Wednesday, July 1, 2020

Mặt trận Xuân Lộc: Chiến thắng cuối cùng của một quân đội anh hùng bị bội phản.








Ngày 20/03, Định Quán là một trong 4 quận của tỉnh Long Khánh, dọc theo Quốc lộ 20, đường đi Đà Lạt, bị Cộng quân tràn ngập. Ngày 25/03/1975 Bộ chính trị Cộng sản Bắc Việt (CSBV) quyết định đốt giai đoạn tổng tấn công, tập trung lực lượng đánh chiếm Sài Gòn trước mùa mưa.
Sau khi quân đoàn 1 và 2 di tản, CSBV từ miền Trung theo Quốc lộ 1 và Quốc lộ 20 thọc xuống Sài Gòn. Thị xã Xuân Lộc, cách Sài Gòn khoảng 80 cây số, là vòng đai bảo vệ phi trường Biên Hòa và là cửa ngõ của thủ đô Sài Gòn.

Từ đầu tháng 4-1975, Sư đoàn 18 BB, tiền thân là sư đoàn 10, được thành lập năm 1967 và các đơn vị Thiết giáp, Biệt động quân, Pháo binh đã rải quân trấn đóng trên một phòng tuyến dài 20 km. CSBV mở đầu chiến dịch Hồ chí Minh bằng cuộc tấn công Xuân Lộc từ ngày 09 tháng 4. Trận chiến đẫm máu kéo dài 12 ngày, kết thúc vào ngày 21/04, một chiến thắng cuối cùng của Quân lực VNCH sau hơn 20 năm chiến đấu bảo vệ miền Nam Việt Nam.
Tướng Lê Minh Đảo- Tư lệnh sư đoàn 18- trước khi lâm trận đã phát biểu trước báo chí bấy giờ: “Đánh một trận cho thế giới biết tiếng!”

Đối phương, tướng Cộng sản cũng phải nhìn nhận Xuân Lộc là phòng tuyến thép của QLVNCH:
Lê Đức Thọ: “Kết cục là anh em cũng không đánh được Xuân Lộc, bị thương vong nặng, phải rút ra”.
Văn Tiến Dũng: “Kế hoạch tấn công Xuân Lộc chưa tính hết được sự phát triển phức tạp của tình hình, chưa đánh giá hết tính chất ngoan cố của địch… Trận chiến ác liệt và đẫm máu từ những ngày đầu tiên. Các sư 6, 7, 341 của ta phải tiến công trong thành phố nhiều lần nhưng gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của trung đoàn 43 địch quân. Các đơn vị pháo của ta đã xử dụng nhiều hơn cơ số đạn dự trù. Số lớn tăng và xe bọc thép của ta bị hạ…” (Đại thắng Mùa Xuân).
Trần Văn Trà: “…vào cuối ngày 10 trở đi, tình hình trở nên căng thẳng. Địch phản công điên cuồng…” (Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm).
Tướng X. Smith, Trưởng phòng Tùy viên Quân sự (DAO), tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ, cảm phục và ca ngợi trận Xuân Lộc:
“Chiến trường Long Khánh chứng tỏ quyết tâm bảo vệ đất nước của quân đội VNCH và họ đã anh dũng chiến đấu chống lại địch quân đông gấp nhiều lần”

Nhân dịp Cựu thiếu tướng Lê Minh Đảo đến Toronto tham dự đêm gây quỹ do Hội Cựu Quân nhân QLVNCH Ontario tổ chức hôm 01/04, Thời Báo và VIETV đã phỏng vấn ông về trận đánh để đời nói trên.

* Ông có thể cho biết tương quan lực lượng hai bên trong trận Xuân Lộc?

Cựu thiếu tướng Lê Minh Đảo: 
“Mặt trận Xuân Lộc ác liệt ngay vào ngày đầu tiên 9 tháng 4 năm 1975 và kéo dài cho tới khi sư đoàn 18 rút ra khỏi trận địa vào ngày 21 tháng 4. Cộng sản Bắc Việt đã tung vào mặt trận này một quân đoàn gồm 3 sư đoàn là sư đoàn 341, sư đoàn 7, sư đoàn 6 và một sư đoàn pháo 130 ly, 122 ly và phòng không, một trung đoàn chiến xa và các đơn vị đặc công.
Do bị thiệt hại nặng, Cộng sản tăng cường thêm trung đoàn biệt lập 95C cùng với sư đoàn 325. Lực lượng này do Tướng Hoàng Cầm chỉ huy, chính ủy là tướng Hoàng Thế Thiện, nhưng sau 5 ngày, quân số bị tổn thất nặng, họ đưa Trần Văn Trà xuống điều nghiên và sau đó Trần Văn Trà chỉ huy luôn các đơn vị này vào giai đoạn hai.
Về lực lượng VNCH, trong 5 ngày đầu tiên chỉ có sư đoàn 18 bộ binh trừ do có một trung đoàn tăng phái cho sư đoàn 25. Tiểu đoàn 82 Biệt động quân từ Lâm Đồng rút về tạm ghé Long Khánh để dưỡng quân và chờ về Sài Gòn. Chúng tôi đã trang bị tiếp tế cho tiểu đoàn này đầy đủ để sẵn sàng ứng chiến. Khi Cộng sản tấn công vào đêm 8/4 tiểu đoàn này kẹt lại và lực lượng này được đặt dưới quyền chỉ huy của tôi cộng với lực lượng địa phương quân, nghĩa quân thuộc tiểu khu Long Khánh. Về không yểm, có sư đoàn 3 không quân trú đóng ở Biên Hòa.

* Diễn tiến trận Xuân Lộc?

Cựu thiếu tướng Lê Minh Đảo: 
Chiến trường Long Khánh gồm 3 mặt trận chính: Mặt trận ngã ba Dầu Giây do Trung đoàn 52 và một thiết đoàn chiến xa trấn giữ. Mặt trận núi Chứa Chan, Gia Rai do Liên đoàn 7 Biệt động quân và một đơn vị của Trung đoàn 43 Bộ binh phòng thủ. Thị xã Xuân Lộc do thành phần còn lại của Trung đoàn 43 Bộ binh và các tiểu đoàn Địa phương quân bảo vệ. Bộ tư lệnh hành quân chính của chúng tôi đặt tại quận đường Xuân Lộc, ngã ba Tân Phong-Long Giao. Ngoài ra, còn hai bộ chỉ huy lưu động đóng ở các vùng lân cận.
Cộng quân tấn công theo chiến thuật tiền pháo hậu xung. Họ bắn khoảng 2.000 quả vào 5 giờ 30 phút rạng sáng ngày 9/4. Đến 8 giờ sáng họ ồ ạt tấn công theo hai mũi có chiến xa yểm trợ, nhưng bị chúng tôi đẩy lui ra ngoài.

Ngày 10/4/75, họ cũng tiếp tục pháo vào Xuân Lộc, tỉnh lỵ Long Khánh từ 2.000 đến 3.000 quả đạn. Thành phố tan hoang, thường dân thiệt mạng rất nhiều nhưng đơn vị chúng tôi tổn thất rất ít vì tôi đã tổ chức trận địa trước và tôi biết pháo nó sẽ rót vào trong thành phố trong khi đó chúng tôi đóng quân ở bên ngoài chờ họ. Lần tấn công này họ huy động 2 sư đoàn 6, 7 và các trung đoàn thiết xa, tấn công khắp các mặt trận Đông, Tây, Nam, Bắc thành phố Xuân Lộc, từ tòa thị chính Long Khánh đến sân bay, nơi nào họ cũng sử dụng quân số cấp trung đoàn. Cuộc chiến kéo dài trong 2 ngày, và cả hai phía giành từng ngôi nhà, từng điểm phòng ngự. Ngày thứ ba, họ tiếp tục tấn công ác liệt như vậy. Tất cả là 3 ngày, mỗi ngày gần 3 trung đoàn, quân số tương đương một sư đoàn.

Sau ba ngày tấn công, Cộng sản vẫn không chọc thủng được phòng tuyến. Trong ba ngày đó, thương vong của họ ước lượng khoảng một sư đoàn rưỡi cho nên tới ngày thứ tư, thứ năm lực lượng Cộng sản yếu dần, chỉ tấn công qua loa nhưng cường độ pháo vẫn như trước, liên tục dội lên các đơn vị phòng thủ.

Sau 5 ngày chiến đấu, Trung tướng Toàn, Tư lệnh quân đoàn 3, Quân đoàn 3 nhận thấy tầm quan trọng của mặt trận Xuân Lộc nên mới tăng cường cho tôi Lữ đoàn I Nhảy dù với bốn tiểu đoàn: 1, 2, 8, 9. Tôi đưa một tiểu đoàn dù giữ sân bay Long Khánh, tăng cường thêm lực lượng phòng thủ của Đại tá Phạm Văn Phúc, Tỉnh trưởng Long Khánh.

Ba tiểu đoàn Dù còn lại đánh từ ngoài đánh vô sau lưng địch, bọc phía trong và ở ngoài đánh vào cũng như một ổ bánh mì sandwich. Nếu chúng tôi không rút quân, tôi sẽ bắt được cả một tiểu đoàn Bắc quân bị quân Dù bao vây vì họ bị triệt đường tiếp tế.
Trong trận Xuân Lộc, có những lúc chúng tôi một chống ba, có nơi một chống tới năm và có nơi như ở đồi Móng ngựa, chúng tôi chỉ có hai đại đội của tiểu đoàn 3 trung đoàn 52 nhưng phải chống nguyên cả một trung đoàn Cộng quân tăng cường chia làm ba hướng tấn công, coi như 1 chống 10.

Trận đồi Móng ngựa, tôi đã tổ chức hai tuần lễ trước rồi, chúng tôi tựa vào giao thông hào mà phòng thủ. Tôi gài họ vào trong đó để họ lọt vào trận địa pháo của tôi. Tôi chấm tọa độ hỏa tập ở nhiều khu vực chọn trước vì biết họ tới đó sẽ bị cầm chân. Trong này tôi đánh ra cầm chân họ, vô không được tất nhiên họ phải nằm ở đó. Khi họ nằm ở đó, tôi cho pháo binh bắn vào tiêu diệt. Pháo binh tôi đã đem tất cả ra ngoài và chúng tôi bắn vào trong thành phố yểm trợ các đơn vị nên họ bị thiệt hại rất lớn.

Tại ngã ba Dầu Giây, Cộng sản Bắc Việt đã đồng loạt tấn công chiến đoàn 52 Bộ binh từ ngày 12/4/75 bằng biển người, xe tăng và pháo binh. Lần lượt các tiền đồn, tuyến phòng thủ của trung đoàn 52 từ Kiệm Tân về tới ấp Phan Bội Châu trên quốc lộ 20 bị tràn ngập. Cuộc chiến trở nên ác liệt vào chiều ngày 15/4/75 ngay tại xã Dầu Giây, giao điểm hai quốc lộ 1-20, giữa chiến đoàn 52 (gồm trung đoàn 52, lữ đoàn 3 Thiết kỵ, các lực lượng Địa phương quân Kiệm Tân, Long Khánh; khoảng 2,000 người) và binh đoàn 4 Cộng sản Bắc Việt (trong đó có sư đoàn 341 tổng trừ bị của Hà Nội từ Thanh Hóa vào), do Trần Văn Trà chỉ huy.

Trong trận chiến nướng quân khủng khiếp này của Bắc Việt, 1 người lính VNCH đã phải chọi với 10 bộ đội Bắc Việt có xe tăng và pháo binh yểm trợ. Chiến đoàn 52, hết đạn dược, cuối cùng phải tan hàng vào đêm 15/4/75, sau 4 ngày đêm cầm cự. Chín giờ đêm ngày 15/04, hầm chỉ huy của chiến đoàn 52 bị sập do trúng pháo, đại tá Ngô Kỳ Dũng, chiến đoàn trưởng cho rút quân về Biên Hòa.

Được tin chiến đoàn 52 tan hàng, tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh quân đoàn 3 sau khi trình Bộ Tổng tham mưu đã ra lịnh cho không quân thả 2 trái bom “Daisy Cutter” xuống ngã ba Dầu Giây trong đêm 15/4/75.
10,000 quân Bắc Việt với chiến xa T54, đại pháo đang di chuyển trên quốc lộ 20 vừa tới ngã ba Dầu Giây bị trúng bom “Daisy Cutter” thiệt hại nặng.



Ngày 16/04/1975, tình hình bắt đầu biến chuyển khi mặt trận Phan Rang bể tuyến. Quân đoàn 2 Hương Giang của CSBV theo quốc lộ 1 xuyên qua Phan Rang xuống Phan Thiết để về Sài Gòn. Quân đoàn này đi vô Bình Tuy ngang qua Xuyên Mộc về Bà Rịa để từ Bà Rịa tấn công Biên Hòa, vì họ không thể xuyên qua ngõ Xuân Lộc nên họ đi hướng đó, đồng thời Trần Văn Trà thay đổi kế hoạch, tấn công phi trường Biên Hòa vì họ biết sư đoàn 3 không quân trú đóng tại đây yểm trợ cho chúng tôi.

Trước tình hình này, quân đoàn lo ngại tuyến phòng thủ chúng tôi nằm phía ở trên Xuân Lộc, trong khi cộng sản đã lọt được vào phía dưới, đi vòng ngõ tắt về Biên Hòa nên trung tướng Toàn thay đổi chiến thuật, đưa sư đoàn 18 bộ binh về giữ quốc lộ 1 từ Trảng Bom về Biên Hòa. Mặt trận này do chuẩn tướng Khôi, tư lệnh lữ đoàn 3 thiết giáp trấn giữ. Tướng Toàn ra lệnh cho tôi rút càng sớm càng tốt.

Ngày 20 tháng Tư năm 1975, lúc 9 giờ sáng, Tướng Nguyễn Văn Toàn, có Đại tá Hoàng Đình Thọ, Trưởng phòng 3 Quân đoàn tháp tùng vào Xuân Lộc. Tướng Toàn ra lệnh rút toàn bộ lực lượng tham chiến ra khỏi Xuân Lộc trong nội ngày hôm đó do Xuân Lộc không còn giá trị chiến lược.

Trước khi Cộng quân mở trận đánh Xuân Lộc, rút kinh nghiệm của cuộc di tản chiến thuật của quân đoàn 2, tôi đã đưa bệnh xá sư đoàn, tất cả gia đình binh sĩ về căn cứ Long Bình để quân nhân rảnh tay đối phó với địch quân nên chúng tôi có thể di chuyển dễ dàng, binh sĩ không vướng bận “thê nhi”.
Lộ trình triệt thoái là liên tỉnh lộ 22, đi từ Long Giao xuống ranh giới của quận Đức Thạnh ở Bình Giã đi về Bà Rịa, con đường đó dài khoảng 30 cây số.

Giờ xuất phát là 7 giờ tối để tạo bất ngờ cho địch quân. Một đơn vị khi đang chạm súng mạnh và hàng ngày như thế này mà phải rút quân là chuyện khó vô vàn. Đánh thì dễ, còn rút dễ hỗn loạn nhưng lệnh trên buộc chúng tôi phải rút.

Trước khi rút quân, tôi ra lệnh lữ đoàn dù và một tiểu đoàn sư đoàn 18 ở trên Núi Thị nã pháo vào các vị trí của họ và mở cuộc tấn công để làm cho họ tưởng rằng chúng tôi bắt đầu phản công để họ bận lo chống đỡ. Lúc đó, họ không ngờ chúng tôi đang chuẩn bị lui binh.
Tôi cho trung đoàn 48 đi đầu, có một đơn vị trọng pháo lớn tại căn cứ Long Giao yểm trợ. Sau đó là lực lượng cơ giới do đại tá Hứa Yến Lến Tham mưu trưởng hành quân dẫn đi, đem hết tất cả cơ giới nặng, cả xe, cả xác chết của binh sĩ mình trong ngày hôm đó không tải thương được, bỏ lên xe chở về hết tất cả. Kế đó là lực lượng tiểu khu. Xong rồi mới tới lực lượng của tôi là trung đoàn 43 do đại tá Lê Xuân Hiếu chỉ huy. Tôi và ông Hiếu cùng đi bộ để theo dõi cuộc rút quân. Lực lượng sau cùng là Lữ đoàn 1 Dù và tiểu đoàn 2/43 của sư đoàn 18. Cuộc rút quân này tương đối an toàn. Chúng tôi đã đem tất cả toàn bộ đơn vị ra khỏi Bình Giã vào ngày hôm sau lúc 9 giờ sáng.

Riêng tiểu đoàn Dù 9 giờ tối, mới tới quốc lộ. Tại đây, tất cả giáo dân của xóm đạo Bảo Định, Bảo Toàn, Bảo Hòa đã tập trung sẵn hai bên vệ đường để theo chân lính di tản.
Do rút trễ, Cộng quân phát giác quân Dù lui binh, họ bám đuôi đánh vào đại đội pháo binh của Dù. 4 giờ sáng ngày 21/04, tại ấp Suối Cá, gần ranh giới Long Khánh – Phước Tuy, tiểu đoàn 3 Dù đã bị 2 tiểu đoàn CSBV phục kích gây thương vong. Sau khi đến nơi, tôi bay ngược trở lại với anh em Dù. Đến 12 giờ trưa, anh em Dù cũng rút ra được hết tất cả.

Ngoài những thiệt hại kể trên, cuộc rút quân trên liên tỉnh lộ 2 coi như đạt kết quả vượt mức mong đợi. Sư đoàn 18 Bộ binh được chỉ định về phòng thủ tuyến phía Đông thủ đô Sài gòn từ tổng kho Long Bình đến kho đạn thành Tuy Hạ và Lữ đoàn 1 Dù có trách nhiệm bảo vệ quốc lộ 15 từ Long Thành về Bà Rịa.

Sau 12 ngày đêm chiến đấu kiên cường dù phải chống trả với một quân số nhiều lần, các lực lượng phòng thủ Xuân Lộc đã gây tổn thất nặng cho CSBV, buộc họ phải đưa các quân đoàn của họ đi vòng để tiến về Sàigòn.

Chín ngày sau đó, ngày 30 tháng 4 năm 1975, hàng tướng Dương Văn Minh ra lệnh buông súng, Sài Gòn thất thủ.

* Với tư cách là một cựu tướng lãnh, thiếu tướng có thể cho biết nhận định của cá nhân ông về cuộc di tản của quân đoàn 1 và 2. Có phải đây là nguyên nhân khiến miền Nam bị sụp đổ?

*** Cựu thiếu tướng Lê Minh Đảo: 
Cuộc di tản hai quân đoàn này chỉ là ngọn, gốc là Ban Mê Thuột. Tôi không có mặt ở đó nên không dám phê phán về hai cuộc rút quân này. Cố Tổng thống Thiệu và các tướng lãnh vùng có nỗi khổ và khó khăn của riêng họ. Tuy nhiên theo ý kiến cá nhân tôi, tướng phải đi theo quân khi lui binh và cuộc rút quân phải được thực hiện trước khi bị tấn công. Gia đình quân nhân, lương bổng không đủ sống, phải ở trong các trại gia binh. Người lính chiến đấu để bảo vệ gia đình nên khi rút quân, gia đình đi theo khiến cho cuộc rút quân trở nên khó khăn. Tôi nghĩ rằng, mất Ban Mê Thuột không có nghĩa là Pleiku, Kontum sẽ mất.

Nếu đã mất Ban Mê Thuột cứ để đó, ở đâu giữ đó, không cần phản công lấy lại Ban Mê Thuột. Trong 6 tháng sau đó, có thể sẽ có giải pháp thay đổi vận nước. Quân đoàn 1 và 2 rút quân khiến tinh thần quân nhân các cấp hoang mang, dẫn đến sụp đổ dây chuyền. Quân đoàn 2 mất dẫn đến tình trạng quân đoàn 1 bị cô lập, buộc quân đoàn 1 phải rút theo. Thực ra, chúng ta chỉ có thể kéo dài cuộc chiến đến năm 1976. Việt Nam chỉ là điểm nóng trong chiến tranh lạnh, nhưng mình không có thể và không được quyết định vận mệnh của mình. Mình tiếp tục chiến đấu vì đất nước này là của mình. Người lính VNCH đã làm quá sức của họ và họ không hề than van.

Mỹ vì quyền lợi của họ cũng như thế chiến lược của họ, họ bội ước với VNCH, bỏ rơi VNCH, đem Việt Nam dâng cho cộng sản Tàu để dễ liên minh với Tàu Cộng. Mỹ đã thắng Nga trong cuộc chiến tranh lạnh trong khi đó chúng ta bị bức tử.

* Thiếu tướng có nghĩ rằng mọi nỗ lực và gian khổ của quân nhân để giữ vững phòng tuyến Long Khánh, xương máu của biết bao nhiêu chiến sĩ hy sinh trong trận này, cuối cùng cũng chỉ là “dã tràng xe cát”, nước lã ra sông…?

Cựu Thiếu tướng Lê Minh Đảo:  
Là người lính, chúng ta chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, vì danh dự và trách nhiệm của một quân nhân. Tôi phải làm tròn trách nhiệm đã được cấp chỉ huy giao phó. Nếu được làm lại, tôi cũng sẽ không thay đổi quyết định, sẽ ở lại chiến đấu như đã làm vào tháng 4 năm 1975. Sự hy sinh của chúng tôi không uổng phí vì nhờ 12 ngày đêm đó, hàng trăm ngàn người có thể thoát khỏi Việt Nam vào những ngày cuối cùng của tháng Tư đen và từ đó hình thành nên Cộng đồng người Việt hải ngoại hiện nay.

* Thiếu tướng có bao giờ oán trách cấp trên đã bỏ ông ra đi vào giờ phút cuối cùng của cuộc chiến?

Cựu thiếu tướng Lê Minh Đảo: 
Người lính kham khổ, nghèo, thua thiệt, hy sinh mạng sống nhưng có bao giờ nghe họ oán trách cấp chỉ huy? Tôi cũng vậy. Tôi làm tròn nhiệm vụ của tôi. Những người nào làm sai, họ chịu trách nhiệm với lịch sử, với lương tâm của họ.
Thế hệ chúng tôi hồi tôi mới qua đây tôi thấy anh em buồn lắm. Anh em có vẻ còn mặc cảm là người thua cuộc. Tôi thường nói với anh em đừng mặc cảm. Các anh em đã làm hết bổn phận của các anh em rồi. Hoàn cảnh cũng như bạn đồng minh không cho chúng ta có cơ hội thắng, nhưng các anh em đã làm đầy đủ trách nhiệm của một quân nhân.

* Vào thời điểm đó, Thiếu tướng có đủ điều kiện để cá nhân ông và gia đình ra đi, nhưng ông quyết định ở lại cùng với vợ và 9 người con và trả giá chiến thắng bằng 17 năm tù Cộng sản. Ông có ân hận về quyết định này?

Cựu thiếu tướng Lê Minh Đảo: 
Tôi vẫn nghĩ rằng tôi đã quyết định đúng. Lúc ở trong tù tôi buồn lắm khi nghe con tôi phải đi bán guốc để sống còn. Năm 1979, khi các con tôi vượt biên thoát được đến bến bờ Tự do, tôi vô cùng nhẹ nhõm. Là người chỉ huy, tôi kêu gọi anh em quân nhân bám chiến tuyến đến khi có lệnh rút quân. Gia đình của họ cũng ở sát cạnh họ. Làm sao tôi và gia đình tôi có thể bỏ đi được. Như vậy là không công bằng, không xứng đáng là cấp chỉ huy. Dù chịu 17 năm tù nhưng lương tâm tôi yên ổn, và các con tôi có thể tự hào về người cha của chúng.
Buổi chiều ngày 29/04/1975, Tướng Đảo đã triệu tập một cuộc họp tại Bộ Tư lệnh sư đoàn 18. Ông đã nghẹn ngào nói với các chiến hữu :“Tôi sẽ ở lại chiến đấu với các anh em. Vợ con tôi vẫn ở lại Sàigòn, không đi đâu cả. Tôi có trực thăng, nhưng tôi sẽ không bỏ anh em để bay ra Hạm đội”.
Ngày 29/04/1975, Sài Gòn hấp hối. Ngày 30/04/1975, Sài Gòn trút hơi thở cuối cùng. Cùng ngày, cựu Thiếu tướng Lê Minh Đảo tìm đường về vùng 4 Chiến thuật để tiếp tục chiến đấu nhưng khi đến Cần Thơ ông hay tin Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân đoàn 4 và Tướng Lê Văn Hưng đã tuẫn tiết, ông quay trở về Sài Gòn và bị đày đọa 17 năm trong lao tù Cộng sản từ ngày 09/05/1975 đến ngày 05/05/1992. Năm 1993, tướng Lê Minh Đảo định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O. Ông là một trong 4 tướng lãnh VNCH bị Hà Nội giam cầm lâu nhất. Ba tướng lãnh khác là Cựu Thiếu tướng Trần Bá Di (1931- 2018), Cựu Chuẩn tướng Lê Văn Thân (1932-2005) và cựu Thiếu tướng Đỗ Kế Giai (1929-2016).


Update:  Thiếu tướng Lê Minh Đảo (1933-2020)





SOURCE:
http://tuongvang.org/2020/03/17/dong-phuong/tai-lieu/mat-tran-xuan-loc-chien-thang-cuoi-cung-cua-mot-quan-doi-anh-hung-bi-boi-phan/

.

12 ngày đêm trận chiến Xuân Lộc (Mặc Lâm)


Sơ đồ trận chiến Xuân Lộc tháng 4/1975

Đúng vào ngày 8 tháng 4 năm 1975 bốn mươi năm về trước trận chiến 12 ngày đêm tại Xuân Lộc vẫn còn sống mãi trong lòng rất nhiều người đặc biệt là các đơn vị tham gia trực tiếp.

Mặc Lâm được dành riêng một cuộc phỏng vấn với Thiếu tướng Lê Minh Đảo, Tư lệnh sư đoàn 18 Bộ binh cũng là vị tướng mang trọng trách bảo vệ vành đai Xuân Lộc trước cuộc tấn công của quân đội miền Bắc nhằm chiếm lĩnh Biên Hòa và tiến về Sài Gòn sau đó.

Mặc Lâm: 
Xin cám ơn Thiếu tướng Lê Minh Đảo đã dành cho đài Á châu Tự do cuộc phỏng vấn đặc biệt này. Thưa ông ngày 8 tháng 4 hàng năm chắc có lẽ là ngày đáng nhớ nhất trong cuộc đời tướng lãnh của ông, xin Thiếu tướng cho biết diễn tiến trận đánh này để thính giả, độc giả của đài có cơ hội biết thêm những gì mà nhiều người chưa rõ ràng lắm thưa ông.

Thiếu tướng Lê Minh Đảo: 
Tôi có lời chào tất cả quý thính giả của đài Á châu Tự do và chào ông Mặc Lâm. Bây giờ tôi xin đi thẳng vào vấn đề của mặt trận Xuân Lộc. Mặt trận Xuân Lộc nó ác liệt đẫm máu ngay vào ngày đầu tiên 8 tháng 4 năm 1975 và kéo dài cho tới ngày sư đoàn 18 rút ra khỏi trận địa vào ngày 21 tháng 4. Cộng sản Bắc Việt đã tung vào mặt trận này một quân đoàn tăng cường gồm 3 sư đoàn là sư đoàn 341, sư đoàn 7 sư đoàn 6 và một sư đoàn pháo 130 ly, 122 ly và phòng không. Trung đoàn chiến xa và các đơn vị đặc công.

Đến 5 ngày sau sau khi họ thiệt hại khá nặng nề thì họ tăng cường thêm trung đoàn biệt lập 95A cùng với sư đoàn 325 nữa. Lực lượng này do Tướng Hoàng Cầm chỉ huy nhưng sau 5 ngày tổn thất thì họ điều Trần Văn Trà xuống điều nghiên và sau đó Trần Văn Trà chỉ huy luôn các đơn vị này của giai đoạn hai.

Còn lực lượng của VNCH trong 5 ngày đầu tiên chỉ có sư đoàn 18 bộ binh trừ một tiểu đoàn tăng phái cho quân đoàn III đưa qua sư đoàn 25. Có tiểu đoàn 82 biệt động quân họ rút đi từ Lâm Đồng tạm ghé Long Khánh để dưỡng chân và chờ về Sài Gòn. Chúng tôi đã trang bị tiếp tế cho tiểu đoàn này đầy đủ và họ sẵn sàng ứng chiến. Khi họ ứng chiến ở đó thì cộng sản đánh vào đêm 8 thì họ kẹt lại và lực lượng này đặt dưới quyền chỉ huy của tôi. Cho nên tôi có một tiểu đoàn Biệt động quân cộng thêm các lực lượng địa phương quân, nghĩa quân và tiểu khu Long Khánh. Về lực lượng yễm trợ thì có sư đoàn III không quân gồm có các phi tuần khu trục và các trực thăng chở quân và võ trang của Biên Hòa.

Về diễn tiến của cuộc hành quân này thì vào ngày 8 cộng quân ồ ạt tấn công dưới chiến thuật của họ là tiền pháo hậu xung tức là họ pháo kích trước rồi cho đơn vị xung phong vào sau. Họ pháo ác liệt trong suốt ngày đầu tiên 2.000 quả tối đêm 8 rạng ngày 9.  Đến sáng họ cho hai mũi tấn công có chiến xa yễm trợ, tức nhiên họ bị chúng tôi đẩy lui ra ngoài.

Ngày thứ hai họ cũng tiếp tục tấn công như vậy, pháo vào 2.000 quả họ bắn vào thành phố kể như nát hết tất cả nhưng đơn vị chúng tôi thiệt hại rất ít vì tôi đã tổ chức trận địa trước và tôi biết pháo nó sẽ rớt ở trong chứ không thể rớt ở rìa ngoài trong khi chúng tôi đóng ở rìa bên ngoài chờ họ. Ngày thứ ba họ tiếp tục tấn công vũ bão như vậy là 3 ngày tất cả, mỗi ngày gần 3 trung đoàn kể như một sư đoàn.

Sau ba ngày tấn công họ vẫn không vào được và tổn thất rất nặng nề. Trong ba ngày đó họ tổn thất khoảng một sư đoàn rưỡi cho nên tới ngày thứ tư, thứ năm thì lực lượng họ yếu dần họ chỉ tấn công lấy lệ nhưng mà cường độ pháo của họ vẫn tiếp tục mạnh mẽ áp đảo thật nặng vào thị xã Xuân Lộc và các đơn vị phòng thủ.

Đến đây thì mặt trận Xuân Lộc có biến chuyển khác. Quân đoàn thấy mặt trận trở nên quan trọng ở đó cho nên ông Tư lệnh quân đoàn là Trung tướng Toàn mới tăng cường cho tôi một lữ đoàn I nhảy dù với bốn tiểu đoàn. Trực thăng từ Biên Hòa do Chinook đưa vào. Tôi đưa một tiểu đoàn để giữ sân bay Long Khánh giúp cho ông Đại tá Phúc Tỉnh trưởng Long Khánh để có lực lượng bảo vệ cho vững chắc để tôi yên tâm một chút.
Ba tiểu đoàn còn lại đánh từ ngoài đánh vô sau lưng địch bọc phía trong và ở ngoài đánh vào cũng như một ổ bánh mì sandwich. Nếu chúng tôi còn tiếp tục ở lại thì có thể nói với anh rằng tôi sẽ bắt luôn một tiểu đoàn của cộng quân bị kẹt vì họ không còn ai tiếp tế cho họ hết tại một vườn cây ăn trái tại Xuân Lộc.

Có những lúc chúng tôi phải đánh với họ một chống ba, có nơi một chống tới năm và có nơi như ở đồi Móng ngựa chúng tôi chỉ có hai đại đội phải chống nguyên cả một trung đoàn tăng cường chia làm ba hướng vào nhưng mà họ cũng khó mà đánh thủng chúng tôi được. Tại sao? Có thể nói chúng tôi yếu lực lượng nhưng mình yếu thì mình dùng mưu, dùng kế hoạch, mình không dùng sức.

Trận địa đó tôi đã tổ chức hai tuần lễ trước rồi cứ giao thông hào mà đánh. Tôi gài họ vào trong đó để họ dính vào trận địa pháo của tôi. Tôi có những cái hỏa tập ở nhiều khu vực chọn trước vì biết được họ tới đó sẽ bị cầm chân. Trong này tôi đánh ra cầm chân họ mà vô không được thì họ phải nằm ở đó. Khi họ nằm ở đó thì tôi cho pháo binh pháo vào tiêu diệt. Pháo binh tôi đem ra ngoài tất cả và tôi bắn vào trong thành phố yễm trợ các đơn vị cho nên sự thiệt hại của họ rất lớn.

Mặc Lâm: 
Thưa Thiếu tướng với tình hình mà Thiếu tướng vừa diễn tả đâu có gì quá nguy hiểm khiến ông phải rút quân ồ ạt vào ngày 20 tháng 4? Có gì thay đổi quan trọng khiến cho ông buộc phải rút quân thưa Thiếu tướng?

Thiếu tướng Lê Minh Đảo: 
Tình hình bắt đầu thay đổi khi ngày 16 tây thì mặt trận Phan Rang bắt đầu bể, một quân đoàn gọi là quân đoàn 2 Hương Giang họ đi ở quốc lộ 1 xuyên qua Phan Rang họ xuống Phan Thiết để về Sài Gòn. Họ đi vô Bình Tuy ngang Xuyên Mộc về Bà Rịa để tấn công con đường Bà Rịa đi Biên Hòa, đây là một sự uy hiếp vì họ không thể đi ngõ Xuân Lộc nên họ đi ngõ đó. Đồng thời Trần Văn Trà đã thay đổi kế hoạch họ đánh phá rất mạnh vào phi trường Biên Hòa vì họ biết phi trường đó còn thì sẽ yễm trợ cho chúng tôi. Mỗi ngày chúng tôi có chừng 50 phi xuất của Biên Hòa thành ra yễm trợ cho chúng tôi nhất là trực thăng võ trang anh em đó đánh rất là ngoan cường, đánh rất hay rót bom lên địch thành ra họ bị thiệt hại rất nhiều vì phi pháo của chúng tôi.

Chiến đoàn 52 của tôi ở tại ngã ba Dầu giây họ đánh nhiều ngày hết đạn dược rồi nên họ xuyên rừng đi thẳng vào rừng, họ đi xuyên rừng Bình Sơn để về Biên Hòa. Trước sự uy hiếp trên quân đoàn sợ rằng mặt trận của tôi nằm ở phía trên mà cộng sản nó đã lọt được vào bên dưới do quân đoàn Hương Giang đi từ bên kia nó vòng ngõ tắt về Biên Hòa cho nên ông trung tướng Toàn ra lệnh phải thay đổi chiến thuật, xin Tổng thống Thiệu và Tổng thống chấp nhận phải đổi chiến thuật là đưa sư đoàn 18 bộ binh về giữ mặt trận Trảng Bom, giữ quốc lộ 1 từ Trảng Bom về Biên Hòa.

Mặt trận này hồi nào đến giờ do Chuẩn tướng Khôi, tư lệnh lữ đoàn 3 thiết giáp, đem chiến đoàn lên giữ mặt trận đó mà không lên tiếp được cho sư đoàn 18 tại vì ổng kẹt ngay chỗ đó vì tụi Việt cộng nó chận và ổng phải cầm cự ở đó. Thật ra thì ông Toàn cũng muốn giữ lực lượng đó để bảo vệ cho quân đoàn III nếu cái đoạn này mà lữ đoàn 3 dính vào mà nó đánh vô thì ổng không có đường mà đỡ, ổng ra lệnh  cho tôi rút càng sớm càng tốt.

Một đơn vị khi đang chạm súng mạnh và hàng ngày như thế này mà phải rút quân là chuyện khó vô vàn. Đánh thì dễ còn rút thì dễ hỗn loạn và bị thua nhưng bây giờ lệnh thì phải rút. Kế hoạch tôi rút là dùng một chiến thuật không ngờ. Cái táo bạo của tôi là đi vào con đường hậu phương của nó. Đó là liên tỉnh lộ Long Giao, con lộ đi từ Long Giao xuống ranh giới của quận Đức Thạnh ở Bình Giả đi về Bà Rịa con đường đó dài khoảng 30 cây số.

Tôi biết khi họ đánh mặt trận lớn bên ngoài thì chỗ này không đáng kể, họ coi không quan trọng, họ điều nghiên chỗ khác coi như chỗ đó không có.
Muốn rút trên con đường này tôi lại ra lệnh lần nữa là không rút ban ngày, rút ban ngày địch nó biết nên tôi rút ban đêm. Bắt đầu 8 giờ tối tôi cho rút quân vì tôi biết cộng sản không bao giờ có thể nghĩ rằng một đại đơn vị của quân lực VNCH mà rút quân vào ban đêm như thế này hết, họ không bao giờ ngờ! Sáng hôm ông Toàn ra lệnh tìm cách rút quân thì tôi đã cho lệnh tất cả lữ đoàn dù và một tiểu đoàn của tôi ở trên Núi Thị nã pháo vào các vị trí của họ và mở cuộc tấn công để làm cho họ thấy rằng chúng tôi bắt đầu phản công để tiêu diệt họ thì họ lo chống đỡ và nghĩ rằng chúng tôi đánh họ chứ họ không biết khi đó tôi chuẩn bị rút đi.

Rút quân trong cuộc hành quân này thì rất táo bạo nhưng phải bình tĩnh tối đa, rút từng đơn vị. Trước hết tôi cho trung đoàn của tôi đi đầu, trung đoàn đó được một đơn vị pháo lớn tại căn cứ Long Giao của trung đoàn 48 nằm đó nó yễm trợ. Khi họ rút được êm rồi thì đơn vị pháo đó rút sâu dưới kia họ bắn ngược lên. Sau đó là lực lượng cơ giới do ông Đại tá Tham mưu trưởng hành quân (đại tá Hứa Yến Lến) của tôi ổng dẫn đi, đem hết tất cả cơ giới nặng, cả xe cả xác chết của binh sĩ mình trong ngày hôm đó không đi được bỏ lên xe chở về hết tất cả.

Kế đó là lực lượng tiểu khu xong rồi thì mới tới lực lượng của tôi là trung đoàn 43 do ông Đại tá Lê Xuân Hiếu và tôi cùng đi với ổng đi bộ để chỉ huy. Lực lượng sau  cùng là Lữ đoàn dù và tiểu đoàn 2/43 của sư đoàn 18 rút sau. Cuộc rút quân này tương đối an toàn lắm. Chúng tôi đã đem tất cả đại bộ phận của mình đi ra khỏi Bình Giả sáng ngày hôm sau vào lúc 9 giờ thì tới rồi.
Chỉ có buổi sáng do rút trễ cho nên quân dù bị kẹt vì nó biết được do những đơn vị bôn tập nó đánh vội vàng đánh vào đại đội pháo của dù khi đại đội này rút đi. Nhưng rồi sau khi đến nơi tôi bay tới yễm trợ ngược trở lại với anh em dù, lúc 12 giờ trưa thì anh em cũng rút ra hết tất cả.

Xuân Lộc ngày 13/4/1975. 

Mặc Lâm: 
Vâng thưa Thiếu tướng cho tới hôm nay vẫn còn một câu hỏi đặt ra trước việc có nhiều người cho là hai trái bom CBU-55 đã thả trong trận chiến khu vực Tân Lập nhưng cũng có người đã khước từ nói là chuyện này không có. Xin Thiếu tướng cho biết vấn đề này như thế nào.

Thiếu tướng Lê Minh Đảo: 
CBU-55 thì nó hút hết tất cả không khí oxygen làm người ta chết chứ còn hai trái bom mà đánh ở đó là BLU 82 đó nặng 14 ngàn pound nói theo kilogram thì nó chừng 7 tấn. Trái bom đó Hoa Kỳ họ đem qua Việt Nam họ dùng trong khi họ còn ở đây. Quả bom đó để tại Việt Nam nhưng không có ngòi nổ vì họ đã đem ngòi nổ về Mỹ. Và khi có phái bộ của ông đại tướng Frederick Weyand ổng qua duyệt xét tình hình, mang hai chiếc tank M48 trên phi cơ Galaxy để làm quà viện trợ cho quân lực VNCH đồng thời chở các em mồ côi về Mỹ. Chiếc phi cơ này bị rớt ở Tân Sơn Nhất. Phái bộ này họ đem mấy cái ngòi nổ cho mấy quả bom BLU 82 qua bởi họ thấy cộng sản nó đi lẹ quá họ cho VNCH cái đó để cản bước tiến của cộng sản. Trong mặt trận Xuân Lộc của tôi được họ cho 2 trái. Tôi không biết là có cái này đâu, tôi phải nói là như vậy.

Tôi chỉ biết là mỗi một ngày tôi chấm tọa độ. Tối tôi chấm tọa độ nơi nào cộng sản đóng quân, chẳng hạn chỗ này sư đoàn đóng chỗ này trung đoàn đóng, chỗ này là điểm tập trung quân của quân đoàn còn chỗ này là điểm của một đơn vị sắp sửa xuất phát. Tại sao tôi biết? Bởi vì trong cuộc chiến thì tới giờ này tôi nói luôn cho biết về vấn đề gọi là mật mã.Tháo ra hết tất cả mật mã của cộng sản thì chúng tôi có Phòng 7 họ gửi bao nhiêu chúng ta mở ra hết  tất cả. Buổi chiều khi họ truyền tin thì chúng tôi bắt được hết. Họ báo tất cả bức điện của họ bằng chữ, ví dụ một lô chữ azkd...nhưng trong số chữ đó chúng tôi biết đọc ra mật mã, chính chỗ đó nên tôi đánh trúng họ và họ thiệt hại rất nhiều.

Trung tâm phối hợp hỏa lực của tôi chiều nào cũng kiểm tra cái này hết. Những mục tiêu xa tập trung những đơn vị của họ ở gần trên Định Quán thì tôi xin quân đoàn cho tôi đánh mục tiêu này. Tôi xin đánh vào mục tiêu đó nhưng tôi không biết rõ là quân đoàn đánh bằng quả bom BLU 82. Sự thiệt hại của địch quân rất cao. Còn một quả nữa thì tôi thấy nó không ép-phê gì trong trận địa của tôi, trái thứ hai không kết quả bao nhiêu.

Mặc Lâm: 
Thưa Thiếu tướng sau khi miền Nam hoàn toàn thất thủ thì Thiếu tướng cũng như toàn bộ sĩ quan, cán bộ viên chức cao cấp của VNCH đều bị giam giữ và chế độ mới gọi những tù nhân này là tù cải tạo. Có bao giờ ông đòi hỏi chế độ phải thay đổi cách gọi như vậy mà phải gọi chính xác những người tù này là “tù binh chiến tranh” hay không?

Thiếu tướng Lê Minh Đảo: 
Lúc đó chúng nó cả vú lấp miệng em nó nói: các anh còn cái gì nữa, còn đất nước đâu? Sự thật thì chúng tôi có còn đất nước đâu? Lực lượng bạn, đồng minh đã phản bội rồi. Tất cả các nước ký Hiệp định Paris họ đều êm re, họ như đầu hàng trước bạo lực của Cộng sản. Chúng tôi là những con người sống lạc loài trong xứ sở của mình mà cộng sản gán cho chúng tôi thành tội nhân của chiến tranh thành ra chúng tôi không nói được.

Chúng áp đặt chúng tôi, buộc tội chúng tôi ngay trong cái bản án, thí dụ một ông Trung tá thì nó đề: Ông Trung tá can tội gì? Can tội Trung tá tiểu đoàn trưởng hay cái gì đó. Còn tôi, tôi là Lê Minh Đảo, can tội gì? Can tội Tư lệnh sư đoàn 18 bộ binh! Như vậy sư đoàn 18 bộ binh là cái tội sao? Nó nắm quyền sinh sát trong tay nó nói gì nó nói làm sao chúng tôi nói được. Chúng tôi không nghe nó nói, chúng tôi chỉ kiên cường bất khuất trong nhà tù, cắn răng mà chịu.
Nó bắt mình quỳ nhưng mình không quỳ. Anh em họ chiến đấu một cách can trường như vậy. Đến ngày bắt buộc chúng nó phải thả chúng tôi ra có người nào trong đó mà được chúng tẩy não, rửa sạch theo cộng sản đâu?

Mặc Lâm: 
Trong lúc bị giam giữ cá nhân Thiếu tướng và các vị tướng khác có được đối xử một cách khác biệt hay không, chẳng hạn về tiện nghi cũng như chế độ ăn uống có đặc biệt hơn những anh em khác?

Thiếu tướng Lê Minh Đảo: 
Nó giam riêng chúng tôi, nó sợ giam chung với nhau thì dù sao chăng nữa kỷ luật quân đội cũng như hệ thống quân giai anh em họ còn nể trọng chúng tôi thành ra khó cho nó. Nó giam riêng chúng tôi nó hành hạ chúng tôi kiểu khác.
Có lần nó thử đưa tôi với ông Tướng Sang về trại giam Nam Hà nhưng do sự kính nể của anh em đối với cấp chỉ huy và thấy tôi bắt đầu quậy thì nó đem tôi về lại.

Mặc Lâm: 
30 tháng 4 năm nay là kỷ niệm 40 năm cuộc di tản khổng  lồ của người dân Việt. Nhìn ngược lại cuộc chiến đã qua Thiếu tướng thấy điều gì cần phải ghi nhớ và mổ xẻ như một kinh nghiệm sống không thể quên cho toàn dân tộc?

Thiếu tướng Lê Minh Đảo: 
Khi cuộc chiến tranh chấm dứt rồi tôi đang bị cộng sản đày đọa, bây giờ nhìn ngược lại cuộc chiến tranh Việt Nam trong suốt hai mươi mấy năm chúng tôi đã chiến đấu để bảo vệ đất nước mà rốt cuộc chúng tôi không làm tròn nhiệm vụ của mình là bảo vệ người dân Việt Nam thoát khỏi ách cộng sản.

Tôi nghĩ cuộc chiến nó như thế này, cuộc chiến tranh Việt Nam nếu anh nhìn kỹ  chiến tranh lạnh kéo dài 50 năm giữa thế giới tự do và bên kia là cộng sản độc tài Nga và Trung cộng.từ sau năm 1945 sau khi chiến tranh thế giới thứ II chấm dứt thì Việt Nam là một điểm nóng trong cộng. Nó kèn cựa dành giựt từng quốc gia, từng tấc đất để lấy ảnh hưởng của mình. Còn Việt Nam là điểm nóng trong cuộc chiến tranh lạnh đó. Nó lạnh nhưng Việt Nam thì nóng.

Bây giờ nhìn lại: Ai thắng, ai bại, ai thua, ai đau khổ nhiều nhất? Tôi thấy rốt cuộc lại thì Mỹ thắng, thắng vẻ vang trong cuộc chiến tranh lạnh kéo dài 50 năm. Mỹ đã hoàn toàn triệt tiêu chế độ cộng sản ở Liên xô.

Mỹ dùng chiến tranh Việt Nam để rồi bắt tay được với Trung Quốc. Họ đã hóa giải được với Trung cộng để kéo Trung Quốc về làm lực lượng của mình để rồi tiếp tục sức mạnh của Mỹ với sự để yên của Trung Quốc và chấp cánh thêm để đập tan Xã hội chủ nghĩa của Liên xô là mối đe dọa của thế giới tự do thì tôi thấy Mỹ đã thắng. Mỹ vì quyền lợi của họ cũng như thế chiến lược của họ, họ bội ước với VNCH, họ bỏ rơi VNCH đem VNCH dâng cho cộng sản Tàu để liên minh với cộng sản Tàu.

Không phải mình ghét hay căm thù mình nói mà đây là sự thật lịch sử. Tội đồ của dân tộc Việt Nam là cộng sản Việt Nam đã cõng rắn cắn gà nhà. Họ đã hiến dâng cái giang san này cho kẻ thù phương Bắc. Họ cầm quyền cai trị, đày ải dân mình. Họ dâng đất dâng biển của mình cho Tàu, cam tâm làm nô lệ cho phương Bắc đổi lấy quyền cai trị ngồi lên đầu dân tộc cỡi cổ vĩnh viễn.
Bây giờ tôi nói về nạn nhân của cuộc chiến tranh Việt Nam: toàn thể nhân dân cả hai miền Nam Bắc chứ không phải chỉ có miền Nam không mà là miền Bắc. Miền Bắc đã hy sinh rất nhiều những đứa con ưu tú của mình. Cái sức sống của quốc gia của từ 3 tới 4 triệu người. Rồi cũng cái tập đoàn đó nghe lời lường gạt họ gây tang tóc cho gần 1 triệu người ở miền Nam nữa. Năm triệu thanh niên miền Nam và miền Bắc đã chết oan uổng vì sự ngu xuẩn tàn độc của đảng Cộng sản Việt Nam. Có thể nói đây là một thiệt hại to lớn cho dân tộc chúng ta do Cộng sản Việt Nam đã tạo ra cuộc chiến tranh này đưa Việt Nam đến sự đau khổ ngày hôm nay.

Sự đau khổ của người dân Việt Nam thì ai là người đau khổ tột cùng? Chính người phụ nữ Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc, nhất là ở ngoài Bắc thì nhiều hơn. Họ mất chồng, mất cha, mất con. Chính đây là sự đau khổ của chị em trong cuộc chiến tranh oan nghiệt này đã làm cho đất nước Việt Nam của chúng ta đầy tang tóc và nước mắt lúc nào cũng không ngưng chảy cho đến ngày hôm nay.
Chúng ta thấy rằng ngày nào họ còn cai trị đất nước thì cộng sản Tàu còn bành trướng theo kiểu mới đối với dân tộc của ta và dân tộc sẽ chết dần chết mòn đi đến diệt vong.

Mặc Lâm: 
Đó là với người cộng sản Việt Nam, riêng về Hoa Kỳ một thời từng là đồng minh cay đắng của VNCH thì ông có kinh nghiệm gì để chia sẻ thưa Thiếu tướng?

Thiếu tướng Lê Minh Đảo: 
Tôi nói như thế này, tôi có thương mà tôi cũng có buồn!
Tôi thương và kính trọng nhân dân Hoa Kỳ họ đã dang tay rộng mở đón tiếp chúng ta, lòng họ hào hiệp lắm nhờ họ mà chúng ta mới sponsor cho người Việt ngày nay. Những người mà tôi kính trọng, tôi thương và tôi khóc đó là những người lính Mỹ chiến đấu tại Việt Nam. Họ có lý tưởng anh à. Họ chiến đấu vì lý tưởng tốt đẹp cho tự do và họ làm tròn bổn phận công dân của họ nhưng vì thế lực chính trị của Hoa Kỳ, những thế lực mà tôi không ưa được. Họ sống theo mùa, họ sống như con cắc kè họ đổi màu đủ thứ hết trơn. Họ chỉ vì quyền lợi cá nhân của họ, họ vì quyền lợi đảng phái của họ mà họ đã giết cả một dân tộc người ta một cách tàn nhẫn không tiếc thương gì cả.

Họ cũng giết người dân tộc của họ một cách lạnh mình. Những người lính Mỹ từ Việt Nam trở về có được họ đón tiếp gì đâu? Những người này là anh hùng của nước Mỹ. Họ phải được nước Mỹ tôn sùng họ, kính trọng và tổ chức những lễ vinh danh họ cũng như lo cho đời sống của họ không để họ như ngày nay. Tôi trân trọng cám ơn tất cả những người Mỹ có lòng hào hiệp đã cưu mang dân tộc Việt Nam.

Mặc Lâm: 
Vâng, trong 40 năm qua bên cạnh những khó khăn mà người tỵ nạn gặp không thể không nhìn thấy những thành tựu của những người trẻ trên nhiều lĩnh vực. Thiếu tướng nghĩ gì về họ?

Thiếu tướng Lê Minh Đảo: 
Ngày hôm nay tôi rất sung sướng mà nói với anh điều này: tuổi trẻ Việt Nam là nguồn sinh lực, một điểm tựa hết sức vững chắc cho tương lai Việt Nam sau này. Mình phân tích để thấy tuổi trẻ Việt Nam họ hội nhập nền văn minh các quốc gia mà họ lớn lên ở đây, họ gọi là tổ quốc của họ. Họ hoàn toàn không chịu một chút ảnh hưởng nào của nền văn hóa hủ lậu, lạc hậu của các triều đại phương Bắc vua chúa ngày xưa. Có những điều làm cho dân tộc không thể nào tiến bộ được.
Tuổi trẻ ở đây họ hoàn toàn thoát khỏi cái đó trong khi trong nước hỏi là làm sao thoát Trung, tội nghiệp tuổi trẻ trong nước! Tuồi trẻ hải ngoại đã hấp thụ được nền văn hóa phương Tây với văn minh khoa học kỹ thuật cũng như cuộc sống mới ngay thẳng, tự do, cởi mở hiểu được quyền con người. Đó là điều mà tôi hết sức tâm đắc.

Trong 40 năm qua đám trẻ của mình rất hiếu học, siêng năng, nó có truyền thống siêng năng từ cha mẹ đã làm vẻ vang cộng đồng Việt Nam khi đóng góp với cộng đồng hải ngoại. Từ Việt Nam sang đây họ lấy gia đình làm căn bản. Họ sống dưới sự giáo dục của cha mẹ cũng như cha mẹ họ có sự hào hùng do chống cộng sản ở bên kia. Họ lấy sự chết ngoài biển khơi để làm sự sống mới. Cái giá nó nặng lắm cho nên họ khuyên bảo dạy dỗ con cái và con cái họ cũng hiểu điều đó và rất thương gia đình. Họ hiểu thế nào là sự đau khổ của Việt Nam và họ biết quê mẹ của họ là Việt Nam.
Các thế hệ cha mẹ tiếp tục đi đừng xao lãng việc đó! Phải làm thế nào dạy dỗ cho con cái, hướng dẫn con cái mình phải biết lịch sử Việt Nam. Phải hiểu biết thật tường tận và trung thực. Thật trung thực chứ không méo mó sai lầm về lịch sử Việt Nam.
Nó biết cái đó để nó thương mình, nó thương những người đã chiến đấu để cho nó có cuộc sống ngày hôm nay như thế này. Mà khi nó thương cha mẹ nó thì tự nhiên nó thương nước Việt Nam.

Mặc Lâm: 
Đó là người trẻ, thích hợp với cuộc sống mới rất dễ dàng, còn riêng với thế hệ thứ nhất, những người cùng thời với ông khi ra nước ngoài ông có suy nghĩ gì về họ? Đặc biệt là đồng đội từng chiến đấu với Thiều tướng?

Thiếu tướng Lê Minh Đảo: 
Thế hệ chúng tôi hồi tôi mới qua đây tôi thấy anh em buồn lắm. Mấy anh em có vẻ còn mặc cảm là người thua cuộc thì thường thường tôi hay đi nói với anh em đừng mặc cảm. Các anh em đã làm hết bổn phận của các anh em rồi, chúng ta bị ngoại cảnh cũng như bạn đồng minh không cho chúng ta dịp thắng, các anh em đã làm hết bổn phận rồi. Qua đây các anh em biến tất cả đau thương của mình, sự cực khổ của mình để dạy dỗ con cái để nó thay thế mình nó làm những chuyện mà mình không làm được, tôi nói mọi người hãy tiếp tục đi.

Mặc Lâm: 
Xin cám ơn Thiếu tướng Lê Minh Đảo về những chia sẻ mà ông vừa trình bày với thính giả, độc giả của Đài Á châu Tự do.

SOURCE:

.

Video Clips: Trận Xuân Lộc 1975



Trận Xuân Lộc 1975 - Con Đường Tử Địa - Quân Sử VNCH Chiến Tranh Việt Nam


Trận Xuân Lộc - Long Khánh 1975 - Quân Sử VNCH Chiến Tranh Việt Nam diễn ra trong khoảng 9-20 tháng 4 năm 1975 giữa quân Cộng Sản và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Trận này là một mốc quan trọng của quá trình tiến tới sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, vì Xuân Lộc là khu vực phòng thủ trọng yếu trong tuyến phòng thủ cơ bản (Biên Hòa - Xuân Lộc - Bà Rịa - Vũng Tàu) của QLVNCH để phòng giữ cửa ngõ phía đông của Sài Gòn. Theo Dấu Giày Sô - Hậu Lực - Màu Áo Hoa Rừng Xuân Lộc VNCH - ARVN Corp III - South Vietnam




Xuân Lộc: Tường thuật của BBC tháng 4/1975


Đánh dấu 40 năm trận chiến Xuân Lộc, BBC giới thiệu lại tường thuật từ ngoại vi Xuân Lộc những ngày tháng 4/1975. Chiến dịch của quân đội miền Bắc từ ngày 9/4 đánh vào Xuân Lộc thuộc tỉnh Đồng Nai, được gọi là “cánh cửa thép” trên hướng Đông Sài Gòn, là trận chiến lớn cuối cùng trước ngày Sài Gòn sụp đổ. Phóng viên chiến trường của BBC Don Anderson đã có mặt cùng với quân lực miền Nam Việt Nam không xa ngoại vi Xuân Lộc khi trận đánh đang diễn ra tại đây. Mời quý vị xem lại tường thuật của phóng viên BBC được phát trên kênh BBC News ngày 11/4/1975.

.