Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - Vinh Danh Tưởng nhớ chiến sĩ anh hùng
Trận
chiến cố thủ Phi trường Phụng Dực Ban Mê Thuột 10 tháng 3 1975 đến 17 tháng 3
năm 1975.
Trung
Đoàn 53 Sư Đoàn 23 Bộ Binh

Những
Con Đại Bàng Trắng "Trấn Sơn Bình Hải" hay Nam Bình Bắc Phạt Tây Nguyên Trấn
Đại
Tá Võ Ân - Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53, Sư Đoàn 23 . Có một thời báo chí và
nhiều người gọi anh là “Người hùng Ban Mê Thuột”. Điều đó rất xứng đáng. Khi chỉ
có trong tay một tiểu đoàn và được tăng cường Đại Đội 23 Trinh Sát tinh nhuệ,
nhờ hầm hố công sự vững chắc, anh cùng đơn vị đã phải chiến đấu đơn độc nhưng
thật quyết liệt can trường trước nhiều đợt tấn công biển người của Cộng quân ,
giết hằng trăm địch quân CS và bắn cháy nhiều chiến xa T-54, giữ vững vị trí
trong sân bay Phụng Dực , đến sau khi cả thị xã Ban Mê Thuột đã lọt vào tay CS
gần một tuần trước đó. (Hình ảnh các binh sĩ Trung Đoàn 53/Sư Đoàn 23 Bộ Binh
VNCH cố thủ tại sân bay Phụng Dực 11-3 --- 17-3-1975)
Thị
xã Ban Mê Thuột đã hoàn toàn lọt vào tay Cộng quân từ chiều ngày 10 tháng
3/1975, và đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cuối cùng là hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư
Đoàn 23 Bộ Binh rút khỏi thị xã này lúc 10 giờ 38 phút ngày 11 tháng 3/1975.
Nhưng Trung Đoàn 53 Bộ Binh, phòng thủ Phi Trường Phụng Dực, cách thị xã Ban Mê
Thuột 7 Km về hướng Đông bắc vẫn cố thủ và cương quyết chống lại lực lượng biển
người và chiến xa T-54 của Cộng quân.
Cùng
lúc tấn công vào thị xã Ban Mê Thuột 1 giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975, Cộng
quân đã không bỏ sót Trung Đoàn 53. Chiến xa và bộ đội của Cộng quân, với đại
bác 130 ly, và hỏa tiển 122 ly yểm trợ đã không ngừng luân phiên tấn công Trung
Đoàn 53. Và sau khi đơn vị quân lực Việt Nam Cộng Hòa cuối cùng rời bỏ Ban Mê
Thuột, Cộng quân càng tập trung lực lượng tấn công Trung Đoàn 53 ác liệt hơn.
Trận
đánh thư hùng giữa Trung đoàn 53 Bộ binh và một lực lượng quân chính quy CS đã
được tăng cường thêm đông hơn gấp 10 lần xảy ra lúc 5 giờ sáng. Đó cũng là lần
xuất trận đầu tiên của Sư đoàn 316, sư đoàn tổng trừ bị của CS tại mặt trận phi
trường Phụng Dực trên chiến trường Cao nguyên.
Đại
tá Võ ân ( 1975) Anh ra đi, nhưng không hề chết. Tên tuổi Võ Ân vẫn còn vang vọng
mãi trong tâm khảm của mọi người đã từng quen biết và sống chết cùng anh. Lịch
sử dân tộc chắc chắn còn ghi đậm tên anh. Một người lính đã sống hết lòng với đồng
đội anh em, và chiến đấu bằng tất cả danh dự cùng cả trái tim mình.
Trung
Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53 Bộ Binh là Trung Tá Võ Ân. Biết rõ ý đồ của Cộng
quân, nhưng ông cũng hiểu rằng Phi Trường Phụng Dực là điểm tiếp liệu, tiếp vận
duy nhất cho lực lượng tổng trừ bị là sư đoàn Nhảy Dù sẽ đến giải cứu Ban Mê
Thuột sau này, đồng thời đơn vị của ông là lực lượng đầu cầu và liên lạc duy nhất
cho các đơn vị bạn về sau. Do vậy, ông đã ra lệnh cố thủ và chỉ thị cho các
binh sĩ tiết kiệm đạn dược và mọi phương tiện quân y, dược cụ, cố gắng chiếm dụng
vũ khí của địch để chống lại kẻ địch, và phải nhất định bắn trúng mục tiêu.
Trong
suốt thời gian 6 ngày đêm, Trung Đoàn 53 Bộ Binh không những đã đánh tan nhiều
đợt tấn công biển người của Cộng quân, mà còn tịch thu nhiều loại vũ khí cá
nhân cũng như súng cộng đồng để tiêu diệt T-54 và hàng trăm xác quân thù bỏ lại
chiến trường. Sự tổn thất nặng nề nhất của Cộng quân trong mặt trận Ban Mê Thuột,
hơn 200 nhân mạng, không biết được con số bị thương, và hàng chục T-54 bị phá hủy
bằng chính B-40, B-41 của Cộng quân do Trung Đoàn 53 tịch thu tại mặt trận Phi
trường Phụng Dực.
Góp
phần đáng kể vào việc kéo dài trận chiến là một đại đội chừng 70 binh sĩ tinh
nhuệ, gan lì, được huấn luyện đặc biệt và quyết tâm chiến đấu đến cùng. Tham
gia trận chiến Ban Mê Thuột ngay từ ngày đầu, và là đơn vị sau chót rút khỏi đấy
là Đại Đội Thám Báo mà Thiếu Uý Nguyển Công Phúc là một trung đội trưởng.
Đại
đội đã chiến đấu trong hoàn cảnh cô đơn, cam go, căng thẳng và thiếu thốn súng
đạn, lương thực. Họ đã gây tổn thương nặng cho một tiểu đoàn địch, giúp Trung
Đoàn 53 của bạn chống trả lại những đợt tấn công mãnh liệt của đối phương, đồng
thời chấm tọa độ hướng dẫn pháo binh bạn bắn vào những vị trí địch.
Một
trong những yếu tố để đại đội đạt được thành tích trên và tồn tại mà chiến đấu
bền bỉ nhất ở Ban Mê Thuột là Cộng quân không biết vị trí đóng quân kín đáo và
bất ngờ của đại đội. Cộng quân khi tấn công Trung Đoàn 53 đã bị thúc mạnh vào cạnh
sườn vì không biết có đại đội thám báo nằm quanh những ụ đất dùng để che chở
cho máy bay ở phi trường và gần rừng cao su phía ngoài căn cứ của trung đoàn. Đại
đội mới nhận vị trí đóng quân ở đấy vào buổi chiều. Chỗ đóng quân lại không phải
là doanh trại. Quanh phi trường lại có những bãi trống, địch tiến quân dễ bị
phát hiện.
Trong
những giờ đầu của cuộc tấn công, Phúc theo dõi tình hình mặt trận qua máy truyền
tin. Được trang bị hệ thống truyền tin tối tân hơn những đơn vị bộ binh thông
thường khác, đại đội thám báo có thể liên lạc với những đợn vị bạn theo hàng dọc,
mà cả với mấy đơn vị theo hàng ngang như quân đoàn, sư đoàn và không đoàn ở Nha
Trang. Nhờ vậy Phúc biết thêm một số diễn tiến ở trận chiến.
Từ
sáng sớm ngày 10 tháng 3/1975 cho đến hết ngày 15 tháng 3/1975, Trung Đoàn 53 Bộ
Binh chỉ với một tiểu đoàn Bộ Binh, và Pháo đội 105 ly đã anh dũng chiến đấu với
một lực lượng Cộng quân nhiều gấp bội, có chiến xa và đại bác đủ loại, mà không
cần biết đến Ban Mê Thuột đã thất thủ và đài BBC trong bản tin phát đi vào đêm
14 tháng 3/1975, đã loan tin Sư Đoàn 23 Bộ Binh bị xóa tên trong quân sử Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa.
Ngày
15 tháng 3/1975, một phi vụ yểm trợ tiếp liệu cuối cùng cho Trung Đoàn 53 đã
không rơi đúng điểm ấn định mà lại rơi xuống khu vực Vườn Ương ở Hồ thực nghiệm.
Ngày
16 tháng 3/1975, Trung Đoàn 53 Bộ Binh hoàn toàn mất liên lạc với Bộ Tư Lệnh
Quân Đoàn 2. Hết đạn dược và thuốc men, Trung Tá Trung Đoàn Trưởng Võ Ân đành
phải ra lệnh rút khỏi phi trường Phụng Dực. Điểm liên lạc, tiếp vận duy nhất
cho Ban Mê Thuột đã lọt vào tay Cộng quân. Nhưng Trung Tá Ân, đúng là người
hùng của quân lực, và Trung Đoàn 53 Bộ Binh anh dũng là những người con yêu của
Tổ Quốc, đã làm khiếp đảm quân thù, và đem vinh quang về cho một quân đội kiêu
hùng của nền Cộng Hòa miền Nam.
Với
lịch sử của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, và thực tế của mặt trận Ban Mê Thuột, nếu thị
xã Ban Mê Thuột được Trung Đoàn 44 hoặc 45 Bộ Binh phòng thủ, thì cho dầu Cộng
sản có quân số nhiều hơn vài ngàn người trong cuộc tấn công này, Ban Mê Thuột
và 60 ngàn dân đã không rơi vào biển đêm của lịch sử dân tộc. Và Sư Đoàn 23 Bộ
Binh vĩnh viễn sẽ là một đơn vị kiêu hùng của một Quân Lực kiêu hùng bất diệt.
Quân
đoàn 2/Quân khu 2 Tiếp cứu Ban Mê Thuột:
Ban
Mê Thuộc lọt vào tay CS, khởi đầu cho việc sụp đổ của Miến Nam Tự Do. Buổi sáng
khi 2 trái bom 500 cân Anh của Không quân đánh sập một đầu hầm Trung tâm Hành
quân của Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, một số sĩ quan trong bộ tham mưu đã
thoát lên được. Đại tá Quang ra lịnh rút quân vọt ra khỏi hàng rào và hướng về
phía Tây tức là “Suối Bà Hoàng” – cách BTL Sư đoàn 250m.
Cũng
may mùa này là mùa khô nên suối cạn. Đáy suối lại thấp hơn mặt đất tới 15m nên
rất dễ cho việc ẩn nấp. Anh em binh sĩ đi theo rất đông, chừng 100 người. Xa xa
tiếng phát thanh tuyên truyền của địch quân gần Chùa của Tỉnh hội Phật giáo Ban
Mê Thuột kêu gọi các binh sĩ ta đầu hàng. Cộng quân lúc này đầy khắp các ngả đường
trong thị xã cùng với những đoàn xe tăng của chúng.
Sau
cùng Đại tá Quang quyết định mọi người phải phân tán mỏng để tránh sư phát giác
của địch quân. Đại tá Quang, Vị Tư lịnh chiến trường Ban Mê Thuột sẽ đi về hướng
Nam, đến gần cầu khoảng cách 14 Km và tìm đường về Nha Trang. Còn Đại tá Nguyễn
Trọng Luật cùng với Phó Tỉnh trưởng Hành chánh Nguyễn Ngọc Vỵ đi về hướng Tây,
nhằm về khu cà phê của Trung tướng Hoàng và chờ trời tối sẽ bọc lên phía Bắc
Ban Mê Thuột và từ đó tìm về Nha Trang. Riêng các binh sĩ thì phân tán mỏng và
tìm cách trở về Nha Trang. Hy vọng lúc đó sẽ tập họp lại để tiếp tục chiến đấu..
Cũng
thời gian này trên Quốc lộ 14, từ Đức Lập về Ban Mê Thuột, bộ Chỉ huy Hành quân
nhẹ của Trung đoàn 53 Bộ binh cùng với một tiểu đoàn, được lệnh rút từ vùng
hành quân phía Đông bắc quận Đức Lập về tiếp cứu Ban Mê Thuột, cũng bị Cộng
quân phục kích chận đánh. Trung tá Trung đoàn Phó Trung đoàn 53 và hầu hết các
sĩ quan đều bị tử trận hoặc bị địch bắt. Cánh quân này coi như bị tan rã trước
khi tới được trận địa Ban Mê Thuột.
Đến
xế trưa ngày 11 tháng 3, bên cạnh Đại tá Quang chỉ còn có người Thiếu úy, Sĩ
quan Tùy viên và một người lính. Không thể đi tới được phi trường Phụng Dực và
cũng không còn phương tiện truyền tin để liên lạc, ba người đã lẩn tránh trong
một vườn cà phê mấy tiếng đồng hồ, đợi đêm tối nhắm hướng nam đi về phía Quảng
Đức.
Khoảng
2 giờ sáng ngày 12 tháng 3, Đại Tá Quang và tùy tùng trốn khỏi Trung Tâm Hành
Quân, đi được khoảng 6 cây số đường rừng, ngay khi vừa tới sát một làng Thương,
thì bị Cộng quân nổ súng, xông ra vây bắt. Đại tá Quang vẫn còn mang cấp bậc
trên cổ áo và xưng danh là Tư lệnh Phó Sư đoàn 23 Bộ binh, chúng đã trói lại, lột
giầy và liệng xuống hố. Chừng một giờ sau, chúng được lệnh dẫn Đại tá Quang đi
suốt đêm. Tới chiều hôm sau, ngày 13 tháng 3, được cởi trói, cho đi giầy vào và
chở đi bằng xe Molotova sang Cam Bốt để khai thác.
Riêng
cánh Đại Tá Nguyễn Trọng Luật khi chạy đến vườn cà phê của Trung tướng Thái
Hoàng,tất cả cũng bị Cộng quân dàn quân chận bắt hết. Riêng Đại Tá Luật bị
chúng bắt lên một xe thiết giáp chở đi mất.
Những
cơ sở đầu não ở Ban Mê Thuột bị CS đánh chiếm trong hai ngày đầu. Mấy ngày sau
Sài Gòn chưa nhìn nhận Ban Mê Thuột thất thủ vì chiến trận còn tiếp diễn ở
Trung Đoàn 53 khu vực gần phi trường nằm phía ngoài thị xã.
Ngày
12 tháng 3/1975, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 tổ chức cuộc đổ
quân tăng viện để tái chiếm Ban Mê Thuột. Lực lượng chính của cuộc phản công là
Trung đoàn 45 Bộ binh (BB) và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 44 thuộc Sư đoàn 23 BB
đang phòng ngự tại Pleiku. Về phía Không quân VNCH tham gia cuộc đổ quân, ngoài
các phi đoàn của Sư đoàn 6 Không quân, BTL đặt tại Pleiku, còn có các phi đoàn
trực thăng của Sư đoàn 1 Không quân (Đà Nẵng) và Sư đoàn 4 Không quân (Cần
Thơ), với hơn 100 trực thăng đủ loại kể cả các loại Chinook.
-Theo
lịch trình đổ quân, hai tiểu đoàn của Trung đoàn 45 BB và đại đội Trinh sát Sư
đoàn 23 BB được trực thăng vận trước tiên. Tiếp đến, các Chinook móc theo các
khẩu đại bác 105 thả xuống khu vực đổ quân của lực lượng đặc nhiệm tại quận lỵ
Phước An.
-1
giờ 10 trưa ngày 12 tháng 3/1975, Thiếu tướng Phú từ bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 bay
đến Ban Mê Thuột trên một chiếc phi cơ nhỏ để trực tiếp điều quân. Tới Ban Mê
Thuột vào khoảng 2 giờ chiều, Tướng Phú đã liên lạc với đơn vị trưởng của các
đơn vị đang chiến đấu ở quanh Ban Mê Thuột như Trung đoàn 53 BB ở phi trường Phụng
Dực, Liên đoàn 21 Biệt Động Quân, các tiểu đoàn Địa phương quân Darlac. Cùng đi
theo cánh quân cứu viện còn có Đại tá Trịnh Tiếu, Trưởng phòng 2 Quân đoàn 2,
được Tướng Phú chỉ định giữ chức vụ Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Darlac
thay thế Đại tá Nguyễn Trọng Luật được ghi nhận là mất tích. Cùng đi theo Đại
tá Tiếu, còn có bộ chỉ huy lưu động của Tiểu khu Darlac vừa thành lập.
Tuy
nhiên, sự phản công và kế hoạch giải vây của quân ta đã không hữu hiệu, các
Trung Đoàn 44 và 45 được đổ xuống Phước An dùng làm bàn đạp để tiến về thành phố
Bàn Mê Thuột. Nhưng Phước An vào lúc đó trở thành một trung tâm tản cư của những
người dân chạy thoát ra từ Ban Mê Thuộc. Ở đây nhiều binh sỉ gặp lại gia đình tự
động lẫn vào đám đông bỏ ngũ. Một số các binh sỉ khác tự động rời hàng ngũ đi
tìm thân nhân mất tích. Một đạo quân giải vây trong tình trạng như thế chắc chắn
không thể hoạt động được. Bốn ngày sau, SĐF10 của CS tiến chiếm Phước An. Hy vọng
giải vây BMT bị tan vỡ .
Chiều
ngày 12 tháng 3/1975, cùng lúc tấn chiếm tại chiến trường Ban Mê Thuột, thì tại
Pleiku,Cộng quân cũng đã pháo kích bằng hỏa tiễn vào phi trường quân sự Cù Hanh
và bộ Tư lệnh Quân đoàn 2.
Trưa
ngày 14 tháng 3, 1975, trong khi Sư đoàn 23 BB đang khai triển các cánh quân để
tiến về giải cứu Ban Mê Thuột, thì tại Cam Ranh, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu,
Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên, Trung tướng Đặng Văn Quang,
phụ tá An ninh Quân sự của Tổng thống, đã họp mật với Thiếu tướng Phạm Văn Phú,
Tư lệnh Quân đoàn 2-Quân khu 2.Tại cuộc họp kéo dài gần 2 giờ, Tổng thống Nguyễn
Văn Thiệu ra lệnh cho Thiếu tướng Phạm Văn Phú triệt thoái toàn bộ lực lượng của
Quân đoàn 2/Quân khu 2 khỏi Cao nguyên, di chuyển về các tỉnh duyên hải miền
Trung thuộc lãnh thổ Quân khu 2.
Thay
lời kết:
Cộng
quân tung vào trận địa tấn công Ban Mê Thuột 3 sư đoàn chủ lực, toàn bộ lực lượng
vào khoảng 30 ngàn người, gấp 7 lần lực lượng trú phòng (khoảng 4000). Chủ lực
quân VNCH chỉ có hai tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 53 còn lại là Địa Phương Quân,
Sảnh Sát, lực lượng đã quá chênh lệch địch lại đánh bất ngờ , thì chúng phải
dành chắc phần thắng trong tay. Sự thất thủ của Ban Mê Thuột là chuyện đương
nhiên; dù biết trước phòng thủ cũng vẫn thua. Nhưng nếu biết trước và tăng cường
yểm trợ để gây tổn thất nặng nề cho địch thì có thể giảm bớt áp lực địch tại
các mặt trận khác hy vọng không đưa tới tình trạng hốt hoảng hỗn loạn dây chuyền
đưa tới sụp đổ tan tành mau chóng.
Tuy nhiên sự sai lầm của Tướng Phú chỉ là phương diện chiến thuật, Ban Mê Thuột mất vì tại Quân khu 2 không đủ lực lượng chống lại áp lực địch gồm 5 Sư đoàn chủ lực cộng thêm 15 Trung Đoàn biệt lập và cơ giới, lại thêm những lệnh lạc bất thường thiếu nghiên cứu của Tổng thống Thiệu và các tướng lãnh cao cấp QL.VNCH đã sai lầm về lãnh đạo chiến lược./.
Trận
Sân bay Phụng Dực, Ban Mê Thuột tháng 3-1975 khúc quanh lịch sử VNCH.
Phạm
Huấn
Một
đơn vị của Sư Đoàn 23 Bộ Binh phối hợp với Kỵ Binh lên đường tiếp cứu Ban Mê
thuột thì được lệnh rút lui, Darlac tháng 3-1975.
4
giờ sáng ngày 10 tháng 3, 1975.
Sau
những trận mưa pháo suốt 2 tiếng đồng hồ, Cộng quân với chiến xa và biển người,
tấn chiếm Ban Mê Thuột. Và với một lực lượng đông gấp 10 lần, địch đã làm chủ
tình hình ngay từ phút đầu.
Sự
chống trả mảnh liệt của những đơn vị phòng vệ thị xã cùng với sự yểm trợ hữu hiệu
gan dạ của các phi công anh hùng, đã chặn bớt được sức tiến của quân thù.
Nhưng
ngày hôm sau, khi Cộng sản Bắc Việt tung thêm Sư đoàn tổng trừ bị 316 mới ở miền
Bắc vào, thì lực lương hai bên giữa ta và địch quá ư chênh lệch, cả về quân số,
chiến xa lẫn vũ khí nặng!
12
giờ trưa ngày 10 tháng 3, 1975 tiểu khu Ban Mê Thuột mất!
8
giờ sáng hôm sau 11 tháng 3, 1975, 10 chiến xa T54 của Cộng sản Bắc Việt bắn trực
xạ vào bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh. Vị Tư lệnh chiến trường chấp nhận rủi ro,
nguy hiểm, yêu cầu Không quân đánh bom thẳng vào những xe tăng địch. Những phản
lực cơ A37 lao xuống. Ba chiếc T54 bốc cháy, nhưng rồi 2 trái bom khác rơi
trúng sập một đầu hầm của Trung tâm Hành quân Sư đoàn 23 Bộ binh. Hệ thống truyền
tin giữa Ban Mê Thuột-Pleiku bị hư hại hoàn toàn, mất liên lạc với Tư lệnh Chiến
trương và Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột từ đó.
8
giờ sáng ngày 11 tháng 3, 1975, giờ phút của định mệnh, và cũng là khởi đầu
ngày thứ hai trong trận đánh quyết định giữa hai miền Nam-Bắc 1975. Chiến trường
Ban Mê Thuột coi như kết thúc với sự tràn ngập của Bắc quân.
Nhưng
tại phi trường Phụng Dực, cách Ban Mê Thuột khoảng 8 cây số về phía đông, một
trung đoàn (-) của Sư đoàn 23, với 2 Tiểu đoàn của Trung đoàn 53 Bộ binh, một
Chi đoàn Thiết vận xa M113, một Pháo đội đại bác 105 ly vẫn tiếp tục chiến đấu
thêm một tuần lễ nữa. Chiến đấu dũng mãnh, dai dẳng, phi thường cho đến những
người lính cuối cùng và những viên đạn cuối cùng được bắn đi!
Đó
là một huyền thoại trong một cuộc chiến đấu chống Cộng thần thánh nhất của quân
dân miền Nam Việt Nam. Đó cũng là biểu tượng tinh thần gang thép, sắt đá của
người chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.
Trận
thử sức dò dẫm của 2 trung đoàn Cộng sản Bắc Việt và các lực lượng phòng thủ mặt
trận phi trường Phụng Dực đầu tiên xảy ra lúc 14 giờ trưa ngày 10 tháng 3,
1975, với kết quả địch bỏ lại chiến trường trên 200 xác chết!
Nhưng
chưa đầy một ngày sau, 5 giờ sáng 11 tháng 3, 1975 khi những chiến xa T54 Bắc
Việt nghiền nát những đường phố Ban Mê Thuột, tiến thẳng vào bộ Tư lệnh Sư đoàn
23 Bộ binh, cũng là lúc địch quân rửa hận cho đồng bọn chúng tại mặt trận phi
trường Phụng Dực.
Sư
đoàn 316 tổng trừ bị của Cộng sản Bắc Việt lần đầu tiên được sử dụng trên Chiến
trường Cao nguyên và miền Nam Việt Nam. Từ xa lộ đất Hồ Chí Minh, sư đoàn này bất
chấp mọi thiệt hại, di chuyển ngày đêm để tới trận địa đêm 10 tháng 3, 1975. Và
ngay sáng hôm sau, dốc toàn lực lượng tấn công Trung đoàn 53 Bộ binh.
45
phút khởi đầu là những cơn mưa đạn đại bác khiến chiến sĩ ta chìm ngập trong
giao thông hào. Sau đó, Bắc quân với những tên lính trẻ xuất trận lần đầu, hung
hăng, hò hét … xung phong. Từng lớp, từng lớp gục xuống, nhưng chúng vẫn hô, vẫn
tiến.
Trận
thư hùng thứ hai ngày 11 tháng 3, 1975 này kéo dài 2 giờ 40 phút. Gần 200 người
anh hùng của chiến trường miền núi vĩnh viễn buông súng, ở lại Cao nguyên Việt
Nam!
Nhưng
những người còn lại vẫn tiếp tục chiến đấu. Chiến đấu không yểm trợ, không tiếp
tế, không tản thương, không tăm gội, 24 giờ trên 24 giờ ngoài chiến hào phòng
thủ!
Quá
nửa lực lượng bị thiệt hại từ khi ở mặt trận Quảng Đức rút về. Trung đoàn 53 Bộ
binh hiện còn hơn một tiểu đoàn với khoảng 500 tay súng. Và họ đã chiến đấu đơn
độc sang ngày thứ ba 12 tháng 3, ngày thứ tư 13 tháng 3, ngày thứ năm 14 tháng
3, ngày thứ sáu 15 tháng 3, ngày thứ bảy 16 tháng 3. Và hôm nay, ngày thứ tám
17 thang 3, 1975!
Thật
anh hùng! Thật vĩ đại! Thật phi thường! Không còn từ ngữ nào khác hơn để ca ngợi,
vinh danh họ. Và đó cũng là một huyền thoại độc đáo nhất của chiến tranh Viêt
Nam trong trận đánh sau cùng trên Chiến trường Cao nguyên!
Bay
trên đầu những người anh hùng của mặt trận phi trường Phụng Dực trưa ngày 12
tháng 3, 1975, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Chiến trường Cao nguyên đã nói
chuyện với 2 người quân nhân lớn nhất và nhỏ nhất của Trung đoàn 53 Bộ binh.
“Người
anh hùng Võ Ân”, Trung tá Trung đoàn trưởng:
–
Trình Mặt Trời, lực lượng địch quá mạnh. (Mặt Trời là danh hiệu ngày hôm nay của
Tướng Phú, Tư lệnh Quân đoàn II).
–
Chú mày chịu nổi không? Tinh thần anh em ra sao?
–
Bị sứt mẻ kha khá ngày hôm qua, nhưng chưa sao. Mặt Trời yên tâm!
–
Chú mày muốn gì đặc biệt không?
–
Dạ không! Nhưng sao Mặt Trời không bay trực thăng hôm nay?
–
Tại qua muốn ở chơi với chú mày và những anh em khác lâu lâu một chút. Mà tại
sao chú mày hỏi như vậy?
–
Tại vì tôi muốn Mặt Trời đáp xuống coi kho vũ khí Việt cộng ở phòng danh dự phi
cảng cho anh em lên tinh thần.
Tướng
Phú cười:
–
Ý kiến hay đấy! Thôi … để lần sau vậy!
–
…
“Người
anh hùng Nguyễn Văn Bảy”, Binh nhì xạ thủ súng cối 81 ly:
–
Em tên gì? Bao nhiêu tuổi?
–
Dạ … Binh nhì Nguyễn Văn Bảy, 18 tuổi!
–
Em thấy Việt cộng chết nhiều không?
–
Nhiều, nhiều lắm … Thiếu tướng!
–
Em muốn xin Thiếu tướng gì nào?
–
xin thuốc hút và … lựu đạn.
–
Gì nữa?
–
Thôi!
–
Thiếu tướng thăng cấp cho em lên Binh nhất! Chịu không?
–
…
Một
giọng cười khúc khích trong máy:
–
Ông Thầy! Ông Tướng tặng tôi cái “cánh gà” chiên bơ!
–
Không được … tao phản đối!
–
…
Cái
“cánh gà”, chữ V, là hình dáng của chiếc lon Binh Nhất. Ông Thầy là tiếng gọi
thân mật vị Trung tá Trung đoàn trưởng mà người “Binh Nhất vừa được tân thăng”
Nguyễn Văn Bảy thường hay sử dụng.
Mẫu
đối thoại trên cho thấy tình chiến hữu, anh em của những người lính Trung đoàn
53 Bộ binh. Đó cũng là một cách để chứng minh, tại sao trong những ngày cuối
cùng họ vẫn sống chết bên nhau? Họ đã chia nhau từng viên đạn, từng dúm gạo sấy,
từng hớp nước, từng hơi thuốc …
Theo
thời gian, 7 ngày đêm chiến đấu dài hơn 7 năm tại mặt trận phi trường Phụng Dực.
Đã ba ngày rồi, từ khi lệnh triệt thoái cao nguyên được ban hành, Trung đoàn 53
không còn nhận được bất cứ một tiếp tế, liên lạc nào với Quân đoàn. Họ đã phải
sử dụng cả súng đạn tịch thu được của quân thù trong trận đánh đầu tiên, để bắn
lại chúng!
Nhưng
hôm nay, ngày 17 tháng 3, 1975 là ngày dài nhất trong cuộc đời lính chiến của họ!
7
giờ 40 phút sáng, khi rừng núi cao nguyên vẫn còn ngủ yên với những lớp sương
mù phủ kín, hàng trăm hàng ngàn viện đại bác Bắc quân nã vào những chiến hào của
Trung đoàn 53 Bộ binh. Cỏ cây rạp xuống. Những cột đất đỏ từng cụm, từng khóm
tung cao!
Trận
địa pháo kéo dài một tiếng đồng hồ. Tiếp theo sau là tiếng loa kêu gọi đầu
hàng. Tiếng hò reo “sóng vỡ” của biển người. Và rồi tiếng gầm thét của hàng
đoàn chiến xa T54 trên khắp ngả tiến vào, cầy nát phi đạo phi trường Phụng Dực
Ban Mê Thuột!
Hôm
nay là ngày đầu của cuộc rút quân của Quân đoàn II. Sư đoàn 316 Cộng sản Bắc Việt
quyết khai tử Trung đoàn 53 Bộ binh, quyết nhổ đi “cái gai” cuối cùng của mặt
trận Ban Mê Thuột, của Chiến trường Cao nguyên để tiến về duyên hải.
8
giờ 30 sáng, Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng
Hòa, vị Tướng lớn nhất của Quân đội gọi yêu cầu được tường trình đặc biệt về mặt
trận phi trường Phụng Dực và các chiến sĩ Trung đoàn 53 Bộ binh.
Đây
cũng là một vinh dự, một hãnh diện cuối cùng dành cho những dũng sĩ tại mặt trận
này! Nhưng Đại tướng Viên chỉ được báo cáo qua nguồn tin không chính xác (!) của
bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 hành quân ở Phước An: Trung đoàn 53 Bộ binh đang bị đánh
rất nặng, Bắc quân đã tràn ngập vị trí phòng thủ!
Đạn
hết, lương thực hết, không còn cấp chỉ huy, không còn được yểm trợ, không còn
máy móc liên lạc để … kêu cứu. Những chiến sĩ Trung đoàn 53 Bộ binh gục ngã từng
người, từng tổ, từng … tiểu đội … trong những chiến hào …
11
giờ 30 sáng, tiếng súng im bặt. Bắc quân cắm ngọn cờ đỏ trên đài kiểm soát của
phi trường Phụng Dực, và thu dọn chiến trường.
Không
có tù binh, không có cả những người lính bị thương. Những dũng sĩ Trung đoàn 53
Bộ binh không còn chiến đấu nữa. Họ đã tan ra, đã nát ra … từng mảnh vụn, và lẫn
trong đất đỏ của miền cao nguyên hùng vĩ!
Ngày
17 tháng 3, 1975 Trung đoàn 53 Bộ binh bị Bắc quân xóa tên. Đó cũng là một ngày
đau buồn! Lần đầu tiên trong 21 năm chiến đấu chống cộng, giữ nước, bộ Tư lệnh
Quân đoàn II triệt thoái khỏi cao nguyên!
Nhưng
không, đó vẫn chưa phải là những dòng chữ cuối cùng viết về các dũng sĩ Trung
đoàn 53 Bộ binh! Bởi vì … vẫn còn những anh hùng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa
mang phù hiệu của Trung đoàn 53 … trên vai áo.
Hai
ngày sau, khi Bắc quân tràn ngập phi trường Phụng Dực, Ban Mê Thuột, một nhóm
16 quân nhân của đơn vị này đã về được Phước An và tiếp tục chiến đấu tại mặt
trận Quốc lộ 21.
Một
tuần lễ sau nữa, ngày 24 tháng 3, 1975 ba người anh hùng khác, sau 7 ngày 7
đêm, đi trên mấy chục cây số đường rừng núi, sống với cỏ cây thiên nhiên, từ
Ban Mê Thuột đã lên tới buôn Thượng Dam Rong, Đà Lạt!
Họ
là những quân nhân bất tử của Trung đoàn 53 Bộ binh! Họ thật vĩ đại, thật phi
thường! Và đó cũng là một huyền thoại của chiến tranh Việt Nam trong trận chiến
Nam-Bắc sau cùng 1975.
Phạm
Huấn
SOURCE:
https://www.baoquocdan.org/2026/03/tran-chien-co-thu-phi-truong-phung-duc.html


No comments:
Post a Comment