Friday, March 7, 2025

LÍNH MIỀN NAM (Tưởng Năng Tiến)

 

Cho tôi thắp một nén nhang

Khóc người đồng chí

Mà bấy lâu nay tôi cứ đinh ninh là ngụy

Tha thứ cho tôi một thế hệ bị lừa!

(Lê Phú Khải)

 

Bạn tôi, tất cả, phần lớn đều là lính ráo. Chúng tôi không chỉ có chung những năm cầm súng, và một quãng đời tù mà còn chia chung rất nhiều … cố tật!. Hễ gặp nhau là uống, và câu chuyện trên bàn rượu trước sau gì rồi cũng xoay quanh kỷ niệm về đám chiến hữu hồi còn chinh chiến: những thằng đã chết, những đứa đang vất vưởng ở quê nhà, hay lưu lạc (đâu đó) nơi đất lạ xứ người.

Thỉnh thoảng, khi (quá) vui, chúng tôi cũng hay mang những vị thượng cấp cũ ra làm đề tài giễu cợt. Hai ông huynh trưởng thường bị nhắc tới để cười chơi là Trần Hoài Thư, và Phan Nhật Nam. Lý do: cả hai vị vẫn nhất định chưa chịu giải ngũ, dù cuộc chiến đã tàn tự lâu rồi!

Trung Úy Trần Hoài Thư vẫn thản nhiên đưa quân Qua Sông Mùa Mận Chín. Đại Úy Phan Nhật Nam vẫn cứ la hét um xùm qua máy truyền tin (giữa Mùa Hè Đỏ Lửa) như thể là cái mùa Hè năm 1972 đó vẫn còn kéo dài đến bây giờ, dù hơn 40 năm đã lặng lẽ trôi, với cả đống nước sông – cùng nước suối, nước mưa, nước mắt… – đã ào ạt chẩy qua cầu và qua cống.

Sau khi cạn mấy ly đầy, rồi đầy mấy ly cạn (và sau màn trình diễn “một ngàn bài Bolero”) tôi hay xin “trân trọng tuyên bố cùng toàn thể các chiến hữu các cấp” rằng:

· Ai viết cái gì tôi cũng đọc tuốt luốt, trừ hai vị thẩm quyền (nhí) này thì khỏi!

· Sao vậy cà?

· Bởi vì thơ với văn của hai ổng có nhiều câu mà “lỡ” đọc một là nó bị kẹt luôn trong đầu, gỡ không ra, nên tui không dám đọc thêm nữa:

Trên đầu ta mũ rừng nhẹ hẩng

Trong túi ta một gói thuốc chuồn

Bắt tù binh mời điếu thuốc thơm

Ðể thấy miền Nam lính hiền ghê gớm…

Ta lính miền Nam hề, vận nước ngửa nghiêng

Ta cũng lênh đênh cùng cơn mạt kiếp

Ta trèo lên cây hỏi rừng cho biết

một nơi nào hơn ở Việt Nam?

Có người lính nào bi tráng hơn lính miền Nam?

Trần Hoài Thư

(“Ta Lính Miền Nam”)

 

Không chỉ bi tráng, bi hùng, hay bi phẫn mà (đôi khi) người lính miền Nam còn phải đối diện với lắm nỗi bi thương:

“Tôi đi vào ngôi nhà đang âm ỉ cháy, những chiếc cột lớn lỏng chỏng hỗn độn bốc khói xám… Một người đàn bà áo trắng quần đen tay ôm chiếc lẵng mây trước ngực ngồi im trên nền gạch đôi mắt nhìn thẳng ngơ ngác. Thấy chúng tôi đi vào chị ta đứng dậy, đứng thẳng người như pho tượng, như thân cây chết với đôi mắt không cảm giác. Thằng bé theo tôi cùng tên hiệu thính viên lẻn ngay vào bếp kiếm thức ăn. Tôi đi đến trước chị đàn bà…

– Làm gì chị ngồi đây, không biết đang đánh nhau sao?

Im lặng, đôi mắt ngơ ngác lóe lên tia nhìn sợ hãi. Bỗng nhiên chị ta đưa thẳng chiếc lẵng mây vào mặt tôi, động tác nhanh và gọn như một người tập thể dục. Sau thoáng ngạc nhiên tôi đưa tay đón lấy… Hai bộ áo quần, chiếc khăn trùm đầu, gói giấy nhỏ buộc chặt bằng dây cao su. Mở gói, hai sợi giây chuyền vàng, một đôi bông tai.

– Của chị đây hả? – Vẫn im lặng. Nỗi im lặng ngột ngạt, lạ lùng.

– Con mẹ này điên rồi thiếu uý, chắc sợ quá hóa điên…

Tên lính xua tay đuổi người đàn bà đi chỗ khác.. Lạnh lùng, chị ta xoay người bước đi như xác chết nhập tràng.

– Chị kia quay lại đây tôi trả cái này… Tôi nói vọng theo.

Người đàn bà xoay lại, cũng với những bước chân im lặng, trở về đứng trước mặt tôi nhưng đôi mắt bây giờ vỡ bùng sợ hãi, vẻ hốt hỏang thảm hại làm răn rúm khuôn mặt và run đôi môi… Chị ta còn trẻ lắm, khỏang trên dưới hai bảy, hai tám tuổi, da trắng mát tự nhiên, một ít tóc xõa xuống trán làm nét mặt thêm thanh tú.

Tôi đưa trả chiếc lẵng mây, chị đàn bà đưa tay đón lấy, cánh tay run rẩy như tiếng khóc bị dồn xuống. Chiếc lẳng rơi xuống đất, hai cánh tay buông xuôi mệt nhọc song song thân người. Dòng nước mắt chảy dài trên má. Tôi hươi mũi súng trước mặt chị ta:

– Ngồi đây! Tôi chỉ nòng súng vào bực tam cấp. Khi nào tụi tôi đi thì chị đi theo… Tại sao khóc, nhặt vàng lên đi chứ… Im lặng, chỉ có nỗi im lặng kỳ quái, thân thể người đàn bà cứ run lên bần bật, nước mắt ràn rụa… Từ từ chị đưa bàn tay lên hàng nút áo trước ngực…

Không! Không thể như thế được, tôi muốn nắm bàn tay kia để ngăn những ngón tay run rẩy đang mở dần những hàng nút bóp để phơi dưới nắng một phần ngực trắng hồng! Không phải như thế chị ơi… Người đàn bà đã hiểu lầm tôi…

Chị ta không hiểu được lời nói của tôi, một người Việt Nam ở cùng trên một mảnh đất. Chị ta tưởng tôi thèm muốn thân xác và đòi hiếp dâm! Tội nghiệp cho tôi biết bao nhiêu, một tên sĩ quan hai mươi mốt tuổi làm sao có thể biết đời sống đầy máu lửa và đớn đau tủi hổ đến ngần này.

Tôi đi lính chỉ với một ý nghĩ: Đi cho cùng quê hương và chấm dứt chiến tranh bằng cách góp mặt. Thê thảm biết bao nhiêu cho tôi với ngộ nhận tủi hổ này…” (Phan Nhật Nam. Dấu Binh Lửa. Sài Gòn: Hiện Đại, 1969).

Ở thời điểm này, có lẽ, Phan Nhật Nam không hề biết rằng “sự ngộ nhận đớn đau tủi hổ” của dân chúng với những người lính miền Nam chả phải là “ngẫu nhiên” đâu. Nó đã được đối phương chuẩn bị rất kỹ, và tuyên truyền rất công phu – theo như nhận xét (gần đây) của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn:

“Ngày xưa ở miền Bắc VN, tôi đoán người ta tuyên truyền nói xấu về chế độ miền Nam VN dữ lắm. Bộ máy tuyên truyền ngoài đó đã thành công gieo được vào đầu óc của người dân thường rằng chế độ Mĩ Nguỵ rất ác ôn; lính Nguỵ chỉ đánh thuê, rất ác ôn đến nỗi họ ăn gan uống máu người…”

Và đây cũng chả phải chỉ là chuyện “ngày xưa ở miền Bắc” đâu. Sau khi thắng cuộc “bộ máy tuyên truyền” vẫn tiếp tục bôi bẩn và xỉ nhục những người lính miền Nam, như thể họ vẫn còn là những kẻ thù ác độc và nguy hiểm.

Rảnh, thử xem qua vài đoạn trong một truyện ngắn (“Chuyện Vui Điện Ảnh”) của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Bà viết viết về “tai nạn nghề nghiệp” xẩy đến cho một tài tử nghiệp dư, chỉ vì lỡ thủ vai một thằng lính miền Nam:

“Chú Sa diễn vai thiếu úy Cón (nghe cái tên thôi cũng thấy ghét rồi), một tên ác ôn giết vợ, hãm hại vợ người, tàn sát trẻ nít, huênh hoang phá xóm phá làng, sau chết vì bị chó điên cắn…

Khi chú mặc bộ đồ rằn ri vô mình rồi, ông đạo diễn không chê vào đâu được. Long Xưởng hô máy một cái là nét mặt chú Sa lạnh như người chết, con mắt trắng dã, lừ đừ, nụ cười bí hiểm. Lúc quay cận cảnh khuôn mặt chú còn ghê nữa, da sần sùi, u uẩn như da cóc, tay chân đầy lông lá, cái răng cửa gãy chìa ra một nụ cười chết chóc với lỗ trống sâu hun hút.

Hồi đầu mọi người còn khen chú mặc bộ đồ mắc toi đó coi oai thiệt, nhưng rồi sau đó nín bằn bặt, người ta quên chú Sa ở hẻm Cựa Gà đi, chỉ còn lại thằng Cón ác ôn. Thằng Cón cưỡng hiếp vợ một cán bộ Đảng mình đang mang thai.

Tới chừng biết đứa bé kia không phải con mình, hắn xé đứa nhỏ làm hai ngay trên giường đẻ, trước mặt người mẹ, cầm bằng đã giết chị ta. Phim bạo liệt, trần trụi. Thằng Cón chết, nó cũng không chết bình thường như người ta, nó chết trong dằn vặt.

Cái mặt lạnh tanh gớm ghiếc của nó co giật méo xệch, bọt mép sùi sụt. Nó cắn vô mấy thằng lính đứng quanh nó. Điên dại tới lúc bị bắn chết. Mọi người theo dõi thằng Cón chết, vừa hể hả vừa ghê tởm…

Chú Sa vẫn tiếp tục đi về trên con hẻm hẹp te mà nghe trống vắng thênh thang. Tụi con nít nghe tiếng xe đạp chú tè tè lọc cọc thì chắc mẩm đứa nào đứa nấy mặt xanh mặt tím chạy vô nhà trốn. Tụi nó hỏi nhau: “ổng đi chưa?”, cũng tại má tụi nó nhát hoài, lì lợm, không ăn cơm là bị chú Sa ăn thịt. Rõ ràng là ấn tượng về thằng thiếu úy Cón mạnh mẽ quá sức tưởng tượng, rõ ràng là người ta bị giật mình bởi tội ác.

Bà con ngại ngần ác cảm giạt xa chú … Chú Sa thấy đây đúng là một tai nạn …”

Cái “tai nạn” riêng của Chú sa chỉ xẩy ra trong phạm vi của một con hẻm nhỏ và sẽ không kéo dài lâu. Còn hàng triệu thằng lính miền Nam thật – cùng vợ con, thân nhân của chúng – không chỉ phải chịu đựng sự “ngại ngần ác cảm” của đám đông mà còn bị Nhà Nước Cách Mạng kỳ thị (và miệt thị) không biết đến bao giờ!

Mãi cho đến ngày 2 tháng 5 năm 2014, người ta mới nghe một viên chức ngoại giao của phe thắng cuộc, Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn, nói đôi lời tử tế:

“Ngày xưa ta không thể nói là không có chính phủ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam. Đó là chính phủ cũng được quốc tế thừa nhận chứ.. Đó cũng là một nhà nước có quân đội thực thi nhiệm vụ quốc gia của họ để bảo vệ chính nghĩa theo lý tưởng của họ.”

Và đó cũng chỉ là sự tử tế ngoài miệng! Ngày 12 tháng 4 năm 2015, công an quận Hoàn Kiếm đã bắt giữ và buộc tội (“gây rối trật tự công cộng”) một số thanh niên đã mặc quân phục hay áo thun màu đen có biểu tượng Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, trong cuộc tuần hành vì cây xanh ở Hà Nội. Sau đó, công an quận Hoàn Kiếm đã kết hợp với công an Nghệ An khám xét nhà của anh Nguyễn Viết Dũng (tức Dũng Phi Hổ) tịch thu quân phục lính VNCH của anh Dũng.

Việc gì mà phải hốt hoảng đến nỗi “khám nhà,” “tịch thu” và “vu vạ” tội trạng cho vài thanh niên chỉ vì y phục mà họ mặc trên người như thế? Chả lẽ cái chế độ hiện hành có thể bị rung chuyển chỉ bởi vài cái áo (“thun màu đen, có biểu tượng Quân lực Việt Nam Cộng Hoà”) sao?

Hơn nửa thế kỷ tuyên truyền lừa gạt, bôi bẩn, miệt thị những kẻ thua cuộc (bộ) chưa đủ nguôi ngoai thù hận hay sao? Nắm trọn quyền bính của cả một nhà nước trong tay mà sao có thể hành sử một cách đê tiện, và tiểu tâm đế́n thế?

Dù thế, thời gian đã không đứng về phe thắng cuộc, và đã dần hé mở dần chân dung của những người lính miền Nam:

Cho tôi thắp một nén nhang

Khóc người đồng chí

Mà bấy lâu nay tôi cứ đinh ninh là ngụy

Tha thứ cho tôi một thế hệ bị lừa!

Năm tháng đi qua

Gần hết cuộc đời tôi mới ngộ ra

Không giọt máu Việt Nam nào là ngụy

Trừ những thằng bán nước – đi đêm

Tưởng Năng Tiến

.

Thursday, March 6, 2025

RỂ LÀNG CHUỒN (Tác giả: Phan Ni Tấn)

 

Tác giả: Nhạc sĩ, Văn Thi sĩ, Thiếu úy Phan Ni Tấn

 


o0o

Trung úy Bửu Tùy vừa từ mặt trận về gặp đúng bữa ăn chiều nhà đang dọn ra. Hương vị của cơm canh, thịt cá khiến chàng lính rừng rối rít, xuýt xoa xề vô mâm cơm ních một hơi bảy tám chén ự. Thiên Hương, vợ người hùng, chờ chàng cơm nước xong mới nhỏ nhẹ nhắc làm cả nhà cười vang: "Anh nì. Nhà ni không quen súng đạn mô. Anh đem vô buồng cất giùm em cấy". Đúng là lính rừng lâu lâu về thành phố gặp ngay bữa cơm gia đình là xề vô vồ vập như con gấu đói khát lâu ngày, quên khuấy súng đạn mang đầy mình. Mà cũng đúng. Hành quân liên miên trên rừng trên núi, lương khô làm chuẩn sao bằng cơm nhà quà vợ. 

Từ ngày về ở rể, gia đình bên vợ đều khoái anh lính hộ pháp vui tính này. Ngoài mặt trận về tới nhà là xắn tay áo việc gì cũng làm ráo, vừa làm vừa thản nhiên ca hát vang lừng nhà cửa. Từ sơn nhà, dựng cổng, lót gạch, sửa điện, thay ống nước, cuốc đất, làm vườn, kể cả giúp vợ phụ bếp… lăng  xăng không chừa thứ chi. Dáng dấp dềnh dàng rứa, râu ria bặm trợn rứa, súng đạn đầy mình rứa mà tâm hồn lại nghệ sĩ một cây xanh dờn.

Mỗi lần Bửu Tùy hành quân về mấy đứa em vợ, trai cũng như gái đều thích quây quần bên người hùng háo hức nghe kể hầm bà lằng xắng cấu đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, chuyện nào cũng tếu táo, dí dỏm khiến lũ trẻ nhiều phen cười bổ nghiêng bổ ngửa. Ban đầu bọn trẻ thích nghe chuyện cổ tích Thánh Gióng, Tấm Cám, Thạch Sanh Lý Thông, Ba Giai Tú Xuất, con Tò He xong tới chuyện đánh giặc. Xưa nay đánh giặc là chuyện chết chóc, gió tanh mưa máu, súng đạn ì đùng rứa mà được ông anh rể kể bằng trí tưởng tượng phong phú pha trộn giữa thực và hài, như vừa lùng giặc vừa ăn lương khô sặc máu, chuyện nửa khuya lò mò rình nghe tiếng con dế gáy, chuyện mùa mưa muỗi chích, vắt cắn, đỉa bu, chuyện miểng bom cắm phập vào đùi nghe một cái sịt máu chảy hết ngàn lít v.v… Chuyện nào cũng ly kỳ, hấp dẫn, phiêu lưu, hài hước từ đầu tới cuối. Có điều chuyện chi rồi rốt cùng chúng nằng nặc đòi nghe cho bằng được chuyện tình của bà chị thân yêu với ông anh rể quý mến của mình v.v… và v.v… 

Hồi học trường Trung học Quốc Học anh chàng Bửu Tùy đi học về là quăng cặp-táp vô một góc, không lao xuống giường thì ngồi phịch xuống ghế hì hục viết văn, lăng xăng viết nhạc, sáng tác cả thơ thẩn với mục đích cao vời nhất là tán tỉnh o Hương, hoa khôi Đồng Khánh. Cái câu "đẹp trai không bằng chai mặt" rất xứng với anh chàng Quốc Học cố bám theo o Đồng Khánh cho tới khi rớt tú tài 2 đi lính về vẫn lì  lợm, chai mặt bám theo O như đỉa đói đến nỗi ông tơ bà nguyệt chịu đời không thấu bèn cột dây tơ hồng cho đôi lứa nên vợ nên chồng. Trai thời loạn cưới vợ ở rể được năm ba ngày phép lại lên đường sống chết cùng súng đạn ngoài mặt trận khiến cả nhà lên ruột. Cho nên mỗi lần thấy Trung úy Bửu Tùy ầm ầm về phép là lũ trẻ mừng ra mặt; còn người lớn vội cất cái thót ruột qua một bên để vui cùng chàng rể phong trần, vui tính, dễ thương hết biết.

Từ ngày Bửu Tùy, chàng rể Làng Chuồn về ở rể mang cả rượu Làng Chuồn về theo làm thơm phức cả nhà, từ đó danh tửu không thể thiếu trong những dịp tế lễ, Xuân về Tết đến.

Làng Chuồn thuộc huyện Phú Vang nằm cạnh đầm Chuồn, một trong đầm lớn của phá Tam Giang, ở đó có rượu Làng Chuồn, một loại danh tửu. 

Rượu Làng Chuồn từ lâu đã nức tiếng thơm ngon bậc nhất xưa nay của kinh thành Huế. Không chỉ là "Ngự Tửu" một thời tiến vua triều Nguyễn mà còn là một loại hình nghệ thuật gắn liền với văn hóa, lịch sử và đời sống của người dân Làng Chuồn nói riêng và cố đô Huế nói chung. Vào những dịp hội hè, lễ Lạt, ông già vợ và chàng rể Bửu Tùy rất tâm đắc trong cuộc đối ẩm. Rượu Làng Chuồn đưa cay cùng mấy con khô, cạnh vài trái xoài, trái ổi cũng làm nên lượng tửu đôn hậu, hưởng được cái không khí gia đạo tình thâm.

Chiều cuối năm thị trấn Phong Điền trời se se lạnh. Ông Bính lặng lẽ ngồi trước hiên nhà độc ẩm vài ba sợi Làng Chuồn giải phá cơn sầu. Ngoài kia xuân về hương thơm của danh tửu Làng Chuồn bay khắp trời Phong Điền, rải khắp đất Thừa Thiên Huế. 

Rứa đọ. Rứa tề. Rứa mà khi ông Bính ngoái đầu nhìn vô trong nhà thì nỗi buồn lại ập vào mặt ông không thương tiếc. Trước bàn thờ tổ tiên nghi ngút khói hương, Thiên Hương, con gái ông đang thắp nhang khấn vái vong linh chồng mình, cố Đại úy Bửu Tùy.

Đầu năm 1969 Trung úy Bửu Tùy tử trận trong một trận đánh đẫm máu trên đồi A So, thuộc A Lưới, một huyện miền núi phía Tây Bắc tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngót một tháng sau mới hốt được xác về.

Lịch sử dân tộc Việt Nam từ bao đời luôn gắn liền với non sông đất nước chứa chan mầu mỡ. Sức chảy của nước pho pho so với sức khỏe của đất là nhờ một phần xương thịt của quân dân hai miền trong đó có phân bón của rể Làng Chuồn: Bửu Tùy.

PHAN NI TẤN

 



 

Nhạc: Hồn Muôn Năm Cũ - Vũ Trung Hiền