.
Nhạc: LY RƯỢU MỪNG
(Nhạc & lời: Ns. Phạm Đình Chương)
.
VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN TRỜI
BÌNH AN DƯỚI THẾ CHO NGƯỜI THIỆN TÂM
KÍNH CHÚC
QUÝ CỰU QUÂN NHÂN VIỆT NAM CỘNG HÒA
QUÝ ĐỘC GIẢ & GIA QUYẾN
GIÁNG SINH AN LÀNH - TRÀN ĐẦY HỒNG ÂN THIÊN CHÚA
.
Sài Gòn – 1974: Mùa Giáng sinh cuối cùng của thời Việt Nam Cộng hòa
Trần Phương
25/12/2024

Hình ảnh được cho là mùa Giáng sinh năm 1974 bên cạnh Nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn.
Không có bắt đầu và không có kết thúc – đó là niềm tin của nhiều tôn giáo đối với đời sống.
Mọi thứ tiếp nối, liên tục, hòa vào nhau.
Việt Nam Cộng hòa cũng không có kết thúc dù chính quyền Sài Gòn đã sụp đổ. Mãnh lực của Việt Nam Cộng hòa vẫn tiếp diễn trong nhiều khía cạnh của đời sống hiện tại.
Năm 2025, tròn 50 năm sau khi chính thể Việt Nam Cộng hòa sụp đổ và hai miền Nam – Bắc tiến tới thống nhất dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Hãy để tôi đưa bạn trở về năm cuối cùng của cuộc chiến, trong không khí Giáng sinh năm 1974 tại Sài Gòn.
Lồng đèn ngôi sao phủ giấy kính nhiều màu kiểu miền Nam, cây thông giả bằng nhựa với đủ kích cỡ từ cầm tay, để bàn cho đến đặt trên sàn nhà, những hàng dãy dài dây kim tuyến lấp lánh đủ màu sắc đong đưa trong tiết trời dễ chịu nhất trong năm, cùng với bạt ngàn hàng hóa của mùa lễ đã được bày đầy trên các con phố xung quanh nhà thờ Đức Bà.
Vào đêm Giáng sinh, các xóm đạo bừng sáng với những chiếc lồng đèn ngôi sao, cùng với các máng cỏ tái hiện thời khắc Chúa Giê-su chào đời. Mọi người sẽ đi thành từng tốp để ngắm nhìn thành quả trang trí. Không phân biệt người có đạo hay ngoại đạo, tất cả mọi người đều hòa chung trong không khí lễ hội.
Sau thánh lễ lúc nửa đêm tại nhà thờ, dòng người trở về ngôi nhà của mình, quây quần bên bàn tiệc với những người thân, bạn bè và cả những người hàng xóm ngoại đạo. Thịt quay và gà tây cho người giàu có, cháo vịt hoặc cháo gà trong những gia đình nghèo khó hơn. Ngày hôm sau, mọi người đổ về nhà thờ dự thánh lễ và tiếp tục vui chơi đến khi tiếng súng bắt đầu nổ trở lại. Giáng sinh đã đến như vậy trong suốt 25 năm chiến tranh.

Một dịp Giáng sinh ở Sài Gòn trước năm 1975.
Ảnh: Kiến thức/Chưa rõ nguồn.
Tuy nhiên, mùa Giáng sinh năm 1974 không chỉ có không khí lễ hội mà còn xen lẫn với nhiều dấu hiệu đáng lo ngại. Tiếng kèn, trống phát ra từ những lễ tang của quân nhân ngày càng thường xuyên hơn vào ban ngày. Vào ban đêm, bạn có thể nghe rõ tiếng pháo kích, tiếng đạn cối nếu ở xa trung tâm thủ đô một chút. Chiến tranh đang đến rất gần, và kết cục của cuộc chiến đang thể hiện ngày một rõ hơn.
Đã hai mùa Giáng sinh, người ta không còn thấy lính Mỹ lóng ngóng cầm trên tay cây thông bằng nhựa cao chừng hai, ba gang tay nữa. Trong hai năm ấy, những chiến trường nổi tiếng mà lính Mỹ đã giành được bằng cách đánh đổi mạng sống của mình giờ đây đều nằm hết trong tay Việt Cộng, như đồi Hamburger (tại Thung lũng A Sầu, Thừa Thiên – Huế), Khe Sanh (Quảng Trị), căn cứ Chu Lai (Quảng Ngãi), v.v. Chiến khu C nổi tiếng một thời, bao gồm khu vực Bình Dương, Bình Phước và Tây Ninh ngày nay, đã trở thành nơi nghỉ dưỡng của Việt Cộng. Thủ đô tạm thời của Việt Cộng đặt tại Lộc Ninh, cách Sài Gòn chỉ chừng 120 cây số.
Tại đồng bằng sông Cửu Long, lính Việt Nam Cộng hòa bỏ chạy khỏi tiền đồn trước khi bị tấn công, nhiều xe bọc thép sợ di chuyển vào ban đêm. Quân đội quốc gia đã rệu rã, mất hết tinh thần chiến đấu.
Phật giáo Hòa Hảo, với hầu hết tín đồ cư trú ở đồng bằng sông Cửu Long, đang lo lắng cho tương lai của mình. Các chức sắc Hòa Hảo yêu cầu chính quyền đáp ứng bảy thỉnh cầu của họ, trong đó có việc công nhận chính thức quân đội của Phật giáo Hòa Hảo. Sau khi yêu cầu bị từ chối, 2.000 tín đồ Hòa Hảo tuyên bố sẽ chặt đứt ngón tay của mình để phản đối. Sau cùng, có 20 ngón tay được gửi đến Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Một năm sau khi Hiệp định Paris được ký, chỉ có Hoa Kỳ thực hiện đúng cam kết – rút toàn bộ quân khỏi miền Nam. Tiếng súng vẫn nổ giữa những người Việt với nhau.
Trong năm đó, Sài Gòn cho biết khoảng 12.000 quân nhân và 2.000 thường dân Việt Nam Cộng hòa đã tử nạn. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố chừng nào người miền Bắc còn ở trên đất miền Nam, chừng ấy chưa có hòa bình.
Vào tháng Tám, một cựu thương phế binh tên Phan Văn Lụa đã đến trước tòa nhà Quốc hội, tức Nhà hát lớn ngày nay, đổ xăng lên người rồi châm lửa tự thiêu. Ông chết ngay sau đó, bên cạnh cái xác chết cháy là bức thư tuyệt mệnh kêu gọi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải tiếp tục tấn công cộng sản để giành lại hòa bình cho miền Nam. Chân dung Phan Văn Lụa sau đó được dựng lên ở khắp Sài Gòn, rạp chiếu phim còn phát băng về cuộc tự thiêu. Trong bài điếu văn tại nghĩa trang quân đội Biên Hòa, Bộ trưởng Bộ Cựu chiến binh đã gọi sự kiện tự thiêu của Phan Văn Lụa là sự căm phẫn tột cùng của người dân đối với việc cộng sản kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược trên phạm vi quốc tế. Những hành động của nhà chức trách trong vụ tự thiêu làm nhiều người nghi ngờ rằng chính phủ đứng sau toàn bộ vụ việc.
Trong chín năm cuối cùng của cuộc chiến, 11 trong 19 triệu dân miền Nam đã chịu cảnh mất mát nhà cửa vì chiến tranh leo thang – theo Thượng viện Mỹ, hay theo chính quyền Việt Nam Cộng hòa là 5 triệu người.
Số lượng người tị nạn vào đầu năm 1974 đã lên đến 530.000 người, hơn 60.000 người vẫn tiếp tục đổ về các trại tị nạn. Dù nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả tổ tiên của họ vẫn còn ở quê nhà, chính phủ Việt Nam Cộng hòa cảnh báo người tị nạn không được quay về những ngôi làng mà Việt Cộng đang chiếm giữ. Tình trạng tương tự cũng xảy ra ở Lào với khoảng 300.000 người tị nạn, sống bằng 5 triệu đô-la viện trợ của Mỹ. Chiến tranh Đông Dương ở Campuchia đã làm bần cùng hóa đất nước thanh bình này, biến một phần ba dân số thành người tị nạn.
Tình trạng đau thương của cuộc chiến càng làm cho nạn tham nhũng hoành hành. Hàng triệu đô-la đã rơi vào túi tướng lĩnh quân đội bằng cách “lĩnh dùm lương” của những quân nhân “ảo” hoặc không có mặt trên chiến trường.Kiểu tham nhũng tương tự cũng xảy ra trong các trại tị nạn. Nhiều quan chức trại tị nạn ở Đà Nẵng đã bị bắt giữ vì thông đồng với nhau để khai khống ra 30.000 người tị nạn “ảo”.
Bộ trưởng Bộ Tị nạn Phạm Quang Đán cho biết chính phủ sẽ cho người tị nạn hai hay ba lựa chọn để tái định cư, nếu họ không đồng ý thì có thể nhận một số tiền và tự tìm nơi ở cho mình. Trong khoảng 1 triệu người tị nạn vào năm 1972, 300.000 người đã ổn định chỗ ở trong các khu tái định cư, và số người tương tự đã trở về quê nhà hoặc tái định cư ở những ngôi làng do Việt Cộng kiểm soát.
Tại các vùng “giải phóng”, Việt Cộng đã bắt đầu đào giếng, mở đường, bố trí giáo viên, bác sĩ vào các ngôi làng mới mà phần lớn nằm ở trong rừng. Mỗi hộ sẽ nhận được 100 đồng tiền mua sắm vật liệu xây dựng nhà cửa, 40 đồng để bắt đầu công việc trồng trọt và sinh hoạt trong sáu tháng đầu tiên.

Một thánh lễ ở Nhà thờ Đức Bà ở Sài Gòn ngày 3/2/1974. Ảnh: AP.
Trước mùa Giáng sinh, sự kỳ vọng về việc thực thi nghiêm túc Hiệp định Paris (1973) về quyền tự quyết tương lai chính trị của miền Nam, đảm bảo các quyền tự do dân chủ, xen lẫn với tình hình tham nhũng, làm việc kém hiệu quả của chính quyền miền Nam khiến các nhóm tôn giáo không thể ngồi yên.
Tháng 6/1974, những người chống cộng nhiệt thành nhất của miền Nam là các linh mục Công giáo đã quay sang chống chính quyền. Linh mục Trần Hữu Thanh, 59 tuổi, đã quy tụ được một nhóm 300 linh mục tham gia Phong trào Nhân dân Chống tham nhũng. Một cuộc biểu tình chống tham nhũng với 5.000 người Công giáo đã nổ ra ở Huế vào đầu tháng Chín. Người biểu tình đã đưa ra sáu cáo buộc tham nhũng đối với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Giáo dân tại Sài Gòn, Cần Thơ, Đà Nẵng, Biên Hòa cũng lên kế hoạch biểu tình.
Giữa tháng Chín, các nhà sư tranh đấu của khối Ấn Quang đã thành lập Lực lượng Hòa giải Dân tộc nhằm gia tăng áp lực lên chính quyền Nguyễn Văn Thiệu.
Đến tháng Mười, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải lên truyền hình phân trần về những cáo buộc tham nhũng nhắm vào ông. Ông nói những cuộc biểu tình nhỏ nhặt không làm ảnh hưởng đến ông, tuy nhiên, ông sẵn sàng từ chức nếu toàn bộ nhân dân và quân đội không còn tin tưởng vào sự lãnh đạo của ông.
Không chỉ có các nhóm tôn giáo, các nhà lãnh đạo dân sự của khối báo chí, luật sư, cựu chiến binh cũng quay lưng với ông Thiệu. Điển hình là Trần Quốc Bửu, nhà lãnh đạo của công đoàn lớn nhất ở miền Nam với 300.000 thành viên, nổi tiếng là ủng hộ chính quyền đã từ bỏ việc sát cánh với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Ông Bửu, trong một hội nghị với hơn 700 nhà lãnh đạo công đoàn cấp dưới, đã nói rằng các phong trào đối lập một lần nữa nổi lên khi người dân ngày càng bất bình đối với một chính quyền kém cỏi và tham nhũng. Ông cho rằng chính quyền “cần cố gắng khôi phục niềm tin của người dân bằng cách xem xét kỹ lưỡng chính sách quốc gia, làm trong sạch bộ máy lãnh đạo từ trung ương đến địa phương và mạnh mẽ xóa bỏ nạn nạn tham nhũng và bất công xã hội”.
Một bài báo về Sài Gòn, đăng trên tờ The New York Times ngày 24/12/1974.
Ảnh: Newspaper.com.
Ngày 31/10, khoảng 3.000 người do các linh mục Công giáo dẫn dắt đã xuống đường biểu tình. Họ yêu cầu Tổng thống Thiệu từ chức. Người biểu tình đã đụng độ dữ dội với cảnh sát trong suốt bảy giờ đồng hồ. Cảnh sát trưởng Sài Gòn Tran Si Tan được cho là đập dùi cui vào một em bé 12 tuổi. Khoảng một phần ba người biểu tình đáp trả cảnh sát bằng cách ném đá, sau cùng rút vào nhà thờ Tân Sa Châu (trên đường Lê Văn Sỹ, quận Tân Bình ngày nay). Cảnh sát bao vây nhà thờ. Ít nhất khoảng 60 người biểu tình và 30 cảnh sát bị thương.
Đầu tháng Mười Một, các nhà sư của khối Ấn Quang cho biết họ đã sẵn sàng hành động khi cần thiết. Thích Quảng Độ, người phát ngôn của khối Ấn Quang, nói với báo chí rằng: “Chúng tôi đã yêu cầu Tướng Thiệu tự nguyện từ chức, nếu ông ta cảm thấy bản thân đứng về phía hòa bình và hòa hợp dân tộc. Nếu ông ta không sẵn lòng ra đi thì sẽ bị lật đổ”. Một văn phòng lâm thời do Hòa thượng Thích Trí Quang điều hành đã được lập ra để phát động chiến dịch lật đổ chính phủ khi cần thiết.
Cho đến cuối tháng 11/1974, Phong trào Nhân dân Chống tham nhũng của linh mục Trần Hữu Thanh tuyên bố sẽ tổ chức một cuộc biểu tình lớn hơn nữa. Linh mục Thanh nói ông sẵn sàng hy sinh tính mạng của mình cho phong trào.
Một cuộc biểu tình của Công giáo đã nổ ra vào ngày 28/11 với 3.000-4.000 người tập kết ở gần sân bay Tân Sơn Nhất để chuẩn bị tiến vào trung tâm thành phố. Cảnh sát đã chặn đứng đoàn biểu tình này. Giao tranh nổ ra giữa người biểu tình với cảnh sát chống bạo động, mỗi bên có khoảng 40 người bị thương.
Việt Cộng cáo buộc linh mục Thanh làm tay sai cho Mỹ nhằm tái thiết chính quyền mới dưới sự lãnh đạo của một hội đồng chỉ có các nhà lãnh đạo tôn giáo.
Linh mục Thanh nói rằng Công giáo đang cẩn trọng trong hành động của mình trong bối cảnh phức tạp vào lúc này. “Chúng tôi không chỉ có mục đích thay thế những con người trong chính quyền mà còn muốn giải quyết nhiều vấn đề cùng một lúc: vấn đề cộng sản, lệnh ngừng bắn, và tìm kiếm giải pháp tổng thể về chính trị. Chúng tôi phải chấp nhận tồn tại chung với cộng sản để tiến tới bầu cử. Và cộng sản sẽ trở thành một đảng chính trị đơn thuần với thiểu số thành viên nằm trong một cộng đồng dân tộc chủ nghĩa”, Linh mục Thanh nói về hướng đi của phong trào Công giáo quyết liệt nhưng bất bạo động này.
Đến năm thứ hai kể từ sau khi Hiệp định Paris được ký, 22.000 quân nhân đã bỏ mạng, 93.000 thường dân bị thương và khoảng 10.000 mất tích. Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cho rằng miền Bắc có khoảng 87.000 người thiệt mạng, bao gồm cả Việt Cộng, bộ đội và thường dân. Việt Cộng từ chối công bố số liệu thương vong.
Không chỉ thiệt hại về người, cuộc chiến khốc liệt còn lan tràn đến mọi ngóc ngách trong thành phố. Kinh tế miền Nam cũng chao đảo, lạm phát ở mức 56%, hơn một triệu người thất nghiệp. Mức lạm phát ở Campuchia là 100% và ở Lào là gần 50%.
Vào dịp Giáng sinh năm 1974, tờ The New York Times ghi nhận Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Sài Gòn Nguyễn Văn Bình đã gửi thông điệp mừng lễ Giáng sinh đến người dân. Ông chia sẻ nỗi lòng của mình đến những gia đình thất nghiệp, tù nhân, trẻ em mồ côi, các góa phụ, người bệnh, người khuyết tật, và bất cứ ai đang chịu sự hành hạ về thể xác hay tinh thần.
Có điều, ông đã không nhắc gì đến những người lính Quốc gia.
SOURCE:
https://luatkhoa.com/2024/12/sai-gon-1974-mua-giang-sinh-cuoi-cung/
Bài viết này nằm trong số báo tháng Tư năm 2022 của Luật Khoa tạp chí, được phát hành trên ấn bản PDF ngày 26/4/2022.
Một trong những vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất giữa những người Việt Nam khi nói đến cuộc chiến Việt Nam trong giai đoạn từ 1954 đến 1975 là về tính chính danh của hai nhà nước ở hai miền Nam – Bắc.
Hai điều khó có thể phủ nhận là: cả hai miền đều có sự ủng hộ riêng từ cộng đồng quốc tế; và kể từ 30/4/1975, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam rồi tiếp đến là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thừa kế hàng loạt quyền và nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam Cộng hòa.
Hiệp định Geneva 1954 nhấn mạnh rằng việc tạm thời chia đôi nước Việt Nam tại vĩ tuyến 17 không đồng nghĩa với việc thiết lập ranh giới lãnh thổ và chính trị giữa hai miền Nam – Bắc. Chính phủ ở cả hai miền đều thể hiện rất rõ ràng điều này tại các bản hiến pháp của họ trong giai đoạn 1954 – 1975.
Từ thời điểm bắt đầu đàm phán Hiệp định Geneva 1954 cho đến khi chiến tranh kết thúc, cả hai chính thể được thành lập trước đó tại mỗi miền đều cho rằng chỉ duy nhất một mình họ là đủ tính chính danh để quản lý cả đất nước, cũng như chỉ có họ là được quốc tế công nhận.
Thế nhưng định nghĩa “quốc tế” của mỗi miền lại không giống nhau. Khi ấy, chính cộng đồng quốc tế cũng chia rẽ thành hai khối, chứ không riêng gì đất nước Việt Nam.
Tháng 1/1950, cùng với Trung Quốc và Liên Xô, các quốc gia cộng sản Đông Âu đều công nhận tính chính danh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) đối với lãnh thổ Việt Nam.
Cũng vào đầu năm 1950, Liên hiệp Pháp công nhận quyền tự trị và nền độc lập của Quốc gia Việt Nam (QGVN), tiền thân của Việt Nam Cộng hòa (VNCH), dựa trên một số hiệp ước được ký kết trước đó giữa hai nước vào năm 1949.
Đến tháng 2/1950, Anh, Hoa Kỳ và một số nước phương Tây đều công nhận QGVN là thể chế lãnh đạo của nước Việt Nam.
Sau khi VNCH được thành lập vào năm 1955 và thay thế quyền lãnh đạo miền Nam của QGVN, Hoa Kỳ và các đồng minh phương Tây tiếp tục công nhận tính chính danh của VNCH. Đến năm 1966, theo thống kê của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, đã có 60 quốc gia trên thế giới công nhận chính thể VNCH của Nam Việt Nam.
Một số nước như Ấn Độ, Thụy Điển thì lại theo quy tắc không công nhận cả hai. Tuy nhiên, đến năm 1969, Thụy Điển trở thành nước phương Tây đầu tiên công nhận nhà nước VNDCCH của Bắc Việt Nam.
Việc công nhận thể chế nào tại Việt Nam mới thật sự đại diện cho cả đất nước vốn không hề ngã ngũ vào thời điểm Hiệp định Geneva 1954 được ký kết.
Ngược lại, cuộc giằng co này kéo dài đến hơn 20 năm sau.
Trong giai đoạn 1954 – 1975, ngoài sự công nhận của các nước trên thế giới chia theo hai cực cộng sản và tư bản trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, hai nhà nước Việt Nam còn được công nhận theo một số cách khác.
Cờ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Việt Nam Cộng hoà
tại vĩ tuyến 17 trong thời kỳ chiến tranh. Ảnh: Life.
Gia nhập Liên Hiệp Quốc
Trước hết, VNCH đã từng xin tham gia vào Liên Hiệp Quốc (LHQ) vào đầu thập niên 1950. Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, VNDCCH cũng nộp đơn làm thành viên. Tuy nhiên, cả hai đều gặp phải sự phản đối từ thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an.
Chúng ta có lẽ không khó hiểu khi biết rằng Liên Xô đã từng phản đối VNCH tham gia vào LHQ, và ngược lại, Hoa Kỳ phản đối VNDCCH.
Vì những sự phản đối này mà hai chính phủ Bắc – Nam Việt Nam đã khá lận đận với việc đăng ký làm thành viên LHQ trong suốt 20 năm.
Ngày 30/4/1975, chế độ VNCH bị chính quyền của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CHMN) thay thế, nhưng vẫn giữ vị thế một nhà nước độc lập đối với VNDCCH tại miền Bắc. Điều này được thể hiện rõ qua hai lá đơn xin tham gia LHQ riêng biệt của VNDCCH – Bắc Việt và CHMN – Nam Việt vào năm 1975.
Đến ngày 8/8/1975, Hội đồng Bảo an đã đồng thuận chấp nhận và đề cử với Đại Hội đồng LHQ cho cả hai quốc gia VNDCCH – Bắc Việt lẫn CHMN – Nam Việt được tham gia vào LHQ.
Việc Hội đồng Bảo an đưa ra đề cử với cả hai đơn xin tham gia LHQ của hai nhà nước Việt Nam vào tháng 8/1975 càng làm rõ vấn đề là cả hai chính thể đều được đối xử như nhau và đều được LHQ công nhận.
Sau khi hai nhà nước VNDCCH và CHMN thống nhất và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam ra đời vào ngày 2/7/1976, Việt Nam mới trở thành một quốc gia với một chính phủ duy nhất. Sau đó, CHXHCN Việt Nam đã chính thức gia nhập LHQ vào tháng 9/1977.
Trên danh nghĩa, kể từ ngày 30/4/1975, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam tiếp quản toàn bộ lãnh thổ do Việt Nam Cộng hoà quản lý trước đó.
Ảnh: Uỷ ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định tổ chức họp báo quốc tế ngày 8/5/1975.
Nguồn: Herve GLOAGUEN/Gamma-Rapho via Getty Images.
Tham gia với tư cách thành viên của các tổ chức quốc tế
Việc VNCH và VNDCCH đều tham gia làm thành viên của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) càng giúp chúng ta kết luận Việt Nam đã từng có hai chính phủ và được đối đãi như hai quốc gia riêng biệt.
Trước hết, đây là các tổ chức quốc tế mà thành viên tham gia hầu hết phải là các quốc gia có chủ quyền (sovereign states). Chúng ta có thể dùng Đài Loan làm ví dụ để so sánh vì Đài Loan chưa bao giờ là thành viên của WHO.
Trong khi đó, từ 17/5/1950, VNCH đã là thành viên của WHO, và trở thành thành viên của WMO từ 1/4/1955.
Sau khi VNCH sụp đổ vào ngày 30/4/1975, VNDCCH mới xin gia nhập hai tổ chức này. VNDCCH được kết nạp làm thành viên của WMO vào ngày 7/8/1975, và là thành viên của WHO vào ngày 22/10/1975. Điều này có nghĩa là tư cách thành viên của VNCH tại WHO và WMO lúc đó không bị xóa bỏ cho dù chính thể VNCH không còn tồn tại nữa.
Sau khi hai miền Nam Bắc thống nhất và trở thành CHXHCN Việt Nam vào tháng 7/1976, chính phủ mới đã gửi thông báo đến hai tổ chức này trong năm 1977 để yêu cầu cho phép CHXHCN Việt Nam tiếp nhận tư cách thành viên của cả hai chính phủ Nam – Bắc Việt Nam trước đó.
Điều này đồng nghĩa rằng trong thời gian trước năm 1977, đã có hai quốc gia Việt Nam là thành viên của WHO và WMO, và đều được hai tổ chức quốc tế này công nhận.
Đến thời điểm hiện tại, ngày tham gia vào WHO của Việt Nam được ghi nhận là ngày 17/5/1950 – là ngày mà VNCH tham gia vào WHO như đã nói ở trên. Điều này có nghĩa là tư cách tham gia WHO với danh nghĩa một quốc gia của VNCH không hề bị ảnh hưởng từ việc thống nhất đất nước vào năm 1976.
Ngoài ra, CHXHCN Việt Nam còn tiếp tục thay thế tư cách thành viên của VNCH ở các tổ chức khác như Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO), và Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA). Đây là những tổ chức quốc tế mà trước năm 1975 chỉ có VNCH tham gia làm thành viên.
Kể từ năm 1977, Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là chính thể duy nhất
quản lý toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Ảnh: mard.gov.vn.
CHXHCN Việt Nam tiếp tục tư cách thành viên của VNCH đối với các định chế tài chính quốc tế
Trước tháng 4/1975, chỉ có VNCH là thành viên của các định chế tài chính quốc tế. Đó là Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).
Sau khi được thành lập vào tháng 7/1976, CHXHCN Việt Nam đã trình thư xin thay thế (substitution) tư cách thành viên của VNCH tại các định chế tài chính nói trên, chứ không phải là đơn xin gia nhập làm thành viên mới.
Cụ thể là khi thay thế tư cách thành viên của VNCH với ADB, CHXHCN Việt Nam đã tiếp quản 3.000 cổ phần của chính phủ VNCH tại ngân hàng này.
Đồng thời, CHXHCN Việt Nam cũng tiếp tục được nhận tất cả các khoản vay mà VNCH đã được ADB chấp thuận cho vay trong những năm trước đó. CHXHCN Việt Nam cũng bảo đảm sẽ chịu trách nhiệm chi trả cho những khoản vay này.
Vì vậy, ngày gia nhập ADB của Việt Nam hiện nay là ngày 22/9/1966, là ngày mà Quốc hội của chính phủ VNCH tại miền Nam đã phê chuẩn việc tham gia ADB.
CHXHCN Việt Nam tiếp tục công nhận một số hiệp ước mà VNCH đã ký kết
Tương tự việc tiếp tục tư cách thành viên của VNCH tại một số tổ chức và định chế tài chính quốc tế như đã nêu, CHXHCN Việt Nam còn tiếp tục công nhận ít nhất hai hiệp ước quốc tế mà VNCH đã ký kết trước ngày 30/4/1975.
Ngày 16/12/1976, nhà nước CHXHCN Việt Nam đã đệ trình đơn phê chuẩn Công ước Viễn thông Quốc tế 1973 (1973 International Telecommunication Convention) mà chính phủ VNCH đã ký kết vào ngày 25/10/1974 tại Hội nghị Málaga-Torremolinos nhưng chưa kịp phê chuẩn. Đơn đệ trình của CHXHCN Việt Nam nêu rõ là việc phê chuẩn được dựa trên những ký kết mà VNCH đã thực hiện trước đó.
Tương tự, VNCH được công nhận tư cách thành viên của Liên minh Bưu chính Quốc tế (UPU) từ năm 1951. Vào tháng 7/1974, chính phủ VNCH đã ký kết các văn bản liên quan đến các Quy chế Chung (General Regulations) và Công ước Liên minh Bưu chính Lausanne (Universal Postal Convention) của UPU nhưng chưa kịp phê chuẩn. Ngày 27/10/1976, Quốc hội của CHXHCN Việt Nam đã phê chuẩn các văn bản này và đệ trình lên tổ chức UPU với yêu cầu được thừa kế (succession) tư cách của VNCH.
Ngoài ra, vào ngày 4/7/1976, chỉ hai ngày sau khi được thành lập, Bộ Ngoại giao của nhà nước CHXHCN Việt Nam đã gửi công hàm đến chính phủ Thụy Sỹ và tuyên bố khẳng định tiếp tục tham gia vào các hiệp ước của Công ước Geneva 1949 (Geneva Conventions of 1949) mà hai chính phủ VNDCCH và VNCH đã ký kết trước đó về các vấn đề bảo vệ nạn nhân chiến tranh.
Qua những ví dụ kể trên, chúng ta nhận thấy rằng bằng nhiều hành động khác nhau, cả hai chính phủ VNCH và VNDCCH đã khẳng định tư cách quốc gia của mình trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975.
Nhà nước Việt Nam hiện nay chưa bao giờ chính thức công nhận chính thể VNCH. Tuy nhiên, CHXHCN Việt Nam lại liên tục công nhận tư cách quốc gia của VNCH một cách gián tiếp, qua việc thừa kế hoặc tiếp nhận tư cách thành viên của VNCH tại các tổ chức và định chế tài chính quốc tế.
Ngày nay, có lẽ đối với nhiều người Việt Nam, đặc biệt là những thế hệ sinh ra và lớn lên sau năm 1975, tư cách quốc gia của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại miền Bắc Việt Nam là việc không còn phải tranh cãi.
Còn về chính thể Quốc gia Việt Nam – Việt Nam Cộng hòa tại miền Nam, chúng ta có thể đọc lại những gì mà Đại Hội đồng LHQ đã phát biểu khi đề cử QGVN tham gia LHQ trong phiên họp năm 1952. Từ đó, chúng ta có thể phần nào hiểu thêm được một quan điểm khác về sự tồn tại và tính chính danh của chính thể QGVN – VNCH:
“Quan điểm của Đại Hội đồng cho rằng (Quốc gia) Việt Nam là một nhà nước yêu chuộng hòa bình đúng như định nghĩa của Điều 4 Hiến chương, đã thể hiện nguyện ý cũng như có khả năng thực hiện các nghĩa vụ của Hiến chương, và do đó nên được chấp thuận tham gia làm thành viên của Liên Hiệp Quốc.”
Tài liệu tham khảo:
· Taiwan’s UN Dilemma: To Be or Not To Be
· Foreign Relations of the United States, 1964-1968, Volume IV, Vietnam, 1966
· 30th World Health Assembly Resolutions and Decisions 1977
· Asian Development Bank and Vietnam Fact Sheet
SOURCE:
https://luatkhoa.com/1954-1975-quoc-te-da-cong-nhan-hai-nuoc-viet-nam-nhu-the-nao/
.