề tài thảo luận sôi nổi trên internet, qua những Newsgroups và Usernet. Ngoài ra, truyện đã được dịch sang tiếng Anh (Bao Ninh, The Sorrow of War. Vietnamese original Hanoi, 1991; English translation London: Martin Secker & Warburg, 1993; New York: Pantheon), phổ biến trong các đại học Mỹ, tác động nhiều trong tâm trí của những người tuổi trẻ hải ngoại, không đủ khả năng đọc Việt ngữ. Nguyên bản bằng tiếng Việt đã được in ở Mỹ do Nam Việt xuất bản, Phạm Việt Cường viết tựa, với kết luận như sau:"Nỗi buồn chiến tranh là một thành tựu văn học vô cùng lớn lao, là một tác phẩm sâu sắc nhất về chiến tranh Việt Nam từ trước đến giờ, và chắc chắn sẽ tồn tại lâu dài trong kho tàng văn học Việt Nam".

 

Thưa nhà văn Bảo Ninh,

Trước hết tôi phải cám ơn anh vì nhờ đọc Nỗi buồn chiến tranh tôi mới hiểu rõ hơn về tâm tư của một thế hệ và giai đoạn mà tôi cũng như anh là những người trong cuộc. Anh viết về sự đổ vỡ và phá sản bi thảm của tuổi trẻ miền Bắc trong cuộc chiến đấu mà chế độ từng nói là cuộc chiến đấu thần thánh chống Mỹ cứu nước. Anh đã kể về những đồi ma chập chùng ở miền cao nguyên nồng nặc tử khí. Lính Mỹ. Lính miền Nam. Lính miền Bắc. Anh viết về những chiếc T54 nghiến trên những người lính sư đoàn 18. Anh viết về những lưỡi dao găm thọc vào tim máu phụt thành tia vòi. Anh viết về nỗi tuyệt vọng của những người lính trinh sát qua Kiên, hay của những bè bạn của anh ta, đào ngũ, dao động, hoang mang cùng cực. Anh lại kể về trận đánh ở Ban Mê Thuột vào một trung tâm cảnh sát, cùng những người nữ cảnh sát viên thuộc hàng ngũ miền Nam, và nhất là sự có mặt hầu như ám ảnh suốt truyện về những toán thám báo. Anh đã tả lại một toán thám báo vào mật khu, bắt theo 3 cô gái, hãm hiếp và sau đó giết họ rồi vất xuống sông. Anh nêu đích danh tay chỉ huy là một Trung úy.

Nói tóm lại anh đã lột tả trần trụi nỗi kinh hoàng của chiến tranh, không che đậy, giấu giếm. Ngoài ra anh cũng vén cái màn dối trá từ lâu đã bao trùm cả xã hội và tuổi trẻ miền Bắc. Đó là điều hiếm có cho nền văn học trong chế độ xã hội chủ nghĩa.

 


Thưa nhà văn Bảo Ninh,

Tôi đã rưng nước mắt trên những trang giấy về nỗi chán chường cùng cực của một thế hệ bị đẩy vào lò nướng, nhưng tôi không thể không phẫn nộ khi anh dùng nỗi buồn chiến tranh ấy để cố ý xuyên tạc bôi nhọ một hàng ngũ thất thế.

Xin đọc lại đoạn tả một trung úy thám báo bị phe các anh bắt làm tù binh: "Tên nom to con nhất trong bọn, mắt trái bị báng súng dộng lòi ra, máu hòa nước mưa nhuộm đỏ nửa mặt, đưa con mắt lành nhìn Kiên cười khẩy, và khàn khàn nói, nhe hàm răng trắng ởn. - Ba nhỏ đó trình quí anh, tụi này làm thịt cúng hà bá rồi... Mấy nhỏ la khóc quá trời..." (NBCT, trang 51, 52). Rõ ràng anh có một trí óc sáng tạo có một không hai. Anh tốt nghiệp khóa 3 trường viết văn Nguyễn Du mà. Nhưng anh đã không hiểu gì về vai trò của thám báo. Nhiệm vụ của thám báo là dò thám, lấy tin. Trinh sát, viễn thám, thám báo, biệt kích, những danh xưng, dù có khác nhau, nhưng nhiệm vụ là phải tuyệt mật. Chúng tôi chỉ dùng tai và mắt để nghe ngóng và rình mò và báo cáo về Bộ Chỉ huy. Toán trưởng thường thường mang cấp bậc thiếu úy hay chuẩn úy. Riêng cấp bậc trung úy chỉ dành cho trung đội trưởng mà cấp số thường trên hai mươi người. Như vậy, không tên lính thám báo nào lại ngu độn đến nỗi xâm nhập vào một mật khu, lại bắt mang theo ba cô chị nuôi, để cho các anh theo dõi bắt lại. Riêng anh cho người chỉ huy là trung úy, thì rõ ràng anh có một chủ ý thấy rõ. Cứ tưởng tượng đến một nhóm bảy người dưới sự chỉ huy của một tên trung úy vào mật khu để bắt ba con mồi, thúc súng đằng sau, hét hò, bận bịu để mang ra khỏi rừng, giữa lúc quân chính qui các anh thì dày đặc, rõ ràng là một câu chuyện hoang tưởng và xuyên tạc có chủ ý. Trung úy ở hàng ngũ chúng tôi cũng học nhiều trường, từ trường học, đến trường lính. Tối thiểu họ cũng có tú tài. Họ có học thức. Với cấp bậc trung úy, ít ra họ cũng có kinh nghiệm chiến trường. Họ không ngu độn như vậy đâu. Ngay lời nói của viên trung úy tù binh kia cũng đủ cho biết cái dối trá, phóng đại. "Ba nhỏ đó tụi này làm thịt cúng hà bá rồi. Mấy nhỏ la khóc quá trời". Nội câu trả lời kia cũng đủ cho thấy cái chủ ý, cái căm thù hằn học, mà chỉ có những cai tù trong trại học tập mới dành cho những con người thất thế. Hễ là thầy giáo thì phải hãm hiếp nữ sinh. Hễ là sĩ quan tác chiến là phải mổ mật mổ tim nhân dân cách mạng. Thì ra đầu óc anh vẫn còn bị nhồi sọ bởi cái luận điệu tuyên truyền của chế độ. Hay cũng vì nhờ những đoạn này mà nhà nước đã cho NBCT được xuất bản và được cho phổ biến rộng rãi?

Cái tàn bạo trong cuộc chiến là lẽ dĩ nhiên. Tôi không khẳng định ai ai trong hàng ngũ miền Nam cũng đều là anh hùng quân tử. Tuy nhiên sự tàn bạo ấy anh đã vẽ nên không phải lúc, phải chỗ, không phải vai trò, khiến bất cứ người nào đã từng tham dự vào cuộc chiến cũng phải phì cười.

Xin anh hãy công bằng khi viết. Hơn nữa chính anh đã kể về người tù binh thám báo mời lính trinh sát các anh hút thuốc Ruby. Nịnh hay là một bản tính đôn hậu, chân thật, thân ái của những người trẻ tuổi miền Nam chúng tôi?

 

Thưa nhà văn Bảo Ninh,

Trong bất cứ một tập thể nào cũng có kẻ xấu người tốt. Tuy nhiên, tôi xin nói với anh một điều, chúng tôi có học, học từ tình yêu thương của Chúa và Phật, chứ không phải học từ Ban Tuyên huấn, từ ông Tố Hữu hay Chế Lan Viên, chỉ biết ngợi ca sắt máu, căm thù người cùng màu da như anh và tôi. Họ còn đấu tố cả cha mẹ họ huống hồ đối với những người khác hàng ngũ. Anh đã không can đảm để nói lên sự thật như Trần Mạnh Hảo đã nói trong Ly thân. Tại sao, sau chiến tranh, một nhà thơ trẻ tài ba - một thương binh cũng nguyên gốc trinh sát là Trần Khuất Nguyên, lại tìm được một người bạn tri kỷ cuối đời là một người thương binh thuộc hàng ngũ chúng tôi? Tại sao anh ta không có một người bạn nào khác trong một tập thể thắng trận là các anh?

Thứ hai, khi đề cập đến nỗi chán nản cực độ, anh đã cho nhân vật Kiên đi như đi vào chỗ không người, khi đụng trận với thám báo (lại thám báo): "Kiên chẳng buồn khom người xuống, thong thả đi tới, vẻ khinh miệt đầy uể oải.Tên địch hấp tấp bắn. Hắn cuống. Đạn nổ đinh tai. Song cả ba chục viên đạn quạt căng rát kỳ thay không một viên gãi vào Kiên. Anh không bắn trả, chỉ còn cách con mồi vài bước nữa, vẫn không bắn. Tuồng như anh muốn ban cho tên địch cơ hội sống còn: kịp thay băng, nhắm kỹ mà bắn gục anh. Nhưng chính sự chán chường táo tợn của Kiên đã làm xiêu lạc hồn phách hắn. Run bần bật, hắn đánh rơi khẩu tiểu liên. - Đồ cứt đái! Kiên chửi gằn và khinh bỉ siết cò. (NBCT, trang 31, 32).

Đúng là nhà văn Bảo Ninh lại mâu thuẫn với chính anh. Trong phần trên, anh đã vẽ nên toán thám báo tung hoành trong mật khu, đằng đằng sát khí, sau khi bị bắt, vẫn lạnh lùng, thách thức, gan dạ, tàn bạo thì bây giờ anh lại cho những người lính thám báo kia quá tội nghiệp, thỏ đế, con gà nuốt dây thun. Anh dựng nhân vật rất hay nhưng quá giả tạo như kiểu cao bồi cải lương. Có tên lính nào ngu đần khi hắn vào thám báo. Có tên lính nào cách kẻ địch vài bước (nhắc lại: vài bước) quạt M16 mà sợ đến độ té đái trong quần. Và có tên lính nào vừa đi vừa đếm 30 viên đạn như Kiên. Thưa anh Bảo Ninh, hắn đã tha mạng Kiên đấy. Hắn đã tội nghiệp giùm cho một người tuổi trẻ miền Bắc đấy. Hắn đã tha như tôi và bè bạn tôi đã tha đồng đội các anh. Chúng tôi đã mời họ những điếu thuốc. Chúng tôi đã băng vết thương họ, kêu trực thăng mang họ về bệnh xá. Anh nhớ lại xem, những tù binh phe các anh, sau khi các anh vào, người nào người nấy mập và trắng, tiêu chuẩn đầu người bốn, năm đô la mỗi ngày, và luôn luôn được chiếu cố bởi hội Hồng Thập tự Quốc tế...

 


Vâng, những người lính mà anh rẻ rúng khinh miệt ấy, trong ấy có tôi, họ không hèn đâu. Chính trong NBCT, anh cũng đã thú nhận, năm Mậu Thân, hàng ngũ của anh đã tơi tả, tả tơi, có đơn vị thiệt hại đến 70, 80 phần trăm. Mắt tôi thấy các anh chạy như một lũ chuột thoát thân, mà chẳng cần xin pháo dập theo, hay đuổi tiếp. Ngay cả những người nữ cảnh sát viên (lại phóng đại nữa, trời ạ. Ban Mê Thuột tôi đã từng ở mấy năm, đi tìm nát nước, nào thấy một người nữ cảnh sát viên nào đâu. Nhưng cũng xem là thật đi.) mà anh viết, họ là đàn bà phụ nữ, nhưng họ vẫn chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Chiến đấu bằng súng lục (như anh kể trong truyện) trước quân đội chính qui của các anh. Đàn bà yếu đuối mà còn dũng cảm như beo hùm, huống hồ là đám thám báo chúng tôi. Họ tha Kiên chết đấy. Và anh phải thay mặt Kiên để cảm ơn họ mới phải. Đó là lý do tại sao nhà thơ Trần Khuất Nguyên trong Ly thân đã tìm đến người thương binh của hàng ngũ chúng tôi mà kết bạn trong những ngày đen tối nhất của đời ảnh, mà không tìm đến các anh.

Đã hai mươi năm sau chiến tranh, những tên đồ tể buôn bán xương máu tuổi trẻ Việt Nam đã ló dạng trước ánh sáng của lịch sử. Dù kẻ bại dù kẻ thắng, chúng ta cũng vẫn là nạn nhân từ những mỹ từ, nhân danh, mà những chuyên viên xúi giờ đây đang uống sâm nhung để chờ ngày thoi thóp. Lẽ ra chúng ta không nên khơi dậy những thảm kịch của quá khứ, nhất là gây thêm cái khoảng cách giữa những người thuộc hai phe, dù Bắc, dù Nam.

Tôi cũng viết lai rai, và có trăm ngàn chuyện để viết về mấy năm làm trung đội trưởng thám kích. Nhưng mỗi lần đặt bút lên là lòng tôi lại quặn đau. Tôi không dám kể hết về những gì mà chiến tranh đã gây nên. Tôi không thể không quằn quại khi khui lại, mở lại những sợi gân đã buộc chặt vết thương. Tôi sợ mang nỗi buồn cho con cháu tôi. Bởi vậy tôi phục anh vì anh dám mở toát loát cái vết thương. Tôi đã đau từng dòng anh viết. Tôi yêu văn nồng nàn chất liêu trai của anh. Anh quả là một nhà văn tài hoa chữ nghĩa. Có điều, một nhà văn có tài, không phải là tài ở những chuyện bịa đặt, phóng tác có chủ ý, để lường gạt những người ngây thơ nhẹ dạ, hay không có kinh nghiệm. Ông ta phải biết thành thật, cho chính ông, và độc giả của ông và cả kẻ từng thù địch với ông nữa.

Xin đừng dùng nỗi buồn mà thóa mạ một cách cố ý những kẻ bị thất thế.

TRẦN HOÀI THƯ

SOURCE:

https://www.facebook.com/share/1G25ZFjjro/

 

 

Thursday, September 4, 2025

Chiếu miễn phí phim ‘Book of Death,’ cuốn sổ sinh tử của người Việt tị nạn

 

WESTMINSTER, California (NV) – Phim tài liệu “Book of Death,” cuốn sổ sinh tử ghi lại những chương đen tối trong lịch sử di cư của người Việt sau năm 1975, sắp được trình chiếu miễn phí vào hai ngày Thứ Sáu và Thứ Bảy, 12 và 13 Tháng Chín, từ 2 giờ trưa đến 4 giờ chiều, tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, 14771 Moran St., Westminster, CA 92683.

Cuốn phim tài liệu dựa trên quyển sách cùng tên, được “nhào nặn qua bàn tay” của cô Jenny Thái, đồng sản xuất kiêm đạo diễn của những thước phim về “cái chết” của người Việt tị nạn.

 

Poster phim “Book of Death.” (Hình: Jenny Thái cung cấp)

 

Nói về cảm hứng tạo nên “Book of Death,” đạo diễn Jenny Thái cho biết sau khi tham gia cố vấn âm nhạc cho đài HBO, nơi sản xuất bộ phim truyền hình nói về tướng lĩnh VNCH, cô nhận ra rằng cô không vừa ý ở một điểm.

“Bộ phim của HBO cho thấy các vị tướng, tá của VNCH có vẻ hèn nhát nên tôi rất đau lòng. Tôi có nói với phóng viên phỏng vấn tôi lúc bấy giờ rằng nếu mà có kinh phí tôi sẽ làm phim nói về các vị anh hùng của miền Nam Việt Nam mà tôi biết,” nữ đạo diễn kể.

Nữ đạo diễn chia sẻ rằng khoảng một tuần sau thì có mạnh thường quân tài trợ cho ý tưởng của cô, nhưng đó không phải là điều duy nhất thôi thúc cô bắt tay vào làm cuốn phim có chủ đề nhạy cảm này.

“Khoảng thời gian đại dịch COVID-19 bị cách ly thì tôi đã liên tục được các đấng bề trên như Chúa, Phật báo mộng. Sau này tôi mới nghiệm ra sứ mệnh của mình là phải làm một bộ phim về người tị nạn,” đạo diễn Jenny Thái nhớ lại tiếng gọi tâm linh. 

Cô nói nếu làm phim về tị nạn thì người mà cô nhất định phải phỏng vấn là Đức Đạt Lai Lạt Ma, vì ngài là người tị nạn đầu tiên trên thế giới, nhưng thiết nghĩ điều đó là vô thực.

Tuy nhiên, cô lại làm được điều không tưởng ấy khi qua tới tận nhà của Đức Đạt Lai Lạt Ma ở Ấn Độ và quay được những thước phim về nhà lãnh đạo Tây Tạng.

Cô cũng tri ân Đức Cố Giáo Hoàng Francis và Đức Đạt Lai Lạt Ma đích thân ban phước lành cho dự án phim “Book of Death,” và cả hai vị đều ký tên cho sách.

Dự án tập hợp các câu chuyện của hơn 200 nhân vật – những chứng nhân lịch sử – với thời lượng vỏn vẹn 2 giờ, phản ảnh nạn nhân chiến tranh, những chuyện ở đảo tị nạn… để in ra cuốn sách “Book of Death,” và rồi đưa lên màn ảnh để tiếp cận khán giả dễ dàng hơn.

Đạo diễn cho biết cô đến các đảo có trại tị nạn và viếng thăm từng ngôi mộ của những người không may phải bỏ mạng nơi xứ người.

“Tôi cũng từng gặp rất nhiều ma và các thế lực siêu nhiên trong lúc sản xuất cuốn phim này,” cô bộc bạch.

Cô cho biết cảnh cảm động nhất là các thước phim quay về năm vị tướng VNCH tuẫn tiết sau khi Sài Gòn sụp đổ vào cuối Tháng Tư, 1975.

“Trên 100 người tham gia đóng phim tài liệu này. Chỉ có năm diễn viên Hollywood, còn lại các diễn viên quần chúng là những người ở chợ trời vì chúng tôi muốn hỗ trợ cho họ. Những người bạn của tôi cũng tham gia giúp một tay,” cô Jenny chia sẻ.

 

Cô Jenny Thái, đồng sản xuất kiêm đạo diễn của “Book of Death.”

(Hình: Facebook Jenny Ai Trinh Thai)

 

Mục đích làm phim của cô là muốn các thế hệ tiếp nối luôn khắc ghi đoạn ký ức của người Việt tị nạn để các em nhận thấy cuộc sống hiện giờ của các em có giá trị như thế nào.

Cô thêm: “Tôi mong muốn cuốn phim được đưa vào trường học để cho cho các em thế hệ thứ ba, thậm chí là thứ tư, biết được cuộc sống của các em được xây dựng trên máu và nước mắt của đồng bào của mình.”

“Tôi làm phim qua cách trình bày sự thật lịch sử để giới trẻ nhìn vào và tự mình đánh giá và rút ra bài học chứ không ép buộc,” cô nói.

“Book of Death” được ông Alan Võ Ford đồng sản xuất và vinh dự thắng hai giải của đại hội điện ảnh Los Angeles Tribune International Film Festival năm 2025, qua giải “Best First-Time Director” cho cô Jenny Thái và giải “Best International Impact Stories.”

Đoàn làm phim cũng nhận nhiều giải thưởng và bằng tưởng lục của nhiều dân cử.

Cô Jenny cho biết: “Xin chân thành cảm ơn tất cả các nhà sản xuất đã tin tưởng tôi, để tôi tự do mạo hiểm trong quá trình làm phim! Xin cảm ơn tất cả những người đã ủng hộ chúng tôi từ khắp nơi trên thế giới, từ người giàu đến người nghèo!”

“Tôi chỉ có thể nói rằng nhờ Chúa và Phật mà chúng tôi đã hoàn thành một sứ mệnh bất khả thi này,” cô Jenny Thái chia sẻ. (T.Nhiên) [đ.d.]

SOURCE:

https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/chieu-mien-phi-phim-book-of-death-cuon-so-sinh-tu-cua-nguoi-viet-ti-nan/

 

VIDEO CLIPS

 

Movie “BOOK OF DEATH” Film trailer - Director Jenny Ai Trinh Thai

 

  

 

Hành Trình Giải Cứu Linh Hồn Thuyền Nhân | Đạo Diễn Jenny Thái Ái Trinh tiết lộ kinh hoàng

 

   

 

Behind the scenes:

Behind the scene during our movie shoot of the “Book of Deaths” by Alan Ford and Jenny Thai

 


 

Behind the scene for a refugee film: Book of Death by Alan Vo Ford & Jenny Ai Trinh Thai, 2025