Tác giả: Tố Quyên
Lời
Tác giả: Chân thành cảm tạ:
– Giáo sư Jay Veith và Tiến sĩ Nguyễn Đức Phương đã cung cấp bản đồ khu vực
M’Drak
– Các chiến hữu đã qua điện thoại hoặc điện thư tường thuật thêm nhiều chi tiết
quý báu để tôi có thể kể lại diễn biến tại M’Drak những ngày cuối tháng 3/75:
– Ngô Văn Xuân, Trung Đoàn Trưởng/Tr.Đ 44/SĐ23BB
– Nguyễn Văn Giang, Giám Đốc Không Trợ QĐ II
– Trần Đăng Khôi, LĐT/LĐ3ND
– Nguyễn Hữu Thành, cựu TĐT/TĐ6ND
– Trần Công Hạnh, TĐT/TĐ2ND
– Trần Tấn Hòa, TĐT/TĐ6ND
– Võ Trọng Em, TĐT/TĐ5ND
– Các SQ/TĐ5ND trong trận đánh tại đèo M’Drak: Trần Thanh Chương, Huỳnh Quang
Chiêu, Huỳnh Hữu Sanh, Hoàng Bá Hương, Huỳnh Hiệp, Lê Hữu Dư, Tô Thành, Hoàng
Đình Côi.
Xin Độc giả cùng tôi thắp một nén tâm hương tưởng niệm đến những anh em Nhảy Dù
và các Quân Binh Chủng khác đã hy sinh xương máu cho chính nghĩa Quốc Gia tại
đây.
Tố Quyên
LINK:
https://www.baoquocdan.org/2026/03/tran-chien-co-thu-phi-truong-phung-duc.html
TÌNH
HÌNH CHIẾN SỰ TRƯỚC LÚC GIAO TRANH:
Tiểu Đoàn 5 nhảy Dù trấn đóng khu vực Bắc đèo Hải Vân được nửa tháng thì vào
khoảng đầu tháng 1/1975, TĐ được lệnh vào tiếp nhận một khu vực hành quân của
LĐIIIND tại mặt trận Thường Đức thuộc quận Đại Lộc tỉnh Quảng Nam. Suốt thời
gian hơn 2 tháng trấn giữ các cao điểm của dãy núi Sơn Gà–Động Lâm, thuộc quận
Đại Lộc tỉnh Quảng Nam, TĐ5ND không có cuộc chạm địch nào đáng kể. Các cuộc tấn
công thăm dò của địch vào các vị trí phòng thủ cấp trung đội của TĐ đều bị đẩy
lui. Trong thời gian này, phần nhiều các trận đụng độ lớn đều xảy ra ở dưới
chân núi giữa địch với các TĐ2, 6, 7ND.
Ngày 10 tháng 3 năm 1975 tin tức từ BCH/LĐIIIND cho biết VC bắt đầu
tấn công thị xã Ban Mê Thuột (BMT) từ lúc 4 giờ sáng. BMT rơi vào tay địch khoảng
7 giờ tối cùng ngày.
Ngày hôm sau tin tức qua báo chí và các đài phát thanh Sài Gòn, BBC, VOA cho biết
Mặt trận B3 của Tướng Hoàng Minh Thảo đã sử dụng 4 Sư đoàn bộ binh (F10, 320,
316, và 968), cùng 1 Trung đoàn chiến xa, 2 Trung đoàn Pháo và 1 Trung đoàn Đặc
công để bất ngờ tấn công lực lượng trú phòng lúc đó chỉ gồm các quân nhân thuộc
hậu cứ các đơn vị thuộc SĐ23BB cùng các đơn vị Địa Phương Quân của BMT.
Thời gian này, Chuẩn tướng Lê Trung Tường TL/SĐ23BB cùng BTL/HQ đóng tại Hàm Rồng
nằm dọc QL14 ở phía Nam thị xã Pleiku khoảng 9km. Trung Đoàn 45 đang hành quân
khu vực đèo Tử Sĩ nằm giữa Buôn Hô và Hàm Rồng. Đèo này nằm cách BMT khoảng hơn
40km. Trung Đoàn 44 đóng tại căn cứ 801 ở Tây Bắc Pleiku khoảng 20km. Trung
đoàn 53 gồm 2 TĐ cơ hữu đóng tại phi trường Phụng Dực (phía Đông BMT khoảng
8km) bị VC tấn công từ lúc khởi đầu để ngăn chặn trung đoàn này tiếp cứu BMT.
Mấy ngày sau đó tin tức chiến sự quanh việc tái chiếm BMT đều không rõ ràng.
Ngoài SĐ23BB ở BMT, để có đủ lực lượng, có lẽ Bộ TTM phải điều động thêm các
đơn vị tổng trừ bị (Nhảy Dù, hay Thủy Quân Lục Chiến) hiện đang hành quân tại
khu vực Đà Nẵng và phía Bắc đèo Hải Vân hay các Liên Đoàn Biệt Động Quân của
các quân khu khác.
Ngày 15/3/1975: TĐ nhận công điện của LĐIIIND trong đó cho biết TĐ5ND sẽ
được 1 TĐ/TQLC trực thuộc LĐ369 TQLC thay thế khu vực trách nhiệm. Toàn bộ
LĐIIIND và các TĐ2, 5, và 6ND trực thuộc hành quân sẽ được hải vận về Sài Gòn
cùng TĐ7ND.
Ngày
16/3/1975: Việc thay quân bắt đầu từ khoảng 8 giờ sáng và hoàn
tất lúc 5 giờ chiều. Khi xuống đến chân núi tôi thấy 2 người bạn cùng khóa VBĐL
là Trung tá Nguyễn Xuân Phúc LĐT/LĐ369 TQLC và Trung tá Đỗ Hữu Tùng LĐP đang đứng
đợi. Thấy tôi, Phúc cười và nói:
– “Tụi nó đang đợi mày ở BMT đấy.”
Tôi cho Phúc và Tùng biết đơn vị tôi được lệnh về Sài Gòn. Nghe nói thế Phúc cười
và nói:
– “Sức voi mà về Sài Gòn giờ này. Thôi lên đó đi, tụi tao nghĩ có lẽ tương lai
gần cũng về húc ở đó. Thôi chúc mày may mắn.”
Từ biệt hai ông bạn vàng, tôi cho lệnh đơn vị lên xe, và TĐ5ND được xa vận ra
quân cảng Đà Nẵng. Tại đây Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng TL/SĐND và Đại tá Văn Bá
Ninh TMT/SĐND ghé thăm TĐ. Tướng Lưỡng cho biết Bộ TTM lệnh cho SĐND lần lượt
triệt thoái về Sài Gòn. Trong câu chuyện ông không đả động gì đến việc SĐND sẽ
tham dự phản công tái chiếm BMT.
Khoảng nửa đêm thì 2 Dương vận hạm LST [1] 404 và 504 chở toàn
bộ LĐIIIND/HQ cùng TĐ7ND rời quân cảng Đà Nẵng và trực chỉ Sài Gòn. LST–404 của
Hải Quân Trung tá Nguyễn Văn Lộc chở các TĐ2, 5 và 6ND cùng ĐĐ3 Trinh Sát. Chiếc
LST–504 của Hải Quân Trung tá Nguyễn Như Phú chở BCH/LĐIIIND, các ĐĐ Công Vụ,
Công Binh, Truyền Tin ND và TĐ3/PBND.
Ngày 17/3/1975 & 18/3/1975: Toàn bộ LĐIIIND/HQ hải hành từ quân cảng
Đà Nẵng xuôi Nam trên 2 LST–404 và LST–504. Thành phần tiền trạm của các đơn vị
sẽ do P4/SĐND đảm trách phương tiện về Sài Gòn sau.
Ngày 19/3/1975: Khoảng 3 giờ sáng, Trung tá Lộc Hạm Trưởng LST–404 cho
xem 1 công điện của BTL/HQ trong đó cho lệnh LST–404 đổ “hàng” xuống Nha Trang
rồi quay trở lại Đà Nẵng. Vì tôi là SQND thâm niên nhất trên tầu nên sau khi đọc
xong công điện tôi nói với Trung tá Lộc là ông cứ việc đổ “hàng” theo lệnh. Ông
Lộc cười và nói:
– “Hàng là các đơn vị ND đấy”.
Hơi bất ngờ tôi trả lời là sẽ liên lạc với Trung tá LĐT/LĐIIIND Lê Văn Phát về
việc này. Sau khi dùng ám danh đàm thoại qua hệ thống truyền tin trên DVH–404
nói chuyện với Trung tá Phát lúc đó đang lênh đênh trên chiếc LST–504, tôi được
biết toàn bộ LĐIIIND hành quân sẽ đổ quân lên Nha Trang và đặt thuộc quyền của
QĐII. Riêng TĐ7ND tiếp tục được hải vận về Sài Gòn.
Khoảng 5 giờ sáng, LST–404 cập bến Cầu Đá Nha Trang, bãi biển lúc đó vắng tanh.
Khi thấy lính ND tụ tập dài trên bãi biển, dân chúng Nha Trang bắt đầu kháo
nhau và kéo đến đông nghịt. Khoảng 6 giờ, Đại tá Lý Bá Phẩm, Tỉnh Trưởng Khánh
Hòa, đi trên 1 chiếc xe jeep nệm trắng chạy tới. Tôi chào ông và nói chúng tôi
còn chờ BCH/LĐ.
Khoảng 7 giờ thì chiếc LST–504 tới. Trung tá Phát cùng các TĐT/ND lên xe trực
chỉ BTL/QĐII lúc đó tạm trú tại khách sạn Grand Hotel nằm trên đường Duy Tân
nhìn thẳng ra bãi biển Nha Trang. Tại đây tôi gặp Trung tá Không Quân Nguyễn
Văn Giang, là Giám Đốc Không Trợ của QĐII, một người bạn học CVA cũ. Anh Giang
cho biết là QĐ đã được lệnh bỏ Pleiku và Kontum. Các đơn vị của QĐII sẽ rút về
đây và tái phối trí lại dọc theo các tỉnh miền duyên hải. Đang nói chuyện thì
Thiếu tướng Phạm Văn Phú TL/QĐII đến.
Vóc người dong dỏng với nét mặt thư sinh, người ĐĐT/ĐĐ54 của TĐ5ND tại mặt trận
Điện Biên Phủ ngày nào hôm nay có vẻ mệt mỏi và ưu tư. Sau khi nói chuyện với
Trung tá Phát ông quay sang các TĐT/ND và nói:
– “Các anh rán chận chúng ở Khánh Dương cho tôi rồi mình sẽ tính sau.”
Thấy huy hiệu TĐ5ND trên vai áo tôi, ông vui vẻ bắt tay tôi và nói,
– “Có thằng TĐ5ND ở đây là tôi phần nào yên tâm rồi.”
Tôi chỉ cười và không trả lời vì biết rằng trong trận mạc muốn làm chủ được chiến
trường, một đơn vị thiện chiến ngoài yếu tố tinh thần còn phải hội đủ được nhiều
yếu tố chiến lược và chiến thuật khác.
Trước khi rời BTL/QĐII/HQ, tôi gặp riêng anh Nguyễn Văn Giang để tìm biết thêm
về tình hình của QĐ. Khi tôi hỏi về tình hình các đơn vị của QĐ triệt thoái về
đến đâu rồi thì Trung tá Giang, nét mặt đanh lại trả lời:
– “Còn đang kẹt tại Phú Bổn. Chưa biết về được nguyên vẹn không?”
Thấy thế tôi cũng không hỏi thêm. Khi tôi bắt tay anh để xuống thang lầu về họp
với BCH/LĐIIIND, Giang siết tay tôi thật chặt và nói:
– “Cứ lên Khánh Dương đi. Tao còn ở đây thì sẽ dồn hết hỏa lực không trợ cho
mày.”
Rời BTL/QĐII/HQ trở về với đơn vị, Trung tá Phát họp các TĐT tại bãi biển để phổ
biến kế hoạch di chuyển. Sau đó khoảng 10 giờ sáng toàn bộ LĐIIIND trực chỉ Dục
Mỹ trên đoàn quân xa khá dài. Đoàn xe theo yêu cầu của Tỉnh Trưởng Khánh Hòa đã
chạy một vòng qua các phố chính của thành phố Nha Trang trước khi theo QL1 để
đi Ninh Hòa. Dân chúng hai bên đường vừa chỉ trỏ vừa vẫy tay khiến đa số anh em
ND đều thấy ấm lòng qua sự tin tưởng của dân chúng. Từ Ninh Hòa, đoàn xe rẽ
trái theo QL21 để đi Dục Mỹ. Sinh hoạt của dân chúng ở đây có vẻ như chưa dao động
sau tin BMT thất thủ.
LĐIIIND tạm đóng quân tại phía Nam đèo Phượng Hoàng [2] lúc 3
giờ chiều. Trung tá Phát sau đó họp các đơn vị trưởng và ban lệnh hành quân.
Sau buổi họp, tôi lấy xe chạy vào TTHL/BĐQ Dục Mỹ gặp Đại tá Nguyễn Văn Đại
CHT/Trung Tâm và Trung tá Nguyễn Thế Phồn, Trưởng Phòng 4, để xin thêm một số cấp
số đạn dược.
TÓM LƯỢC LỆNH HÀNH QUÂN:
TÌNH HÌNH:
Địch: Lực lượng địch do Tướng Vũ Lăng chỉ huy gồm:
– SĐ F10: Tư lệnh là Thượng tá Hồ Đệ. F10 gồm 3 trung đoàn:
– Trung đoàn 24 của Thiếu tá Phùng Bá Thường,
– Trung đoàn 28 của Thiếu tá Nguyễn Đức Cẩm,
– Trung đoàn 66 của Thiếu tá Nguyễn Đình Kiệp.
– Trung đoàn 25/320 của Thiếu tá Lộ Khắc Tâm (SĐ 320 của Thượng tá Nguyễn Kim
Tuấn),
– Trung đoàn 273 chiến xa của Thiếu tá Lê Mai Ngọ,
–
Trung đoàn 40 Pháo của Thiếu tá Nguyễn Hữu Vinh,
– Trung đoàn 198 Đặc công của Thiếu tá Trần Kình.
Theo tin tức mới nhất của Phòng 2/QĐII thì sau khi chiếm được Ban Mê Thuột địch
dự trù để SĐ 316 trấn giữ và tổ chức củng cố phòng ngự BMT nhằm ngăn chặn các
cuộc phản công của VNCH. Sau khi tái tổ chức chúng sẽ tiếp tục sử dụng SĐ F10
làm nỗ lực chính được tăng cường thêm Trung đoàn 25 của SĐ 320 để tiếp tục tiến
chiếm Nha Trang. Cùng phối hợp tác chiến với F10 là các đơn vị chiến xa, Đặc
công và Pháo nói trên nhằm chọc thủng các tuyến ngăn chặn của các đơn vị VNCH
trên trục tiến quân chính của chúng là QL21.
Bạn:
1. BTL/SĐ23BB/HQ gồm Trung đoàn 44(–) của Trung tá Ngô Văn Xuân và
Trung đoàn 45 của Đại tá Phùng Văn Quang, tại gần đồi Chư Cúc (226–167) thuộc
quận Phước An. Chư Cúc ở khoảng 22km Đông Bắc BMT.
2. Liên Đoàn 21 BĐQ, LĐT là Trung tá Lê Quý Dậu, ở khu vực phía Đông thị
xã BMT và phía Nam Buôn Hô.
3. Một TĐ của Trung đoàn 40/SĐ22BB đóng tại Chư Cúc (phía Đông BMT
khoảng 42km) cùng với 2 TĐ/ĐPQ thiện chiến của thị xã Phan Rang, còn Trung đoàn
40 (–) do Trung tá/Trung đoàn trưởng Nguyễn Thành Danh trừ bị tại phía
sau. [2TĐ/ĐPQ Phan Rang trực thuộc BCH nhẹ của Trung tá Nguyễn Công Ba,
TKP Ninh Thuận gồm TĐ 250 Thần Ưng của Thiếu tá Trần Văn Kia trấn giữ đồi 519
(ngay sát QL21 và cách quận lỵ Khánh Dương 18km), và TĐ 231 Thần Hổ của Thiếu
tá Nguyễn Duy Hoàng nằm giữa quận lỵ Khánh Dương và đồi 519.]
4. Hai TĐ/ĐPQ thuộc Liên Đoàn 922 ĐPQ thuộc Tiểu Khu Khánh Hòa đảm
trách các cầu cống trên phần QL21 thuộc TK/Khánh Hòa.
5. Tăng phái: Chi Đoàn 2/Thiết Đoàn 19 của Đại úy Nguyễn Xá gồm 22 chiếc
M–113 được tăng phái cho LĐIIIND.
6. Không yểm: SĐ6 Không Quân tại Phan Rang trực tiếp yểm trợ không hỏa lực
cũng như tản thương.
KHU VỰC HÀNH QUÂN:
Đèo M’Drak là khúc đường trên Quốc Lộ 21 [QL21] dài khoảng 28km, đầu
đèo cách BMT 96km. Đoạn đường đầu đèo dài 4km này nằm giữa hai dãy núi khá cao,
vách núi dựng đứng. Phía Bắc con đường là các triền của chòm núi Chư Kroa với đỉnh
cao 958m, phía Nam con đường là các triền của các núi nhỏ hơn mà đỉnh cao nhất
là 609m.
Từ đỉnh đèo có thể quan sát thấy được sân bay nhỏ nằm ở phía Đông Nam quận
Khánh Dương. Về phía Tây Bắc đỉnh đèo khoảng 2km là Tỉnh Lộ 98 đi qua nhiều
buôn làng trước khi tới Củng Sơn, Tuy Hòa. Sau đoạn đầu đèo chạy theo hướng
Đông Tây khoảng hơn 2km thì con đường rẽ quặt 90 độ về Nam rồi tiếp tục uốn lượn
giữa những triền đồi cao nằm hai bên đường theo hướng Nam–Đông Nam cho tới chân
đèo. Chân đèo hay đèo Phượng Hoàng nằm kẹp giữa các vách dựng đứng của dãy Chư
Giung (677m) nằm phía Đông Bắc và dãy Chư Bli (993m) nằm ở phía Tây Nam. Chân
đèo cũng là ranh giới trên QL21 giữa quận Khánh Dương và quận Ninh Hòa.
Các
triền đồi ở hai bên đường phần lớn là dựng đứng trên đó là những khu rừng nhiệt
đới gồm các cây cao rậm rạp và những lùm bụi nhỏ xen lẫn cỏ tranh. Khoảng 10
cây cầu xi–măng nằm trên các đoạn có các sông suối nhỏ chảy ngang qua đường. Mặt
đường trải đá và tráng nhựa và lưu thông được hai chiều tuy bề mặt đường hơi nhỏ.
Cư dân trong khu vực này là người dân Ê–Đê sống tập trung trong các buôn làng ở
gần hai bên đường. Đông nhất là tại buôn Ea Thi có khoảng trên 500 người. Người
dân ở đây hiền lành chất phác và sinh sống bằng nghề làm rẫy, săn thú và tiểu
thủ công nghệ. Một số gia nhập Địa Phương Quân và Nghĩa Quân, đảm nhiệm canh giữ
mấy cây cầu trên đèo M’Drak.
NHIỆM VỤ
A. Giai đoạn I: LĐIIIND chiếm giữ toàn bộ khu vực đèo M’Drak. Sử dụng lực
lượng cơ hữu tổ chức 2 tuyến phòng ngự chính tại đỉnh đèo và khúc giữa đèo.
Ngăn chận địch không cho qua các tuyến phòng ngự này.
B. Giai đoạn II: Sẵn sàng hành quân cùng các đơn vị bạn phản công tái
chiếm BMT khi có lệnh.
PHÂN CÔNG
1. TĐ5ND được tăng phái 1 chi đoàn TVX [Thiết Vận Xa] đảm
nhiệm tổ chức tuyến phòng ngự I tại đỉnh đèo M’Drak (620–031). Đặt mìn chống
chiến xa trước tuyến I đồng thời giật sập cây cầu xi–măng tại (594–046) trên
QL21 khi có lệnh.
2. TĐ6ND tổ chức tuyến phòng ngự II tại khu vực giữa đèo M’Drak
(663–935). Chuẩn bị sẵn để có thể phá hủy mấy cây cầu xi–măng phía trước tuyến
II khi có lệnh.
3. TĐ2ND chiếm giữ khu vực cuối đèo (703–902) là lực lượng trừ bị của
Lữ Đoàn. Tăng cường cho hai TĐ5 & 6ND khi có lệnh.
4. TĐ2/PBND của Thiếu tá Nguyễn Văn Triệu gồm 3 pháo đội, sử dụng mỗi
pháo đội yểm trợ trực tiếp cho một TĐND. Chịu trách nhiệm phối hợp không pháo yểm
theo lệnh của BCH/LĐIIIND.
5. BCH/LĐIIIND/HQ và Trung tá LĐT Lê Văn Phát cùng BCH/TĐ2/PBND của
Thiếu tá Nguyễn Văn Triệu đóng tại khu vực gần Yếu Khu Dục Mỹ. BCH nhẹ do Trung
tá LĐP Trần Đăng Khôi đặt tại BCH/TĐ2ND.
DIỄN TIẾN
Ngày 20/3/1975: Lúc 08:00g, TĐ5ND dùng xe di chuyển vào vị trí bố phòng
tại tuyến I ở đầu đèo M’Drak. TĐ5ND ổn định xong tại vị trí lúc 15:00g.
TUYẾN I
Phối trí các ĐĐ/TĐ5ND như sau:
TĐ5ND: Trung tá TĐT Bùi Quyền cùng BCH đóng tại đỉnh đèo M’Drak ở cao điểm
609m (631–025). Các ĐĐ trấn giữ các cao điểm hai bên QL21 gồm:
* ĐĐ52 do Trung úy Huỳnh Hiệp, là ĐĐT, đóng tại cao điểm 810m
(617–045) chịu trách nhiệm từ tọa độ (617–045) tới tọa độ (620–047). Thiếu tá
Võ Trọng Em, TĐP và BCH nhẹ đặt tại đây cùng với hỏa tiễn T.O.W chống chiến xa.
* ĐĐ53 do Trung úy Hoàng Bá Hương, là ĐĐT, án ngữ khu vực bên trái
QL21, BCH/ĐĐ đóng tại 610m (616–028) chịu trách nhiệm từ tọa độ (605–027) tới tọa
độ (614–030).
* ĐĐ54 do Trung úy Lê Công Vũ, là ĐĐT, án ngữ khu vực cao độ bên phải
QL21. BCH/ĐĐ đóng tại cao điểm 610m (614–039) chịu trách nhiệm từ tọa độ
(615–035) tới tọa độ (614–046).
* ĐĐ51 do Trung úy Huỳnh Hữu Sanh là ĐĐT, trừ bị cho TĐ đóng tại
cao điểm 572m (643–030). Chỉ huy đơn vị theo tùng thiết chi đoàn TVX/M–113 tăng
phái khi có lệnh.
* ĐĐ Đa Năng do Thiếu úy Tô Thành chỉ huy trách nhiệm tuần tiễu dọc
hai bên con suối Ea Krong Hin đồng thời sử dụng 1 trung đội cùng 2 chiếc M–113
và 1 xe jeep có gắn khẩu 106mm không giật làm tiền đồn và bố trí tại khu đồi nhỏ
và rậm rạp (599–045) để kiểm soát cây cầu (594–046) trên QL21 nằm giữa đèo
M’Drak và sân bay Khánh Dương.
* Chi đoàn 2/19 Thiết Kỵ của Đại úy Nguyễn Xá tăng phái cho TĐ gồm
22 chiếc M–113, lợi dụng những khoảng lõm ẩn khuất giữa các vách núi hai bên
QL21 để giấu xe và là lực lượng trừ bị của TĐ. Chi đoàn biệt phái cho ĐĐ Đa
Năng 2 M–113.
* Pháo Đội A2 của Trung úy Lê Thái Chân bố trí tại một khoảng đất
trống (635–021) nằm dưới chân đồi 609m và ở phía Tây QL21, yểm trợ trực tiếp
cho 3 ĐĐ ở tuyến đầu.
Qua liên lạc, TĐ5ND được biết vị trí của 2 TĐ6 & 2ND như sau:
TUYẾN II
TĐ6ND. Trung tá Nguyễn Hữu Thành TĐT cùng BCH/TĐ đóng trên một khu đồi gần
Buôn Ea Thi (675–918). Hai ĐĐ của TĐ6ND trấn giữ các cao điểm hai bên đường từ
tọa độ (658–929) tới (665–929) phía Nam QL21 và từ tọa độ (668–930) tới
(668–935) phía Bắc QL21. Thiếu tá Trần Tấn Hòa, TĐP nằm với 1 ĐĐ tại tọa độ
(677–932).
TUYẾN III
BCH nhẹ LĐIIIND & TĐ2ND:
Bộ chỉ huy nhẹ của LĐIIIND và BCH/TĐ2ND của Thiếu tá Trần Công Hạnh, TĐT/TĐ2ND
cùng đóng trên một ngọn đồi (709–898) nằm ở phía Đông QL21 và gần sát QL.
Các ĐĐ đóng tại các cao điểm hai bên QL21 gần BCH/TĐ.
Khoảng 16:00g, tôi dùng xe jeep chạy thẳng lên quận Khánh Dương. Trên sân bay
Khánh Dương từng đợt trực thăng vẫn lên xuống đều đặn, mỗi đợt đổ từng nhóm
binh sĩ cùng gia đình dân chúng kể cả các gia đình của đồng bào sắc tộc. Những
nhóm người này bồng bế trẻ con theo QL21 dắt díu nhau đi bộ vượt qua đèo để
xuôi về phía Dục Mỹ. Tại quận lỵ quận Khánh Dương, tôi gặp Trung tá Điêu Ngọc
Chuy, SQ Trưởng Phòng 2/SĐ23BB đang ngồi trên một thùng gỗ đựng đạn PB. Nét mặt
mệt mỏi, anh Chuy, người bạn cùng khóa, cho biết gia đình anh còn kẹt tại BMT
và BTL/SĐ23BB/HQ cũng sắp rời từ Chư Cúc về đây.
Tôi hỏi Chuy rằng thế hiện giờ Chuẩn tướng Lê Trung Tường TL/SĐ23BB hiện ở đâu,
thì anh Chuy cho biết Tướng Tường bị thương do trực thăng của ông bị trúng đạn
phòng không 12.8mm của VC ngay sáng ngày 14/3/1975 khi ông bay từ Khánh Dương
lên Phước An. Hiện giờ ông Tường đang nằm tại BV Nha Trang. Đại tá Lê Hữu Đức
hiện giờ Xử lý TL/SĐ và BTL/HQ đã rời về ở đồi Chư Cúc và chắc sáng mai sẽ rút
về đây.
Từ phía khu vực này tiếng bom đạn vẫn vang vọng về cùng với những cụm khói đen
của những đám cháy tại đó. Đêm về, tại vị trí đỉnh đèo những hỏa châu do máy
bay thả vẫn thấy đung đưa trên bầu trời của phía Tây quận lỵ Khánh Dương. Tình
hình khu vực trách nhiệm của TĐ5ND trong đêm yên tĩnh.
Ngày 21/3/1975: Khoảng 08:00g, Trung úy Sanh ĐĐT/ĐĐ51 báo về BCH/TĐ là 2
khẩu 105mm từ quận Khánh Dương đã kéo về và đang tổ chức vị trí tại phía trước
đỉnh đèo (609–034). Tôi lấy xe jeep chạy lên khu vực đỉnh đèo quan sát. Phía
bên trái QL21 khoảng 500m cách đầu đèo M’Drak, 2 khẩu 105mm của TĐ63/PB đang
chĩa nòng súng về phía Tây Bắc, các pháo thủ đang lo chuẩn bị vị trí để sẵn
sàng tác xạ.
Khu vực sân bay Khánh Dương không có gì lạ. Riêng từ phía quận Khánh Dương vẫn
từng đoàn người lũ lượt đi bộ lếch thếch kéo về phía đèo. Liên lạc qua máy truyền
tin với BCH/LĐ, tôi được Trung tá Phát cho lệnh cứ để cho những người dân chạy
giặc này đi qua vì tại khu vực yếu khu Dục Mỹ đã có những toán an ninh quân cảnh
hỗn hợp thanh lọc họ để tránh VC trà trộn. Trung tá Phát cũng cho biết theo lệnh
của Tướng Phú, tất cả lực lượng bạn ở phía trước đèo M’Drak sẽ lần lượt triệt
thoái về phía sau tuyến I.
Lực lượng tăng viện cho tuyến Khánh Dương của LĐIIIND sẽ do QĐII điều động đến
sau khi các đại đơn vị của QĐII triệt thoái từ Pleiku và Kontum về tới Tuy Hòa
và Nha Trang.
Khoảng 09:00g, quận Khánh Dương bị vài trái hỏa tiễn 122mm của VC pháo rải rác
bên ngoài hàng rào quận.
Khoảng 12:00g, một số tiếng nổ vang dội tại khu vực gần sân bay cũng như từ
phía quận Khánh Dương. Chắc là VC đang điều chỉnh pháo binh để chuẩn bị trận địa.
Từng đoàn dân chúng vẫn lũ lượt từ phía Khánh Dương chạy về. Khoảng 13:00g, Chuẩn
tướng Lê Văn Thân, Phụ tá Quân Khu II đáp trực thăng xuống một bãi trống bên
QL21 ở phía trước tuyến I. Tôi lái jeep đến cạnh bãi đáp để chào ông và tìm hiểu
thêm tin tức. Tướng Thân cho biết các đơn vị của QĐII triệt thoái theo Tỉnh Lộ
7B về Tuy Hòa bị VC pháo kích và chận đánh nên thiệt hại rất nặng. Ông cũng cho
biết Sài Gòn sẽ gửi những đơn vị khác ra tăng cường cho tuyến Khánh Dương song
không biết vào lúc nào. Tướng Thân cho biết BTL/SĐ23BB sẽ rút về lập thêm phòng
tuyến ở đây. Trong lúc nói chuyện tôi thấy một số binh sĩ đang dựng các cột thu
phát sóng 292 [3] trên một khu đồi cao gần bên đường.
Thình lình một loạt đạn pháo của địch rơi và nổ tung bụi đất ở phía Bắc cách
bãi đáp chừng 7, 8 trăm thước. Tướng Thân vội vã lên trực thăng và rời khu vực.
Một lúc sau không biết do lệnh từ đâu mà 2 khẩu pháo binh 105 cũng như nhóm
binh sĩ đang chuẩn bị vị trí cho trạm truyền tin với cột antenna 292 rời bỏ vị
trí và rút qua đèo để xuôi về Nha Trang. Từ lúc đó cho đến nửa đêm chỉ thấy các
nhóm dân chúng lũ lượt kéo nhau qua đèo. Những chiếc phi cơ A–37 của KQ vẫn đảo
lộn oanh tạc trên vùng trời phía Tây của Khánh Dương.
Ngày
22/3/1975: Từ 08:00g, đã thấy A–37 nhào lộn oanh tạc trên vòm
trời phía Tây Khánh Dương. Khoảng 10:00g, Trung tá Lê Quý Dậu dẫn LĐ21BĐQ rút về
đèo M’Drak. Trung tá Dậu cho tôi biết là đơn vị của ông sau những trận đụng độ
với VC tại Buôn Hô bị tổn thất khá nặng và bây giờ được lệnh triệt thoái về Nha
Trang để bổ sung quân số và chỉnh trang đơn vị. Anh Dậu nhờ tôi cho mượn một xe
jeep để chạy về tiền trạm của anh ở Dục Mỹ. Anh cho biết hỏa lực của địch rất mạnh
lại thêm T–54 trợ chiến song nhờ A–37 của KQ yểm trợ diệt chiến xa nên đơn vị
anh mới đủ sức cầm cự đến giờ.
Khoảng 13:00g, Trung tá Phạm Huấn, người phóng viên quân đội quen thuộc của các
đơn vị quân đội đi jeep từ phía Dục Mỹ tới. Gặp tôi đang đứng quan sát ở đỉnh
đèo M’Drak, anh Huấn xuống xe và tới bắt tay cùng hỏi thăm tin tức và tình hình
chiến sự.
Đang nói chuyện với anh thì Trung tá Ngô Văn Xuân, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn
44, đang dẫn đơn vị anh rút qua đèo. Anh Xuân cho biết anh cùng ĐĐ44TS của Đại
úy Mạnh và TĐ3/44 của Đại úy Trần Hữu Lưu, sau mấy trận đụng độ với F10 cũng bị
tổn thất kha khá và bây giờ được lệnh kéo về TTHL Lam Sơn để chỉnh trang và bổ
sung đơn vị. Còn TĐ1/44 của Thiếu tá Nguyễn Xuân Hòe và TĐ2/44 của Đại úy Nguyễn
văn Pho cùng Trung tá Trung đoàn phó Vũ Mạnh Cường thì đi theo các đơn vị triệt
thoái từ Pleiku và cho đến nay vẫn không có tin tức gì.
Hỏi anh về tình hình của Trung đoàn 45 của Đại tá Phùng Văn Quang thì anh cho
biết Trung Đoàn này khi được trực thăng vận xuống Phước An vào ngày 12/3/75 và
tiến về BMT đã đụng độ nặng, bây giờ hết khả năng tham chiến. Riêng Trung Đoàn
53 của Trung tá Võ Ân thì đã bị xóa sổ tại phi trường Phụng Dực. Anh cũng cho
biết còn một số đơn vị của ĐPQ cũng như các nhóm nhỏ binh sĩ thất lạc đơn vị hiện
vẫn còn loanh quanh tại khu vực quận Khánh Dương và đang tìm đường rút về đây.
Quay về BCH/TĐ tôi liên lạc với Trung tá Phát để báo cáo tình hình và xin lệnh.
Trung tá Phát cho lệnh củng cố vị trí và yểm trợ cho các đơn vị trước tuyến I
rút về. Từ phía Khánh Dương vẫn từng nhóm binh sĩ lẻ tẻ rút về cho tới 12 giờ
đêm. Tôi xin không quân thả hỏa châu soi sáng khu vực trước tuyến để giúp TĐ dễ
quan sát khu vực và tránh ngộ nhận với các đơn vị bạn còn lại đang trên đường
rút về đèo.
Ngày 23/3/1975: Khoảng 02:00g, đơn vị chót rút qua đèo là 2 TĐ/ĐPQ của
Tiểu Khu Phan Rang. Vị Đại úy/TĐT của tiểu đoàn đi sau cho Trung úy Sanh,
ĐĐT/51, biết là không còn đơn vị bạn nào ở phía sau đơn vị ông. Từ lúc đó cho đến
sáng tôi được BCH/LĐIIIND cho biết phía trước tuyến không còn đơn vị bạn nào.
Các toán tiền đồn trước tuyến cho biết chưa phát giác được bất cứ dấu hiệu nào
của địch.
Khoảng
17:00g, trung đội nằm chung với 2 chiếc M–113 tại (599–045) báo về BCH/TĐ là đã
thấy VC xuất hiện tại khu vực quận Khánh Dương cũng như tại sân bay Khánh Dương
(563–075).
Khoảng 22:00g, VC gửi một đơn vị tiền thám tìm cách vượt qua cây cầu xi–măng ở
phía trước tuyến I. Trung đội tiền đồn cùng M–113 khai hỏa và địch rút chạy về
phía quận Khánh Dương. Thiệt hại của địch không rõ. Trung đội tiền đồn này sau
khi báo cáo về BCH/TĐ đã di chuyển sang một vị trí phụ khác ở phía Nam vị trí
cũ. LĐ sau khi nhận báo cáo của TĐ5ND đã cho lệnh phá cầu. Mìn chống chiến xa
được ĐĐ51ND bắt đầu rải đặt trước tuyến.
Khoảng 23:00g, VC bắt đầu pháo vào khu vực tiền đồn cũng như trên các triền đồi
trước tuyến. TĐ5ND báo động toàn bộ. Thiếu tá TĐP Võ Trọng Em tại vị trí của
BCH/ĐĐ52ND cho biết nhiều đoàn xe mở đèn chạy từ phía Tây Khánh Dương đang di
chuyển về hướng sân bay. Ước lượng cũng trên 20 xe. Thiếu tá Em cho biết có
nghe cả tiếng chiến xa nữa. Tiền sát viên PB của ĐĐ52ND liên lạc xin hỏa tập PB
trên khu vực mục tiêu. TĐ xin KQ gửi mấy chiếc Hỏa Long C–119 lên song được biết
những phi cơ này đang được sử dụng cho mặt trận tại vùng Phú Yên Tuy Hòa.
Ngày 24/3/1975: Khoảng 01:30g VC pháo mạnh vào vị trí khu vực phía Đông
Nam cây cầu xi–măng ở (599–045) rồi sau đó các toán bộ binh bọc các triền đồi ở
2 bên cây cầu để tiến sang bên này cầu. Bên kia cầu bóng dáng của một chiếc
T–54 xuất hiện và đang tìm lối vượt con suối cạn Ea Ngon. Khẩu 106mm đặt trên
chiếc xe jeep nằm với trung đội tiền đồn chỉ cần một viên là khiến chiếc T–54
xoay ngang và sụm ngay tại chân cầu.
Trung đội tiền đồn và 2 chiếc M–113 trang bị đại liên 50 tiếp tục khai hỏa đồng
thời gọi xin hỏa tập tiên liệu của Pháo Đội A2/ND ngay trên cây cầu đã bẻ gẫy đợt
tiến quân này của VC. Kết quả địch lại rút về phía sân bay Khánh Dương. Trung đội
tiền đồn cho một tổ lên lục soát phía bên này cầu. Thiệt hại của địch ngoài chiếc
T–54 bị hạ nằm tại chỗ còn một số vũ khí cá nhân và hơn 10 xác nằm rải rác bên
này cây cầu. Ngoài ra còn bắt được một tù binh bị thương nặng. Ta có 3 binh sĩ
bị thương nhẹ. Tôi cho lệnh trung đội tiền đồn gài thêm mìn tự động tại khu vực
cũ rồi rút về đỉnh đèo mang theo người tù binh bị thương.
Sau khi được Bác sĩ Nguyễn Thanh Liêm của TĐ khám và y tá của TĐ chăm sóc, người
tù binh đã tỉnh táo nhiều. Qua khai thác tin tức sơ khởi, Thiếu úy Nhữ Văn
Liêu, Ban 2 TĐ, cho tôi biết địch thuộc ĐĐ5/TĐ8/Trung đoàn 66/F10. Người tù
binh cho biết “thủ trưởng” [4] của ĐĐ của hắn tên Trần Đới.
Liên lạc với Trung tá Phát, LĐT, tôi thông báo những chi tiết trên và cho ông
Phát biết TĐ đang trực diện với Trung đoàn 66 của F10, một đơn vị khá nhiều
kinh nghiệm chiến trường. Tôi khi còn là ĐĐT/ĐĐ83/TĐ8ND, khi ĐĐ được tăng phái
cho TĐ5ND của Thiếu tá Hồ Trung Hậu, đã từng chạm với một đơn vị cấp TĐ (–) của
Trung đoàn 66 tại chiến trường Ia Dran khoảng giữa tháng 11 năm 1965. Ông Phát
sau khi nghe bèn hứa sẽ tăng cường tối đa không pháo yểm cho TĐ5ND. Khoảng
11:00g, Thiếu tá Em cho biết có khoảng 5 chiếc T–54 đang di chuyển từ phía sân
bay Khánh Dương tiến về hướng đỉnh đèo. Hỏa tập ngăn chặn của Pháo Đội A2/ND bắt
đầu tác xạ. Những chiếc A–37 lên vùng và hạ thêm 3 T–54.
Bắt đầu thấy phòng không của địch bắn lên từ khu đồn điền Khánh Dương nằm khoảng
10km phía Bắc sân bay Khánh Dương. Một đợt A–37 nữa lên vùng và oanh tạc những
vị trí súng phòng không ấy.
Qua tần số Không–Lục, tôi được biết ít nhất là 2 vị trí súng phòng không bị hủy
diệt. Từ đó cho tới khuya tin tức chuyển quân của địch quan sát được từ KQ và từ
các BCH các ĐĐ52, 53 và 54ND trên các cao điểm của tuyến I liên tục báo về.
Trung tá Phát nói với tôi ông không biết làm gì hơn là xin KQ oanh tạc vì các vị
trí của địch nằm ngoài tầm của các pháo đội của TĐ2/PBND và KQ cũng quá bận rộn
trong việc yểm trợ cho mặt trận Phú Yên. Tôi cho Trung tá Phát biết theo tôi ước
tính thì chắc chắn là địch sẽ tấn công tuyến I trong đêm nay. Ông Phát chỉ nhỏ
nhẹ nói:
– “Thôi thì rán lên, Sài Gòn sẽ tăng viện thêm. Họ cũng đang điên đầu lên vì
tin tức các nơi gửi về không sáng sủa gì!”
Ngày 25/3/1975: Khoảng 04:30g địch pháo kích trước tuyến phòng thủ của
ĐĐ53ND. Trận pháo kích thăm dò này kéo dài khoảng 20 phút. Ta vô sự.
Khoảng 05:00g, VC bắt đầu tấn công tuyến của ĐĐ53ND. Hỏa tập phòng thủ trên tuyến
của ĐĐ do Pháo Đội A2/ND cung cấp hòa nhịp với 2 khẩu súng cối 81mm của TĐ đã
ròn rã vang lên cùng với các loại hỏa lực cơ hữu của ĐĐ53ND trong hơn một giờ đồng
hồ. Đến 06:15g Trung úy Hương ĐĐT/53 báo cáo địch đã rút lui. ĐĐ53ND bị 1 tử
thương và 7 binh sĩ bị thương, đa số nhẹ. Thiệt hại địch không rõ vì tôi cho lệnh
chờ đến tối hãy ra lục soát, còn bây giờ thì lo củng cố hầm hố phòng thủ và rán
đào thêm giao thông hào nối liền các tuyến phòng thủ còn đang đào dở dang.
Khoảng 07:00g, tiếng súng lại vang dội trên tuyến của ĐĐ53ND. Ngoài pháo binh
các loại của địch còn thêm hỏa lực đại bác 100mm của T–54 trực xạ từ các khu vực
rậm rạp khoảng 700m dưới chân đồi phía trước tuyến. Các hỏa tập yểm trợ lại tiếp
tục vang rền.
Hỏa tiễn TOW của TĐ đặt tại vị trí (615–035) của ĐĐ52ND nhờ quang độ lúc đó khá
tốt nên đã tác xạ và bắn cháy 2 chiếc T–54. Khẩu 106mm ở đỉnh đèo cũng hạ được
một T–54.
Lúc 08:00g, 2 chiếc A–37 xuất hiện bắt đầu oanh tạc các triền đồi phía trước
tuyến của ĐĐ53ND và khu vực nghi ngờ chiến xa cũng như pháo binh địch ẩn nấp.
Tiếng súng của địch êm dần và chấm dứt trước tuyến của ĐĐ53ND lúc 08:30g. Trung
úy Hương báo cáo hơn 20 xác địch tại trước tuyến và gần 10 vũ khí cá nhân. Giấy
tờ trên một tử thi cho biết thuộc Trung đoàn 28 của F10. Ta bị thêm 2 tử thương
và 11 bị thương.
Khoảng 10:00g, TĐ tản thương bằng xe về BCH/LĐIIIND ở Dục Mỹ. Trong ngày địch
chỉ pháo kích trên tuyến.
Khoảng 23:00g, địch bắt đầu pháo kích dữ đội tại khu vực giữa tuyến của 2 ĐĐ52
& 54ND sau đó bộ binh địch tấn công vào tuyến của ĐĐ52ND song bị đẩy lui.
Ta vô sự, thiệt hại địch không rõ.
Ngày 26/3/1975: Khoảng 02:00g, Trung úy Vũ ĐĐT/54ND báo cáo trung đội của
anh tại cao điểm (626–047) quan sát thấy một đoàn công–voa [5] xe
khá dài khoảng gần trăm chiếc mở đèn chạy khơi khơi trên Tỉnh Lộ 98, đoạn đường
nằm tại phía Đông Nam dãy núi Chư Su, và tiến về phía Khánh Dương. Tin tức được
chuyển về BCH/LĐ và không có phản ứng! Chẳng cần suy nghĩ nhiều tôi cũng biết
QĐII của Tướng Phú cũng đang kẹt cứng với mặt trận Phú Yên. Tôi thầm nghĩ chắc
Tướng VC Vũ Lăng điều động thêm 1 SĐ nào đó từ khu vực Phú Yên, Tuy Hòa về
Khánh Dương để nhất định chọc thủng tuyến M’Drak rồi theo QL21 tiến về chiếm
Nha Trang và dù không đánh, các tỉnh duyên hải phía Bắc Nha Trang cũng phải di
tản.
Suốt buổi sáng không có thêm một hoạt động nào của địch ở phía trước tuyến kể cả
pháo kích.
Khoảng 12:00g, một trung đội của ĐĐ Đa Năng trong khi di chuyển tuần tiễu dọc
khu vực phía Tây của rặng núi Chư Binh phát giác một số dấu chân và vài đường
dây điện thoại của địch tại khu vực tọa độ 661–035. Dấu di chuyển và đường dây
điện thoại còn mới và hướng về phía Nam. Sau khi cho lệnh trung đội Đa Năng cắt
các dây điện thoại này và tiếp tục theo các dấu vết của toán địch xâm nhập này,
tôi báo sự việc này cho BCH/LĐ và đề nghị gửi 1 trung đội của ĐĐ3TSND của Đại
úy Nguyễn Viết Hoạch thám sát khu vực phía Nam dãy núi Chư Binh (665–023) và
khu vực dãy núi Chư Nang (655–988). Tôi cũng báo cho Trung tá Phát là địch có
thể đã đưa tiền sát viên pháo binh bí mật xâm nhập vào khu vực giữa TĐ5ND và
TĐ6ND. Trung tá Phát nói là sẽ ra lệnh cho TĐ6ND tung rộng con cái tuần tiểu
khu vực trách nhiệm.
Theo suy nghĩ của tôi thì địch không muốn tổn thất nhiều để chọc thủng tuyến I
do TĐ5ND trấn giữ mà sẽ điều động quân bọc sườn 2 TĐND ở phía sau như vậy vừa bất
ngờ vừa tiết kiệm được thời giờ.
Phía sườn trái TĐ5ND là những rặng núi nối dài với dãy Chư M Ta chạy dài từ
phía Nam quận Khánh Dương tới dãy Chư Pai. Từ đây đổ xuống ngay giữa vị trí
đóng quân của 2 TĐ6 & 2ND. Địch di chuyển trên dãy đường đỉnh ấy luôn ở
cách QL21 khoảng từ 2km đến hơn 3km và ngay di chuyển ban ngày cũng không sợ
máy bay quan sát nhìn thấy vì được cây rừng che dấu. Đó là một trong những đường
tiến sát rất tốt nếu địch muốn tấn công bọc sườn LĐIIIND. Tuy biết thế song với
lực lượng của các TĐND tại hai tuyến phòng ngự I và II thì không đủ quân số để
tung những trung đội vào những cuộc hành quân viễn thám xa.
Tôi đề nghị Trung tá Phát cho ĐĐTS3ND hành quân viễn thám tìm hiểu lộ trình tiến
sát này của địch song không được đáp ứng.
Trên bản đồ và thực tế trận địa cho thấy những toán nhỏ tiền sát viên địch dễ
dàng lẻn vào khu vực cao điểm của dãy núi Chư Nang để từ đây có thể chỉ điểm
cho pháo binh khống chế được ít nhất là Pháo Đội A2/ND đang yểm trợ cho TĐ5ND.
Từ Chư Nang địch dư sức gửi đặc công và tiền sát viên lợi dụng đêm tối để di
chuyển tới đỉnh cao Chư Giok (951m). Tại cao điểm này địch có thể quan sát toàn
bộ QL21 từ Bắc xuống Nam nhất là thấy rõ các vị trí đóng quân của 2 TĐ6ND và
TĐ2ND. Một khi chúng mở màn tấn công theo kiểu “tiền pháo hậu xung” cố hữu thì
2 TĐND này sẽ bị tê liệt ngay từ lúc đầu với các loại pháo binh 130mm và hỏa tiễn
của địch (được các tiền sát viên từ đây dễ dàng điều chỉnh) và bộ binh ém sẵn sẽ
ào ạt xung phong và lực lượng phòng thủ sẽ gặp nhiều bất lợi.
Khoảng 20:00g, Thiếu tá Em báo về BCH/TĐ thấy có nhiều đoàn xe mở đèn từ phía
Tây quận Khánh Dương chạy đến quận này. ĐĐ54ND cũng báo thấy nhiều xe mở đèn chạy
trên đoạn Tỉnh Lộ 98, giống như tình hình quan sát thấy lúc 02:00g sáng.
Ngày
27/3/1975: Từ 07:00g, địch bắt đầu pháo loại 130mm vào khu vực
đỉnh đèo. Một trái 130mm rơi trúng ngay vị trí pháo đội A2/ND tại (635–021) làm
hư 2 khẩu 105mm và gây thương tích cho một số pháo thủ. Pháo đội lúc đó đang tập
Trung tác xạ về phía sân bay Khánh Dương. Pháo Đội A2 được BCH/TĐ2/PBND cho
phép di chuyển về phía sau. Khoảng 17:00g, một chiếc A–37 bị phòng không địch bắn
rớt ngay trên vùng trời trước tuyến I. Phi công nhảy dù ra và kéo được dù rơi
vào phía trước tuyến của ĐĐ53ND nên được cứu thoát và đưa về BCH/TĐ. Vì lúc đó
trời đã tối nên Thiếu úy Đỗ Thiết, thuộc phi đoàn 548 Ó Đen/SĐ6KQ ngủ lại tại
BCH/TĐ. Đêm đó anh ta kể cho tôi nghe tình hình chiến sự sôi động tại mặt trận
Phú Yên. Theo anh kể thì gần như không còn một đơn vị nào của VNCH từ Pleiku,
Kontum triệt thoái về còn đầy đủ quân số. Ta bỏ lại hầu như toàn bộ súng pháo
binh các loại kể cả 175mm cũng như các chiến xa M–41 và M–48. [Theo lời Đỗ
Thiết kể thì Phi công lái chiếc A–37 thứ 2 tên Nguyễn Thành Phương.]
Tôi vừa nghe vừa thở dài chán nản vì không biết khi LĐIIIND chạm nặng cần tăng
viện thì QĐII lúc ấy lấy lực lượng ở đâu để gửi đến Khánh Dương. Thấy suy nghĩ
thêm cũng chỉ nhức đầu tôi lấy tờ báo Con Ong ra đọc và ngủ thiếp đi lúc nào
không biết dù trong đêm địch vẫn pháo quấy rối lai rai cho đến sáng.
Ngày 28/3/1975: Giật mình thức dậy vì một trái 130mm nổ ở ngay dưới chân
đồi gần chỗ BCH/TĐ đóng. Nhìn đồng hồ mới có 5 giờ sáng. Đại úy Trần Thanh
Chương, SQ/HQ&QH của TĐ cho biết trong đêm một số vị trí của TĐ6ND cũng bị
địch pháo song thiệt hại không đáng kể. Vừa uống ngụm cà–phê đầu ngày tôi vừa
suy nghĩ xem địch định chơi trò gì. Sau 2 lần tấn công thăm dò vào phòng tuyến
của ĐĐ53ND rồi sau đó là chỉ pháo kích quấy rối trong khi vẫn có dấu hiệu chuyển
quân đến khu vực Khánh Dương. Đại pháo và phòng không cũng bắt đầu hoạt động từ
3 ngày qua chứng tỏ cấp SĐ của địch đã ở trong vùng. Sự yên tĩnh đáng sợ này của
trận địa làm tôi càng thêm e ngại vì trận mạc nhiều năm tôi biết rằng đó là
giai đoạn chuẩn bị của địch trước khi tung ra một trận đánh lớn quyết định.
Khoảng 08:00g, Trung úy Nguyễn Văn Trung ĐĐT/ĐĐ50ND báo cáo có mấy binh sĩ ĐPQ
gác cây cầu ở phía Nam của khẩu đội súng cối 81mm của TĐ đến báo cáo thấy VC xuất
hiện ở ven rừng phía Tây QL21, cách cây cầu khoảng gần 1km. Một trung đội của
ĐĐ Đa Năng được gửi ngay tới khu vực này song không tìm thấy gì sau gần một giờ
lục soát. Tuy nhiên tin này cũng được thông báo cho LĐ và BCH/TĐ6ND.
Khoảng 15:00g, một chiếc trực thăng từ hướng Dục Mỹ bay đến đáp tại bãi đáp ven
đường ngay dưới chân đồi nơi BCH/TĐ đóng. Một SQ của BCH/LĐ trao một phong bì lớn
cho Thiếu úy Nhữ Văn Liêu, SQ/Ban 2 TĐ, rồi lên trực thăng cất cánh bay ngay.
Trực thăng cất cánh được khoảng 10 phút thì một loạt đạn pháo địch rót xuống
khu vực bãi đáp. Trong phong bì là 1 công điện mang tay gửi cho TĐ5ND.
Nội dung công điện là:
(1) Lệnh cho TĐ5ND gửi trả BCH/LĐ chi đoàn TVX và biệt phái 1 ĐĐ
theo tùng thiết. Chi đoàn TVX và ĐĐ tùng thiết sẽ rời khu vực đỉnh đèo khi
TĐ5ND bắt đầu rút.
(2) TĐ5ND tìm cách đoạn chiến và rút về phía sau tuyến II của
TĐ6ND. Giờ giấc di chuyển tùy thuộc BCH/TĐ.
(3) LĐIIIND dự trù sẽ về lập phòng tuyến mới tại khu vực đèo Rù Rì.
Đọc xong công điện tôi vội gọi máy xin gặp Trung tá Phát để hỏi thêm chi tiết về
lệnh này song BCH/LĐ trả lời là Trung tá Phát đang đi họp với Tướng Phú. Liên lạc
với BCH nhẹ tôi được Trung tá Khôi LĐP cho biết là lệnh này do khẩu lệnh của Tướng
Phú.
Vì là bạn cùng khóa VBĐL, Khôi nói vắn tắt:
– “Lam Sơn 719, hiểu chưa Tố Quyên?”
Nghe xong câu này tôi biết là tình hình khá trầm trọng vì Lam Sơn 719 là tên cuộc
hành quân qua Lào năm 1971 trong đó các đơn vị VNCH phải rút vội sau những tổn
thất khá nặng để tránh bị vây hãm.
Khoảng 16:00g, tôi gọi máy mời Thiếu tá Em, TĐP, hiện trực tiếp chỉ huy 2 ĐĐ52
& 54ND cùng 2 ĐĐT 51 và 53ND về họp. Tôi cho họ biết qua tình hình cùng lệnh
mới của LĐ. Trung úy Hương, người miền Nam, có vẻ bực tức và không nén được chửi
thề nói:
– “ĐM! Việc đéo gì mà phải rút. Làm sao tụi nó qua được tuyến của mấy đứa con
tôi.”
Tôi phì cười và chưa nói gì thì qua chiếc loa của máy liên lạc không lục các SQ
đang ngồi họp nghe viên Thiếu úy trên chiếc phi cơ quan sát đang liên lạc và
thông báo cho hai viên phi công của 1 phi tuần A–37 là họ đã “rang” [6] được
3 con cua T–54 ở phía Nam khu vực quận Khánh Dương.
Khi nghe các phi công A–37 chào từ giã viên SQ trên chiếc phi cơ quan sát để rời
vùng, tôi vội bốc máy truyền tin liên lạc không–lục yêu cầu họ gọi cho đơn vị họ
để gửi gấp vài phi tuần nữa lên vùng đánh tiếp. Phi công của chiếc quan sát cho
biết là đã xin thêm mấy phi tuần nữa rồi. Quay sang các ĐĐT, tôi hỏi họ về tinh
thần anh em binh sĩ trong hơn tuần qua ra sao. Từng ĐĐ trưởng cho biết tinh thần
của binh sĩ trong ĐĐ họ rất cao nhất là ĐĐ53ND. Thiếu tá Em cũng cho biết tinh
thần của 2 ĐĐ52 và 54ND rất tốt.
Nhìn đồng hồ thấy đã hơn 15 phút rồi mà tôi vẫn không thấy tăm dạng phi tuần
nào nên tôi lại gọi máy hỏi viên Thiếu úy trên chiếc phi cơ quan sát tại sao
lâu vậy mà chưa thấy phi tuần nào lên vùng. Câu trả lời của anh ta làm tôi
chưng hửng:
– “Đại bàng phải đợi vì tụi nó phải từ Phan Rang lên đây.”
– “Thế A–37 không đáp ở Nha Trang được à?”
Tôi hỏi tiếp. Anh ta cười và cho biết:
– “Nha Trang không phải là phi trường quân sự, hơn nữa tình hình phi trường Nha
Trang lộn xộn từ sáng nay rồi. Lát nữa tôi cũng về Phan Rang đáp.”
Anh ta còn cho biết thêm là hình như dân chúng Nha Trang cũng đang rục rịch di
tản. Tin đâu nghe thật rụng rời! Tôi liếc mắt nhìn các SQ đang ngồi họp, nhất
là Trung úy Hương. Họ đều yên lặng và có lẽ hiểu lý do tại sao lại có lệnh như
vậy.
Tôi cho lệnh Trung úy Sanh, ĐĐT 51ND, về chuyển lệnh lại cho Chi Đoàn Trưởng
2/19 Thiết Kỵ và dự trù vào lúc sẩm tối thì lặng lẽ cho từng chiếc TVX di chuyển
cách nhau ít phút để tránh gây nhiều tiếng động cùng một lúc khiến địch biết TĐ
rút khỏi tuyến I. Khi đứa con chót của ĐĐ53ND rút khỏi vị trí BCH/TĐ thì Trung
úy Sanh tùng thiết và dẫn chi đoàn TVX về trình diện BCH/LĐ và nhận lệnh trực
tiếp của LĐ. Thiếu tá Em sẽ về BCH/ĐĐ54ND để chuyển lệnh cho 2 ĐĐT 52 và 54ND.
Các ĐĐND áp dụng “trì hoãn chiến” khi rời vị trí. Gài thêm mìn tự động trước
tuyến của đơn vị trước khi rút quân. Thứ tự rút từ ĐĐ52ND ở xa nhất kế đến
ĐĐ54ND, đều rút về ngang qua vi trí dưới chân đồi nơi BCH/TĐ đóng. ĐĐ53ND rút sau
chót. TĐ sẽ di chuyển đội hình HQ đêm trên 2 trục dọc theo các triền cao của
các rặng đồi dọc phía tây QL21 và di chuyển cách con đường khoảng hơn 1km. Thứ
tự di chuyển dẫn đầu TĐ là ĐĐ52ND, kế đến BCH/TĐ cùng ĐĐ50ND. Theo sau ĐĐ50ND
là ĐĐ53ND. ĐĐ Đa Năng đoạn hậu. ĐĐ54ND di chuyển bên trái trục chính của TĐ và
song song với ĐĐ52ND.
Đúng 22:00g, sau khi tiểu đội chót của 2 ĐĐ52ND và 54ND rút về tới dưới chân đồi
đã ấn định đồng thời trung đội đầu của ĐĐ53ND cũng vừa tới BCH/TĐ thì tôi cho lệnh
2 ĐĐ52ND và ĐĐ54ND xuất phát.
Trong bóng đêm các đơn vị ND lặng lẽ tiến quân.
Khoảng 40 phút sau, Trung úy Sanh báo bắt đầu dẫn chi đoàn TVX rời khỏi đỉnh
đèo. Tôi báo cho BCH/LĐ và TĐ6ND biết là TĐ5ND bắt đầu kế hoạch ZULU (Di chuyển).
Khoảng 30 phút sau, những tiếng mìn tự động tại trước tuyến cũ của ĐĐ53ND nổ
ran. Tôi biết rằng địch đã biết là TĐ đã rút khỏi tuyến I. Tôi chưa kịp báo cáo
về LĐ về diễn biến mới này thì nhiều tiếng súng khác lại nổ như pháo Tết từ
phía QL21 trong đó có cả tiếng nổ của đạn súng cối 82mm của VC cũng như tiếng đại
liên 12.7mm của M–113. Tiếng Trung úy Sanh qua máy báo cáo gặp hỏa lực địch bắn
từ phía phải (phía Tây) của con đường và chi đoàn có mấy M–113 bị bắn cháy. Tôi
cho lệnh Trung úy Sanh không ham chiến, cứ bắn mở đường mà rút cho nhanh về LĐ.
Tuy nhiên phải dặn con cái thằng TVX cẩn thận kẻo lại bắn nhầm thằng TĐ6ND ở
tuyến II.
Lúc đó là 23:30g đêm, tiếng súng vẫn rền vang trong khoảng 20 phút rồi im lặng.
Tôi cho lệnh ĐĐ54ND phải mở rộng đội hình và dặn Trung úy Vũ cho lệnh toán
khinh binh đi đầu phải cẩn thận vì địch đã bắn cháy 3 M–113 ở trên QL21 khoảng
(633–990) trên đường rút quân của ĐĐ51ND. Địch đã sử dụng cối 82mm thì ắt phải
từ cấp TĐ trở lên.
Ngày 29/3/1975: Khoảng 01:30g, qua 1 máy truyền tin vào sẵn tần số nội bộ
của ĐĐ54ND tôi nghe giọng Thiếu úy Hoàng Đình Côi, Trung đội trưởng trung đội
đi đầu của ĐĐ54ND vừa tiến lên một mỏm đồi khá cao ở bên phải hướng di chuyển,
báo cho Trung úy Vũ, ĐĐT/ĐĐ54ND, là anh thấy có 2 chiếc M–113 đang cháy trên
QL21 khoảng 800m về phía Đông của hướng di chuyển. Tôi biết ngay là mình đang ở
ngang khu vực của địa điểm mà Trung úy Sanh, ĐĐT/ĐĐ51ND, báo chạm địch lúc
23:30g.
Chưa kịp cho lệnh ĐĐ54ND ép nhiều về phải thì có tiếng lựu đạn nổ và trái sáng
của địch bật cháy ở phía trái của hướng tiến và súng địch đã nổ ran. Trung Đội
3 đi cánh trái của ĐĐ54ND báo cáo chạm địch và Chuẩn úy Ngưỡng, Trung đội trưởng
trung đội này, đã bị thương ở cổ. Đại liên 12.8mm của địch từ mấy ngọn đồi cao
phía trước mặt bắn loạn về phía ĐĐ54ND. Tôi vào thẳng tần số nội bộ của ĐĐ54ND
cho lệnh Thiếu úy Côi bám vị trí và tác xạ yểm trợ cho ĐĐ54ND rút về phía trục
của TĐ.
Tôi cho lệnh ĐĐ52ND tiến lên chiếm ngay dãy cao điểm ở bên phải hướng di chuyển
của TĐ. Súng các loại của địch vẫn nổ ran và lác đác mấy trái cối 82mm của địch
rót về phía BCH/TĐ. Trong đêm tối không rõ lực lượng và bố trí của địch, nên
tôi cho lệnh các ĐĐ còn lại nhanh chóng dạt theo ĐĐ52ND lên trên dãy đồi cao
phía bên phải để bố trí. Địch tiếp tục giật các thủ pháo chiếu sáng để soi sáng
trận địa. Đại bác 130mm của địch từ phía Khánh Dương bắt đầu rót tới khu vực.
Tôi báo cáo chạm địch tại (627–996) lên BCH/LĐ và xin pháo binh soi sáng và tác
xạ yểm trợ đồng thời cho lệnh Trung úy Vũ đoạn chiến và rút lên dãy đồi phía phải
song không thấy trả lời.
Khi gọi cho Thiếu úy Côi tôi được anh cho biết địch rất đông từ dưới chân đồi
đang tìm cách tiến lên vị trí của anh và một số binh sĩ của đại đội anh đang vừa
đánh vừa tìm cách dạt về phía anh. Còn Trung úy Vũ và hạ sĩ mang máy truyền tin
ĐĐ thì đã tử thương ngay phút đầu. Bàng hoàng về tin này, tôi cho lệnh Côi yểm
trợ cho các đứa con còn lại của ĐĐ54ND rút về chỗ anh rồi ĐĐ52ND sẽ yểm trợ cho
anh mang con cái rút về với BCH/TĐ(624–998).
Khoảng 04:30g thì lực lượng còn lại của ĐĐ54ND này rút về tới ĐĐ52ND. Địch ở
phía dưới chân đồi tiếp tục hò hét “Hàng sống chống chết” song chỉ bắn theo mà
không thấy bóng dáng tên nào mò lên.
Tôi báo về LĐ tình hình và cho biết chờ sáng hẳn sẽ điều động đơn vị xuống để lấy
thương binh và các quân nhân tử thương song Trung tá Phát cho lệnh TĐ tìm đường
rút về ngay sau tuyến II. Tôi chua xót thi hành lệnh này vì đây là lần đầu tiên
trong cuộc đời binh nghiệp phải bỏ lại chiến địa các anh em đã bao lần vào sinh
ra tử với mình. Kiểm điểm lại quân số thì ngoài ĐĐT/ĐĐ54ND bị tử thương còn bị
thất lạc hơn một trung đội.
Các SQ bị thất lạc gồm cả Đại úy Huỳnh Quang Chiêu, SQ phụ tá ban 3 được chỉ định
cố vấn cho ĐĐ54ND. (Đại úy Chiêu vừa bàn giao ĐĐ cho Trung úy Vũ), Bác sĩ Nguyễn
Thanh Liêm, y sĩ trưởng TĐ trong lúc pháo địch rơi giữa trục di chuyển có lẽ vì
cận thị nên không bám kịp TĐ. Thiếu úy Côi ở lại yểm trợ cho ĐĐ54ND rút chắc
cũng không bám kịp TĐ. Các ĐĐ khác chỉ có một số binh sĩ bị thương nhẹ và vừa
phải song các thương binh này vẫn được đơn vị dìu đi theo TĐ. TĐ bắt đầu di
chuyển về hướng Tây khoảng 1km rồi chuyển hướng về Nam lên cao độ 688m
(610–993) rồi theo đường đỉnh tiến về hướng Tây Nam. ĐĐ52ND dẫn đầu và ĐĐ Đa
Năng đoạn hậu. Đại đội này trong khi di chuyển theo TĐ vẫn cho trung đội đoạn hậu
gài lựu đạn và mìn tự động trên đường rút quân để ngừa địch đuổi theo.
Khoảng 06:00g thì TĐ5ND đã di chuyển tới cao điểm 700m (604–991) của dãy Chư
Tô. TĐ tiếp tục theo đường đỉnh di chuyển được khoảng 1km thì Trung úy Hiệp
ĐĐT/52ND cho biết đứa con đi đầu của anh bắt gặp con đường chuyển quân của địch
còn mới.
Trung úy Hiệp cho biết con đường khá rộng chạy theo hướng Tây Bắc–Đông Nam, chiều
ngang con đường rộng cỡ 2m và mặt đường nhẵn thín vì ít nhất là một đại đơn vị
địch đã di chuyển qua. Tôi cho lệnh Trung úy Hiệp bố trí khoanh tròn tại hột lạc [7] (593–986).
Khi toàn bộ TĐ kéo lên tọa độ này và bố trí tạm để nghỉ, tôi cho Thiếu úy Tô
Thành dẫn 2 trung đội của anh đi ngược hướng con đường địch đi này chừng 800m để
quan sát. ĐĐ52ND cũng cho trung đội đi đầu theo dấu địch tiến về trước để thám
sát.
Từ cao độ này nhìn xuống QL21 tôi thấy gần như toàn bộ địa hình địa vật của khu
vực đèo M’Drak. Quan sát tuyến đường địch di chuyển tôi thấy ít nhất cũng cỡ
đơn vị cấp trung đoàn vì đường vừa lớn và nhẵn thín, những đoạn có độ dốc cao
phải bám vào cây để leo lên hay khi từ cao đổ xuống đều được công binh sửa vách
núi tạo thành các bậc thang để các đơn vị súng lớn của địch di chuyển dễ dàng
nhanh chóng. Hai bên đường đây đó vất rải rác các bao bánh in (lương khô của
Trung cộng). Thời gian địch sử dụng ít nhất cũng cả tuần lễ trước. Thiếu úy Tô
Thành gọi máy về cho biết con đường chạy thẳng lên đỉnh núi Chư Tô (589–992) và
tại đây địch để lại nhiều dấu vết dừng quân của một đại đơn vị.
Tôi cho lệnh Thiếu úy Thành dẫn trung đội quay về rồi tôi báo tin tức này cho
BCH/LĐ để phổ biến cho 2 TĐ6ND và TĐ2ND. Tôi cũng cho Trung tá Khôi biết có thể
địch đã bọc hông và ém quân đâu đó ở khu vực tuyến II do TĐ6ND phụ trách. Khoảng
07:30g TĐ5ND bắt đầu di chuyển. Tôi cho lệnh Trung úy Hiệp ĐĐT/52ND sử đụng
ngay con đường địch đã mở để di chuyển cho nhanh song toán khinh binh tiền sát
phải cẩn thận tối đa. Con đường tiếp tục theo hướng Đông Nam chạy ngoằn ngoèo
theo các đường đỉnh.
Nhờ vậy TĐ di chuyển rất nhanh. 08:30g TĐ tạm nghỉ quân 15 phút tại cao điểm
840m (605–970), kế đó leo lên đỉnh cao (605–959). Sau đó lại tiếp tục di chuyển.
Khoảng 20 phút Trung úy Hiệp báo là con đường khi băng ngang con suối Ea Ebra
thì tách làm đôi, một ngả chạy xiên về Đông còn ngả kia tiếp tục hướng Nam. Hiệp
hỏi lệnh tôi muốn anh theo con đường nào.
Tôi cho lệnh bố trí tạm và chờ tôi lên xem. Sau khi quan sát tôi thấy ngả về hướng
Đông có vẻ như sẽ dẫn ra hướng QL21. Tôi quyết định cho TĐ di chuyển theo ngả
hướng Nam. Tôi cho lệnh Thiếu úy Thành, ĐĐ Đa Năng, cho một đứa con thám sát
con đường hướng Đông Nam khoảng 800m, rồi quay về bám theo TĐ.
Khoảng 09:00g, trong khi TĐ đang di chuyển thì có vài loạt súng nổ ở phía sau.
Chưa kịp liên lạc máy thì Tô Thành báo là đứa con của anh vừa tiêu diệt được 1
tổ anh nuôi của VC, lấy được mấy khẩu súng và một bao gạo. Tôi cho lệnh đưa con
cái quay về bám theo TĐ. Lại thêm vài loạt súng nổ nữa và lần này Tô Thành báo
là có một toán nhỏ VC đóng ở trên trái đồi nhỏ phía Đông con đường đang tác xạ
về phía anh. Anh đề nghị tôi cho một đứa con của anh nằm lại bắn chặn, còn ĐĐ
(–) sẽ bám theo TĐ. Tôi đồng ý và dặn Thành cho lệnh con cái không được ham chiến
đấu vì TĐ cần phải về sau tuyến II theo lệnh LĐ. TĐ tiếp tục di chuyển và dừng
quân tạm nghỉ lần thứ hai tại cao độ 760m (613–944).
Đang nghiên cứu tấm bản đồ hành quân để ước lượng thời gian TĐ có thể di chuyển
về đến khu vực tuyến II nếu không chạm địch trên đường đi thì Đại úy Chương cho
biết Thượng sĩ nhất Đạm phụ trách Tiền trạm/TĐ muốn gặp tôi để xin lệnh. Qua hệ
thống âm thoại, Thượng sĩ Đạm cho biết Tiền trạm của các TĐ được lệnh của Tiền
trạm LĐ rời bỏ TTHL/BĐQ Dục Mỹ và di chuyển theo Tiền trạm LĐ về Nha Trang. Tuy
chưa rõ lý do gì song tôi nghĩ chắc LĐ dự trù lui về bố trí tại tuyến đèo Rù
Rì. Tôi bảo Thượng sĩ nhất Đạm cứ theo lệnh của LĐ.
Sau đó TĐ tiếp tục di chuyển. Đầu óc tôi rối tung với những tin tức của các đài
BBC và VOA, toàn là những tin bất lợi cho VNCH nhất là những bài bình luận về
cuộc triệt thoái của các đơn vị thống thuộc QĐII từ Pleiku và Kontum về Tuy Hòa
cũng như tin tức quân sự tại các nơi khác.
Khoảng 10:00g, súng bắt đầu nổ ran ở khu vực tuyến II của TĐ6ND. Từ trên cao điểm
(613–944) tôi thấy rõ pháo 130mm và hỏa tiễn các loại của địch từ phía quận
Khánh Dương rớt trên một số vị trí của TĐ6ND.
Liên lạc với Trung tá Khôi, LĐP/LĐIIIND tôi cho anh Khôi biết những gì tôi quan
sát thấy. Ít phút sau mấy pháo đội của TĐ3/PBND bắt đầu phản pháo lại.
Khoảng 10:30g một số phi tuần khu trục vào vùng và bắt đầu oanh tạc yểm trợ cho
TĐ6ND. Trận đánh kéo dài khoảng gần một giờ đồng hồ.
Khoảng 11:15g, qua hệ thống âm thoại tôi nghe TĐT/TĐ6ND báo lên BCH/LĐIIIND là
địch đã rút và để lại một số xác chết. TĐ6ND lấy được một số vũ khí và bắt sống
4 tù binh. Khai thác sơ khởi cho biết chúng thuộc Trung đoàn 25 của SĐ 320 do 1
Trung tá tên Tâm chỉ huy.
Mấy phi tuần sau tôi thấy họ tiếp tục oanh kích trên phía quận Khánh Dương. Tôi
cho Trung tá Khôi biết là tôi dự trù sẽ theo đường đỉnh của các dãy núi phía
Tây QL21 để đổ xuống phía sau tuyến II. Hy vọng là nếu không chạm địch thì sẽ
hoàn tất vào rạng sáng ngày 31/3/1975.
Đến 18:00g, TĐ di chuyển đến đỉnh 845m (618–935). Con đường vẫn tiếp tục đổ về
hướng Nam–Đông Nam tức là hướng về dãy núi Chư Pai 957m (632–908). Thấy anh em
binh sĩ đã thấm mệt và mặt trời cũng đã từ từ xuống dần tôi cho lệnh đóng quân
đêm tại đây.
Tôi dự trù chậm lắm là trưa ngày mai có thể tới tuyến II của LĐ do TĐ6ND trách
nhiệm. Tôi bảo Đại úy Trần Thanh Chương, SQ Ban 3 TĐ sử dụng hệ thống âm thoại
mã hóa để báo cáo kế hoạch dự trù của TĐ lên BCH/LĐ vì máy phát điện quay tay
GN–58 của trung đội truyền tin bị hư hại trong trận đụng độ hồi đêm nên không
thể gửi công điện hành quân được. Tình hình trong đêm tương đối yên tĩnh ngoại
trừ pháo địch rải rác rơi trên khu vực tuyến II.
Ngày 30/3/1975: Khoảng 06:30g pháo lớn và hỏa tiễn các loại của địch rơi trên
toàn bộ tuyến đóng quân của TĐ6ND cũng như của TĐ2ND và sau đó là bộ binh địch
tấn công. Từ đỉnh đồi 845m tôi thấy rõ những chiến xa T–54 từ đầu đèo M’Drak mở
đèn chạy theo Quốc Lộ 21 xuống.
Địch Tấn Công TĐ6ND Tại Tuyến II
Qua hệ thống âm thoại Lữ Đoàn (LĐ) tôi nghe rõ giọng Trung tá Nguyễn Hữu Thành,
TĐT/TĐ6ND báo cáo tình hình địch & ta lên BCH/LĐ. Tại phía trước tuyến của
TĐ6ND, lửa trên các đồi cỏ tranh đang cháy và theo gió lan rất nhanh về phía vị
trí phòng thủ của TĐ6ND. Tôi chợt nghĩ:
– “Bỏ mẹ! Tụi nó lại chơi thêm hỏa công.”
Khoảng 07:20g, 2 phi tuần A–37 xuất hiện và nhào xuống oanh kích mấy chiếc
T–54. Súng phòng không của địch từ phía Bắc và Đông Bắc Quốc Lộ 21 bắn lên như
mưa.
Đến khoảng 09:30g thì tiếng súng ở dưới núi tạm êm, chỉ còn những loạt súng lẻ
tẻ đây đó. Tôi cũng không còn nghe ai nói gì trên hệ thống âm thoại giữa LĐ và
các TĐ. Tôi rán gọi BCH/LĐ để tìm hiểu tình hình ra sao mà không được. Tôi nghĩ
chắc tuyến II đã mất và TĐ2ND chắc cũng đã đoạn chiến và rời vùng cùng với BCH
nhẹ của LĐ. Hiện giờ chắc địch đã làm chủ Quốc Lộ 21 và với đà này thì Dục Mỹ
cũng nhanh chóng rơi vào tay chúng nếu không còn đơn vị nào của Quân Đoàn II gửi
lên.
Thực tình lúc đó tôi không biết những đơn vị triệt thoái từ Pleiku và Kontum về
Tuy Hòa đã bị tổn thất nặng và QĐII giờ đây gần như không còn quân. Khoảng gần
10:00g, tôi mời các ĐĐT của TĐ5ND họp để thông báo tình hình và cùng nhau bàn bạc
kế hoạch tốt nhất cho đơn vị. Sau khi cho biết tình hình chung, tôi cho họ biết
quyết định của tôi là TĐ5ND sẽ di chuyển về hướng Tây và tìm đường về Phan
Rang. Sở dĩ tôi nghĩ đến Phan Rang vì đây là quê quán của Tổng thống VNCH Nguyễn
Văn Thiệu. Không lẽ ông ta cũng bỏ mặc sinh quán của ông cho rơi vào tay Việt Cộng.
Sư Đoàn F10 & Trung đoàn 25/320 tấn công Tuyến II & III
Để tiết kiệm điện trì dùng cho máy truyền tin, tôi cho lệnh chỉ 2 trung đội đi
đầu và đoạn hậu TĐ là mở máy truyền tin thường trực, còn các trung đội khác tắt
máy và chỉ mở khi đơn vị chạm địch. Đại úy Chương, SQHQ/TĐ cho biết TĐ chỉ còn
một ngày lương chót. Bình thường thì ngày hôm qua 29/3/1975 là ngày TĐ nhận tiếp
tế lương thực, đạn dược. Trung úy Hương, ĐĐT/53ND, đưa ý kiến là khi cần thiết
có thể trên đường đi tạt vào một buôn làng người Ê–Đê để mượn lương. Tôi cho họ
biết là biện pháp này đối đế [8] (phương sách cuối cùng, không
còn cách nào khác) lắm mới dùng tới và ít ra là khi TĐ đã cách xa khỏi khu vực
này trên 20km.
Khoảng 11:00g, TĐ bắt đầu di chuyển. Thứ tự di chuyển như cũ. Tôi quyết định dẫn
TĐ theo hướng Nam để tìm đường về hướng quận Diên Khánh. Vì mở đường mà đi nên
tốc độ di chuyển hơi chậm.
Khoảng 13:00g, TĐ dừng quân tạm nghỉ tại một mỏm đồi nhỏ dọc một con suối cạn tại
tọa độ (618–928). Ở đây rất nhiều cây chuối rừng. Một số anh em cạn lương thực
rủ nhau chặt lấy thân chuối để nấu ăn. Sau đó TĐ tiếp tục di chuyển.
Đến 16:00g, TĐ tới đỉnh 760m (619–919). Đêm đó đóng quân tại (622–915), một chỏm
phía Tây Bắc của rặng núi Chư Pai. Từ cao điểm này có thể nhìn thấy nhiều đoạn
đường của Quốc Lộ 21. Suốt đêm ánh đèn xe địch loang loáng, vận chuyển từ đầu
đèo M’Drak xuống Dục Mỹ.
Khoảng 23:30g, cố dỗ giấc ngủ mà không thể nào chợp mắt được, tôi đi lại võng của
Thiếu tá Võ Trọng Em, TĐP, tính đánh thức ông ta dậy để nói chuyện. Nào ngờ
nghe tiếng chân tôi, Thiếu tá Em nhỏm dậy và nói:
–Tôi cũng không thể nào ngủ được. Thế Trung tá định băng núi cho đến lúc nào?
Tôi cười, nói:
–Thêm một ngày nữa là có thể xuống vùng dưới được rồi. Ở đây gần quá, nếu chúng
phát giác ra mình và truy kích thì cũng hơi mệt, nhất là trong tình trạng hiện
nay.
Chuyện trò một lúc tôi quay trở về võng của mình và tiếp tục cố dỗ giấc ngủ.
Sau đó, tôi thiếp đi cho đến sáng.
Ngày 31/3/1975: Khoảng 05:30g, tôi thức dậy giữa tiếng lao xao của anh
em binh sĩ quanh mình. Trời hãy còn lờ mờ tối, tôi cho lệnh các ĐĐ sẵn sàng di
chuyển sau 07:00g sáng. Hôm nay ĐĐ53ND sẽ đi đầu, còn ĐĐ52ND đoạn hậu. Nhìn nét
mặt của các SQ tôi thấy ai cũng có vẻ ưu tư; có lẽ qua mấy chiếc radio xách tay
nhỏ, họ cũng theo dõi tin tức qua các đài phát thanh ngoại quốc. Trái lại tôi
không thấy vẻ gì khác lạ trên mặt các anh em binh sĩ. Họ vẫn đùa dỡn với nhau
trong khi dừng quân tạm nghỉ. Đặc điểm đáng yêu đó tôi đã gặp nơi họ trong suốt
13 năm tôi phục vụ trong Binh Chủng ND. Đối với họ, những hiểm nguy đang chờ
đón họ mỗi giây, mỗi phút trên đường hành quân chỉ là những thử thách lẻ tẻ,
không quan trọng, mà điểm chính yếu là hoàn tất nhiệm vụ một cách nhanh chóng
và mang về chiến thắng cho mầu cờ sắc áo họ đang mang.
TĐ bắt đầu đổ dốc theo hướng Tây. Khoảng 10:30g, TĐ dừng quân tại một chỏm đồi
nhỏ (618–913). Tại cao độ này tôi vẫn có thể nhìn thấy lờ mờ khu vực đèo Phượng
Hoàng. Trên Quốc Lộ 21 chạy về hướng Dục Mỹ vẫn thấy rải rác các xe chạy. Ở xa
không thấy rõ là loại xe gì của VC, song chắc chắn không phải là xe dân sự.
Khoảng 11:30g, TĐ tiếp tục di chuyển. Khoảng 16:00g toàn bộ TĐ dừng quân tại
(610–907). Thấy anh em trong TĐ có vẻ thấm mệt, tôi cho lệnh đóng quân đêm. Lại
một đêm thao thức cố dỗ giấc ngủ.
Ngày 1/4/75: Tôi mời các ĐĐT họp lúc 07:00g. Sau khi nói rõ ý định hành
quân là TĐ sẽ di chuyển xuống chân núi rồi nghỉ quân cho đến xẩm tối sẽ băng
ngang qua một cánh đồng cỏ tranh có các bụi cây nhỏ để tới dãy núi nằm ở phía
Nam con suối Ea Ran, rồi từ đó tìm đường về quận Diên Khánh. Vì đổ dốc xuống
núi với đoạn đường dài khoảng 2km trên bản đồ nên tôi cho lệnh TĐ lo nghỉ ngơi
và chuẩn bị cơm nước. Lệnh cấm khói lửa được thi hành ngay khi TĐ xuống tới
chân núi ém quân.
Khoảng 10:00g, TĐ bắt đầu xuống núi. Vừa đi vừa lai rai nghỉ nên khoảng 13:00g,
TĐ đã xuống được nửa đường. Qua các vòm cây đã thấy cánh đồng tranh mênh mông ẩn
hiện phía xa. Thấy còn quá sớm tôi cho lệnh tạm dừng quân. Trong khi ngồi nghỉ,
tôi bảo nhân viên truyền tin thử rà các tần số nội bộ của hai TĐ2ND và TĐ6ND
xem có nghe được gì không. Khoảng hơn 10 phút vẫn không nghe gì trên các tần số
này. Trên hệ thống không–lục cũng vậy, hoàn toàn im lặng vô tuyến. Bỗng nhiên
trên hệ thống LĐ văng vẳng có tiếng gọi danh hiệu TĐ. Đại úy Chương mừng rỡ giật
ống liên hợp từ tay anh hiệu thính viên mang máy LĐ, vừa nghe vừa nói như hét
lên.
Sau đó Chương đưa ống liên hợp cho tôi và bảo TĐ6ND gọi.
Qua liên lạc, giọng của Thiếu tá Trần Tấn Hòa, TĐP/TĐ6ND, cho biết hiện anh và
2 ĐĐ của TĐ6ND đang nằm trên một chỏm núi của rặng núi Chư Ra ở phía Đông Bắc
Quốc Lộ 21, cách tuyến II cũ khoảng 5km đường chim bay.
Theo Thiếu tá Hòa thì sau khi TĐ6ND bị tràn ngập và TĐT bị giết hoặc bị bắt thì
nhờ nằm với 1 ĐĐ ở trên rặng núi Chư Giok phía Đông Quốc Lộ 21 nên anh theo lệnh
cuối cùng của Trung tá Thành mà dẫn tàn quân kéo lên các triền cao của dãy Chư
Ra. Tôi hỏi anh có còn liên lạc được với LĐ hay TĐ2ND không thì anh cho biết là
hoàn toàn mất liên lạc kể từ hôm 30/3/75. Hòa tỏ ra rất mừng khi liên lạc được
với tôi.
Tôi cho Hòa tần số nội bộ của TĐ5ND và bảo Hòa liên lạc với tôi qua tần số này.
Tôi cũng bảo Hòa đổi tần số nội bộ của TĐ6ND vì tôi e rằng VC đã có tần số này
sau khi tràn ngập vị trí của BCH/TĐ6ND. Hòa nói đã thay đổi tần số nội bộ rồi
và cho tôi biết tần số mới đang dùng. Tôi hỏi điểm đứng của Hòa thì được Hòa
cho biết anh và con cái đang ở tại (713–960). Tôi cho Hòa biết vị trí hiện tại
của tôi và bảo Hòa rán tìm lộ trình để lợi dụng đêm tối băng qua Quốc Lộ 21 để
đến với tôi rồi 2 đơn vị sẽ tìm đường về Phan Rang. Tôi quyết định dừng quân tại
vị trí hiện tại để chờ TĐ6ND (–) của Hòa. Tôi cho lệnh đóng quân và nghiên cứu
bản đồ để tìm lộ trình về Diên Khánh.
Khoảng 16:00g thì anh hiệu thính viên mang máy TĐ giật giọng gọi tôi:
– Đích thân, có ai gọi Tố Quyên.
Cầm ống liên hợp nghe, tôi cũng mừng vì chỉ có các cấp chỉ huy từ TĐT trở lên mới
hay gọi tôi bằng danh hiệu này. Từ đầu máy xen lẫn tiếng cánh quạt trực thăng lạch
xạch tôi nghe mơ hồ tiếng gọi Tố Quyên rất nhỏ. Mở hết âm lượng của máy tôi trả
lời là:
– “Tố Quyên tôi nghe.”
Đầu máy bên kia tôi nghe rõ tiếng hét lớn:
– “Có phải Tố Quyên đó không? Khôi Nguyên đây.”
Trong niềm vui tột cùng vì đã bắt liên lạc được với LĐ, (Khôi Nguyên là biệt
danh của Trung tá Khôi, LĐP/LĐIIIND. Khôi cũng là bạn đồng khóa và là bạn thân
của tôi từ khi chúng tôi còn là học sinh CVA từ năm 1955.) tôi trả lời:
– Tao đây, Khôi Nguyên. Có lệnh gì cho tao không?
Thay vì trả lời tôi, Khôi tiếp tục cật vấn:
– Có đúng mày là Tố Quyên không? Nếu đúng thì mày có biết tao là ai không?
Tôi chợt hiểu có lẽ Khôi nghĩ là TĐ5ND cũng chung số phận như TĐ6ND và hiện tại
VC đã sử dụng tần số hệ thống âm thoại của TĐ5ND để kiểm thính các liên lạc
truyền tin của ta. Nghĩ thế nên tôi trả lời:
– “Tao là Q. bạn thân của mày đây.”
Khôi tiếp tục cật vấn:
– Vậy mày có biết tao và mày có mấy thằng bạn thân không? Mày kể tên chúng nó
cho tao nghe coi. À mà ở nhà gia đình tao thường gọi tao bằng tên gì?
Tôi phì cười về sự cẩn trọng này và trả lời:
– Mày là thằng Thịnh, còn mấy thằng Khiêm, Lộc, Ninh, Phương là bạn thân của
tao với mày.
Từ đầu máy bên kia tiếng Khôi vui vẻ đáp:
– Mừng cho mày và anh em TĐ5ND, Sư Đoàn đang nóng lòng vì bặt tin của mày. Vợ
con mày ngày nào cũng lên BTL/SĐ trông ngóng tin tức của mày. Tao sẽ báo ngay
cho Lê Lợi (biệt danh trong ND của Tướng Lê Quang Lưỡng TL/SĐND) biết tin này để
ông Tướng và vợ con mày yên tâm. Còn bây giờ mày đang ở đâu?
Tôi bảo Khôi chuyển qua tần số “CÙI+13”, (Đó là tần số riêng chỉ Khôi và tôi hiểu
mỗi khi cần nói chuyện riêng với nhau) để bảo đảm không ai theo dõi kiểm thính
được. Sau khi Khôi chuyển sang tần số riêng mới này, tôi cho tọa độ một điểm
chuẩn (bằng cách dùng tên của các TĐT/ND và đơn vị họ chỉ huy để đọc các con số,
dĩ nhiên là không có số 4 vì không có TĐ4ND) rồi từ điểm chuẩn này chuyển sang
phải hay trái và lên hay xuống bao nhiêu đơn vị để cho điểm đứng của mình. Đó
là cách thông dụng khi hành quân. Sau khi biết vị trí của tôi, Khôi nói tôi chờ
để liên lạc với BCH/LĐIIIND.
Khoảng 5 phút sau, Khôi hỏi tiếp về tình trạng quân số của tôi cũng như hỏi tôi
có liên lạc được với đứa con nào của hai TĐ2ND và TĐ6ND không? Tôi cho biết ngoại
trừ một đơn vị của TĐ6ND ra tôi không còn liên lạc được với đơn vị ND nào hết.
Tôi cũng cho Khôi vị trí hiện tại của Trần Tấn Hòa, TĐP/TĐ6ND, và hiện giờ tôi
đang tạm dừng quân để đợi đơn vị của Hòa từ phía đông QL21 tới. Khôi cho biết
hiện giờ BCH/LĐ đang nằm tại Phan Rang và Nha Trang đã di tản. Khôi cho biết Tướng
Lưỡng đã xin được trực thăng để bốc tôi về Phan Rang, có thể vào ngày mai. Khôi
xin tôi cho tọa độ của bãi bốc (PZ [9]) tôi chọn, đồng thời bảo tôi
phải đưa TĐ đến bãi bốc trước 10:00g sáng ngày mai 1/4/75 và không cần đợi
TĐ6ND (–). LĐ sẽ liên lạc và hướng dẫn thẳng TĐ6ND.
Trong khi chờ tôi nghiên cứu bản đồ và lựa chọn bãi đáp cho trực thăng, Khôi
sang tần số nội bộ mới của TĐ6ND mà tôi vừa cho Khôi để liên lạc với Trần tấn
Hòa.
Khoảng 20 phút sau, Khôi quay lại tần số riêng để tiếp tục nói chuyện với tôi.
Tôi cho tọa độ bãi đáp tôi chọn (605–892). Bãi này tương đối an toàn và TĐ5ND
có đủ thời gian để sẵn sàng có mặt ở đây trước 10:00g sáng mai. Tôi cũng đề nghị
cho khu trục bao vùng trong khi bốc quân vì xe tăng địch có thể theo con đường
mòn Đông Bắc–Tây Nam từ Buôn Ea Thi chạy tới bãi bốc mất khoảng 30 phút.
Sau khi đáp nhận, Khôi nói sẽ xin theo lời đề nghị của tôi, Khôi bảo tôi dành
riêng một máy truyền tin vào tần số “CÙI+13” thường trực với Khôi và hẹn gặp lại
tôi ngày mai. Sau đó anh rời vùng và bay về Phan Rang.
Tôi liền họp các ĐĐT và cho họ biết tin này. Trên mặt ai cũng lộ ra nét mừng.
Tôi cho lệnh di chuyển vào ngày mai và ấn định vị trí của các ĐĐ bố trí tại bãi
bốc trong khi chờ trực thăng. Sau đó các ĐĐT trở về vị trí bố phòng của mình và
cho lệnh tiếp cho con cái. Đêm đó tôi nghĩ là có nhiều anh em thao thức mong đợi
sáng.
Ngày 2/4/1975: Khoảng 05:00g sáng, TĐ5ND bắt đầu di chuyển từ vị trí đêm
theo đường đỉnh của triền núi này chạy theo hướng Đông Bắc–Tây Nam. Vì tin tức
được trực thăng bốc về thay vì phải lội bộ cũng như lúc đó TĐ đang di chuyển xuống
núi nên anh em binh sĩ đi rất nhanh. Trời bắt đầu đổ mưa nên tốc độ đi bắt đầu
chậm lại. Vì vậy nên đến 08:00g TĐ mới tới chỏm đồi có cao độ khoảng 500m
(602–898). Tại đây trong màn mưa vẫn có thể nhìn thấy khu bãi bốc TĐ dự trù nằm
về phía Đông Nam cách nơi đây khoảng hơn 700m. Tôi cho lệnh bố trí tạm và cho
ĐĐ53ND tiếp tục xuống chiếm và lục soát bãi đáp.
Đến 09:00g, Trung úy Hương báo máy về là đã lục soát xong và bố trí ĐĐ53ND theo
đúng vị trí và hướng như đã nhận trong buổi họp đêm qua. Tuy không hy vọng gì
trực thăng có thể tới bãi bốc đúng giờ trong điều kiện thời tiết này, song tôi
vẫn cho TĐ di chuyển xuống bãi bốc và bố trí phòng thủ quanh bãi bốc như đã hoạch
định trước.
Đúng 10:00g, TĐ đã sẵn sàng chờ trực thăng tại bãi bốc. Cơn mưa vẫn tầm tã và
không có dấu hiệu gì là sẽ chấm dứt. TĐ im lặng đợi trong niềm hy vọng và thắc
thỏm như vậy cho tới khoảng gần 15:00g lúc cơn mưa vừa tạnh thì nghe văng vẳng
từ xa tiếng máy bay trực thăng vọng lại. Xa xa về hướng Tây Nam hình ảnh mờ nhạt
của một chiếc trực thăng đang hiện rõ dần dần.
Trong tiếng rè rè của máy truyền tin dành riêng để liên lạc với Khôi chợt vang
lên tiếng gọi Tố Quyên. Cầm ống nghe và kề sát tai tôi nghe tiếng của anh Khôi
đang gọi. Sau khi đáp nhận, tôi được Khôi cho biết vì không đủ số lượng trực
thăng nên BCH/LĐ tạm quyết định chỉ bốc BCH/TĐ và một số quân nhân bị thương ra
khỏi vùng, còn TĐ (–) sẽ do TĐP chỉ huy và sẽ được bốc vào ngày mai ở một bãi
đáp khác. Nghe vậy tôi cương quyết từ chối và cho Khôi biết như vậy sẽ lộ vị
trí của TĐ vì VC có thể nếu muốn sẽ điều động đơn vị đến ngay và TĐ sẽ gặp nhiều
khó khăn. Hơn nữa tôi không thể rời TĐ trong giờ phút sinh tử này.
Tôi nói với Khôi:
– Một là bốc toàn bộ TĐ vào ngày mai hay chậm hơn nữa cũng được và hai là phải
xin đủ trực thăng để bốc trong một đợt. Tôi không muốn bốc trong 2 hay 3 đợt vì
như vậy sẽ không an toàn cho phi hành đoàn cũng như cho thành phần còn lại của
đơn vị trong những đợt sau.
Tôi bảo Khôi bay về Phan Rang nêu lên đề nghị của tôi và quay lại cho tôi biết
đích xác trước khi trời tối để tôi còn dự trù kế hoạch cho ngày mai. Sau khi
Khôi đáp nhận và bay đi, lúc đó khoảng gần 15:30g.
Cơn mưa tuy đã tạnh hẳn song trời vẫn còn u ám. Vì nghĩ không có cách gì để có
đủ số trực thăng để bốc TĐ trong một đợt như tôi đề nghị từ bây giờ tới tối nên
tôi cho TĐ di chuyển quay về bố trí tại chỏm đồi dừng quân lúc sáng nay
(602–898) trước khi xuống bãi đáp.
Khoảng gần 17:00g thì lại có tiếng trực thăng văng vẳng và tôi nghe tiếng anh
Khôi nói là đề nghị của tôi đã được thượng cấp đồng ý. Trước 08:00g ngày mai,
3/4/75 sẽ cho lệnh chi tiết.
Sau khi đi một vòng kiểm soát lại hầm hố cũng như dặn dò các ĐĐ gửi các toán
báo động về phía trước tuyến phòng thủ của ĐĐ mình, tôi quay về họp các ĐĐ trưởng
và ban tham mưu để hoạch định kế hoạch bốc quân trong ngày mai 3/4/75.
Ngày 3/4/1975: Khoảng 07:45g, qua hệ thống riêng giữa tôi và anh Khôi
tôi được biết sẽ có một hợp đoàn trực thăng gồm 4 chiếc Chinook CH–47A và 22
chiếc UH–1H sẽ đáp xuống bãi đáp và bốc toàn bộ TĐ lúc 11:00g. Anh Khôi yêu cầu
tôi cho lệnh đơn vị vứt bỏ hết túi quân trang và chỉ mang theo vũ khí và đạn dược
để phi hành đoàn không bị chuyên chở quá tải. Khôi cho biết Chinook sẽ chở tối
đa mỗi tầu từ 75 đến 80 người, còn UH sẽ chở tối đa là 10 người. Sau khi tôi
đáp nhận anh Khôi cho biết phải quay về Phan Rang ngay để còn kịp họp phối hợp
với Trung tá Bút, CHT hợp đoàn trực thăng.
Tôi vội vàng họp các ĐĐT để cho lệnh chi tiết về thứ tự bố trí tại bãi đáp cũng
như thứ tự lên trực thăng. Các ĐĐ50ND, 54ND(–) và 52ND theo thứ tự vừa nêu sẽ
lên các trực thăng Chinook 1, 2, 3, 4 đáp xuống đầu tiên. ĐĐ Đa Năng sẽ lên 9
chiếc UH đầu tiên và ĐĐ53ND bao chót sẽ lên các trực thăng còn lại. Lệnh chung
là các đơn vị trưởng lên tầu cùng với các binh sĩ chót của đơn vị để duy trì trật
tự bốc quân. Hôm nay thời tiết rất đẹp, trời có nắng và không gió.
TĐ xuống bãi và bố trí xong lúc gần 10:00g. Tôi cho lệnh ĐĐ50ND chuẩn bị bãi.
Các anh em binh sĩ dàn hàng ngang đi đạp cỏ tranh nằm rạp xuống cũng như phát
các bụi cây nhỏ trong bãi. Một tấm panneau [10] mầu vàng được
trải ra ở đầu bãi để đánh dấu vị trí bãi.
Mọi việc chuẩn bị bãi được hoàn tất trước 11:00g. Khoảng 10:45g từ phía Tây Nam
tôi bắt đầu thấy bóng dáng đoàn trực thăng mong đợi xuất hiện. Đúng 11:00g, chiếc
CNC [11] sau khi lượn quanh bãi một vòng bắt đầu đáp.
Đứng ở góc phía Bắc của bãi với hai binh sĩ mang máy truyền tin và hai binh sĩ
cận vệ, tôi giơ tay vẫy phi hành đoàn. Viên phi công của chiếc CNC vẫy tay ra
hiệu bảo tôi lên tầu. Tôi không trả lời và tiếp tục theo dõi 4 chiếc Chinook
đang đáp và các ĐĐ đang theo thứ tự chạy ra bãi và lên tầu, tất cả rất có trật
tự.
Khi 4 chiếc Chinook cất cánh thì đoàn UH–1H đang lượn quanh bãi bắt đầu lần lượt
đáp và các ĐĐ còn lại nhanh chóng chạy ra bãi và lên tầu. Tôi và đám binh sĩ
theo tôi chạy tới chiếc CNC leo lên và gần như là cất cánh cùng một lúc với 2
chiếc trực thăng bốc quân sau cùng tại bãi.
Chưa kịp chào hỏi Trung tá Lê Văn Bút, viên phi công CNC, Không Đoàn Trưởng
KĐ72 và hiện đang là Hợp Đoàn Trưởng của hợp đoàn trực thăng đến bốc TĐ5ND, thì
đã bị anh Bút cằn nhằn:
– Ông tà tà quá, tôi tưởng đáp xuống bốc ông ngay rồi bay lên theo dõi hợp đoàn
đáp để bốc con cái ông, ông lại bắt tôi chờ dưới đất làm sốt ruột muốn chết.
Tôi chỉ biết cười trừ và xin lỗi, vì hành động của tôi chỉ là theo đúng tinh thần
của một đơn vị trưởng ND: “Có mặt và chia sẻ với anh em trong đơn vị vào những
giây phút khó khăn nhất”.
Trên chiếc CNC tôi ngoái cổ nhìn lại khu vực đèo M’Drak với nhiều dao động và
xót xa trong lòng. Nghĩ tới những anh em nằm lại và một số không theo kịp đơn vị
khi chạm địch vào rạng sáng ngày 29/3/75 trong đó, ngoại trừ Trung úy Vũ tử
thương ngay lúc đầu, còn Đại úy Chiêu, Bác sĩ Liêm cũng như Thiếu úy Côi và
trung đội của anh không biết bây giờ họ ra sao! Với một nhóm ít người, họ có thể
phân tán mỏng, lẩn vào rừng và rút về vùng tự do được không? Loay hoay trong đầu
với những ý nghĩ ấy tôi vẫn như người mộng du cho đến lúc thấy phi trường Thành
Sơn và thị xã Phan Rang hiện ra ở phía trước mặt. Nhìn đồng hồ đeo tay tôi thấy
lúc đó là 12:15g.
Trước khi hạ xuống, tôi thấy Trung tá Bút nói gì trong máy. Khi trực thăng từ từ
đáp, anh quay sang nói với tôi:
– Lúc nãy có một thằng em trục trặc máy nên không theo về cùng Hợp Đoàn và phải
đáp xuống Đa Nhim, do đó một thằng khác phải theo để yểm trợ. Sau khi Trung tá
xuống phi trường tôi phải cùng với một nhóm khác đi ngay Đa Nhim để đón họ về.
Trung tá cứ yên tâm, tất cả hiện giờ đều vô sự.
Xuống khỏi trực thăng tôi đã thấy các ĐĐT đang gom và kiểm điểm quân số của
mình. Trung úy Trung, ĐĐT/50ND báo cáo với tôi là thiếu hai tầu chở đám truyền
tin và đám súng không giật 57mm của TĐ. Tôi cho anh Trung biết sự việc xảy ra
và nói họ cũng sẽ về đây trong trưa nay. Thiếu tá Em, TĐP, hối hả tiến về phía
tôi và nói:
– Có Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, TL [tư lệnh] Tiền Phương QĐIII và
Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, TL/SĐ6KQ ra gặp đích thân.
Tôi ngước lên và thấy Trung tướng Nghi (tôi biết vì ông vốn là CHP/TVBQGVN khi
tôi đang là SVSQ tại trường này, cũng như tôi đã gặp ông tại Lai Khê khi ông dẫn
SĐ21BB dưới quyền giải vây cho An Lộc khoảng cuối tháng 4 năm 1972) đi cùng một
ông tướng khác mà tôi chưa gặp mặt bao giờ đang vui cười tiến về phía tôi. Theo
sau hai ông là Trung tá Phát, LĐT/LĐIIIND. Tôi chào 2 vị Tướng và lần lượt bắt
tay hai ông.
Tướng Nghi cười và nói:
– Cậu khá lắm, thôi bây giờ lo bảo vệ phi trường này cho tôi, đồng thời cắt đặt
mấy trung đội Dù của TĐ cậu ra tuần tiễu tại thị trấn và bắt giữ tất cả các
quân nhân đang lang thang ngoài phố và đưa hết họ vào trong này. Những gì cậu cần
bổ sung về quân trang, vũ khí, đạn dược thì cứ nói để ông Phát ông ấy lo ngay
cho.
Chuẩn tướng Sang thì nói:
– Cắt đặt anh em lo tăng cường phòng thủ chung với các anh em KQ tại đây xong
thì cậu vào BTL/HQ gặp chúng tôi. Tôi cho phép cậu cho anh em ngả mấy con bò
trong đàn bò của KQ ở đây để ăn uống cho lại người sau cả tuần lễ vất vả. Tướng
Nghi sau đó quay lại nói gì với Trung tá Phát rồi cùng Tướng Sang vội vã ra xe
jeep chạy về phía tòa nhà lớn ở phía xa xa trong phi trường.
Tỉnh Lỵ Phan Rang & Phi Trường Thành Sơn.
Tôi chào Trung tá Phát và được ông cho biết sơ qua tình hình LĐ. Theo ông thì
LĐ rút về đây chỉ gồm có BCH và các ĐĐ cơ hữu của LĐ và một số nhỏ của TĐ2ND.
Bây giờ thêm TĐ5ND, còn TĐ6ND (–) thì chắc phải chờ Trần Tấn Hòa rút được sang
khu vực phía Nam QL21 thì đám trực thăng mới đủ nhiên liệu cần thiết để bay đi
bốc và đủ sức bay về Phan Rang. Theo dự trù chắc phải ngày 4/4/75 mới bốc được.
Hiện giờ BCH/LĐ nằm trong phi trường kế cận BTL/TP/QĐIII của Tướng Nghi. Ông
Phát cũng cho biết QĐII đã giải thể. Dân chúng từ phía Nha Trang chạy về cho biết
một bộ phận nhỏ VC mới tiến vào Nha Trang ngày hôm qua 1/4/75. Cam Ranh bây giờ
là tuyến đầu. Sau khi lo cắt đặt các ĐĐ vào các vị trí quanh phi trường và sử dụng
2 trung đội Đa Năng tuần tiễu trên mấy chiếc dodge 4×4, tôi vào gặp Tướng Nghi
tại BTL/Tiền Phương QĐIII để biết thêm tình hình chung. Tướng Nghi cho biết
Vùng I đã rút từ ngày 30/3/75 và các đơn vị thuộc Vùng I bị thiệt hại rất nặng.
Hiện giờ Phan Rang là tuyến đầu. Trong ngày mai, Sài Gòn sẽ gửi ra đây một số
đơn vị khác để tăng cường. Chán nản, tôi quay về BCH/LĐIIIND tìm anh Khôi, song
anh vẫn đang bay để tìm bãi bốc cho phân nửa TĐ6ND của Thiếu tá Hòa.
Khoảng 15:00g, chiếc máy bay chở Chuẩn tướng Lưỡng, TL/SĐND, cùng TLP và bộ
tham mưu từ Sài Gòn ra. Gặp tôi, Tướng Lưỡng vui vẻ bắt tay rồi hỏi thăm tình
hình tại đèo M’Drak vào những giờ phút cuối rồi ông đi thăm các anh em binh sĩ
trong TĐ. Ông cho biết khi nghe tin LĐIIIND bị tràn ngập và mất tin tức của cả
3 TĐ ông choáng váng. Trung tá Phát lúc đó dẫn BCH/LĐ từ đèo Rù Rì về Nha Trang
và sau đó về Cam Ranh không cho biết thêm tin tức gì hơn nên ông rất tức giận.
Ông cho lệnh ông Phát về nằm tại Phan Rang và gửi Trung tá Khôi dùng trực thăng
bay lên vùng Khánh Dương để tìm cách bắt liên lạc với các đơn vị của LĐ vì ông
không tin rằng tất cả 3 TĐ đều bị tiêu diệt.
Ông nói:
– TĐ5ND là TĐ cũ của tao [12], tao biết không thể nào bị xóa sổ dễ
dàng như thế được. Sau khi Trung tá Khôi liên lạc được với mày và thằng Hòa tao
xin TTM phương tiện để bốc tụi mày ra mà TTM nói không đủ phương tiện nên tao
xin thẳng với Tổng thống Thiệu. Tao nói, “Nếu Tổng thống không bốc chúng nó ra
thì các TĐND khác sẽ không còn tinh thần để đánh đấm nữa đâu.” Ông Thiệu suy
nghĩ một lúc rồi đích thân gọi Không Quân bắt lấy trực thăng của vùng III và IV
để đưa ra Phan Rang. Nói với tôi xong, Tướng Lưỡng vào gặp Tướng Nghi.
Khoảng 17:00g, ông và phái đoàn BTL Dù quay về Sài Gòn. Trước khi đi ông cho biết
sẽ đưa LĐIIND ra Phan Rang và đồng thời cho TĐ5ND về Sài Gòn để chỉnh trang lại
đơn vị.
Ngày 4/4/1975: Trong ngày, Không Quân vẫn tiếp tục các phi vụ oanh tạc
các mục tiêu phía Bắc Cam Ranh. Khoảng 10:00g, Trung úy Vũ Đình Lâm, Trưởng Ban
4 TĐ5ND mang quân trang ra Phan Rang để trang bị lại cho TĐ.
Trung úy Lê Văn Tâm, SQ truyền tin của TĐ năm xưa, sau khi rời đơn vị về phục vụ
tại Phan Rang thấy lính TĐ5ND ngoài phố nên ghé vào phi trường thăm đơn vị cũ.
Anh cho tôi biết một số tin tức về VC do dân chúng từ các tỉnh phía Bắc Phan
Rang chạy về kể lại. Tuy nhiên tôi cũng không có gì đặc biệt. Sau đó thấy tôi
muốn biết thị xã Phan Rang, anh tình nguyện lên xe jeep với tôi ra phố. Anh cho
biết cách đây mấy ngày Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù tham dự trận Khánh Dương
khi thấy dân Nha Trang chạy về Sài Gòn ngang qua đây khiến dân chúng náo loạn hết.
Phố xá đóng im ỉm và một số gia đình giầu có đã chạy về Sài Gòn. Nhưng kể từ
ngày hôm qua, khi thấy bóng dáng ND ngoài phố họ có vẻ đã yên tâm trở lại.
Thị xã nằm ở hướng Đông Nam phi trường và cách phi trường khoảng 5km. Tình hình
ngoài thị xã có vẻ ổn định trở lại sau khi thấy các toán tuần tiễu Nhảy Dù duy
trì trật tự an ninh dọc theo các phố chính. Tuy nhiên dòng xe cộ và dân chúng từ
phía Bắc chạy về vẫn tiếp tục xuôi Nam.
Thấy tôi hỏi nghe nói Tổng thống quê ở đây song chính ra là ở địa hạt nào thì
anh Tâm cười và chỉ đường cho tài xế lái tới làng Tri Thủy, xã Tân Hải thuộc quận
Thanh Hải ở phía Đông Bắc thị xã. Làng nằm ở phía Tây Bắc núi Đình trông thẳng
ra đầm Nại ở hướng Tây Bắc. Anh nói đó là quê Tổng thống Thiệu. Ngay tại đây
tôi thấy nhà cửa rất khang trang, có một ngôi chợ khá lớn và dân chúng vẫn tấp
nập mua bán. Tại đây dân chúng vẫn sinh hoạt bình thường. Tôi nghĩ có lẽ dân
chúng ở đây tin rằng không bao giờ Tổng thống Thiệu lại để quê quán mình rơi
vào tay CS.
Ngày 5/4/1975: Khoảng 08:00g, theo lệnh của Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi,
Trung tá Phát cho lệnh tôi đưa một ĐĐ ra trấn giữ Đèo Cầu [13] (693–873)
trên QL11 hướng về vùng Tân Mỹ ở phía Tây Bắc để bảo vệ mặt Tây của phi trường.
Sau khi ĐĐ7 Địa Phương Quân đến thay thế tại mặt Tây Nam phi trường, ĐĐ52ND di
chuyển đến khu vực trách nhiệm mới.
Trong ngày, một số quân nhân Không Quân và Bộ Binh thất lạc đơn vị tại Nha
Trang và Cam Ranh tìm vào phi trường trình diện. Họ xác nhận là có một số VC xuất
hiện ở Vườn Dừa, Ba Ngòi. Có lẽ chúng ém quân để chờ đại đơn vị của chúng tới.
Các phi cơ A–37 của Đại tá Lê Văn Thảo, Không Đoàn Trưởng KĐ92, được lệnh cất
cánh để oanh tạc khu vực này.
Khoảng 16:00g, Trung tá Phát, LĐT/LĐIIIND cho tôi biết ngày mốt LĐIIND sẽ ra,
tôi sẽ bàn giao vị trí và TĐ5ND sẽ được không vận về Sài Gòn. Trong đêm tình
hình yên tĩnh.
Ngày 6/4/1975: Trong ngày dân chúng tỵ nạn CS vẫn từ phía Bắc Phan Rang
chạy về. Đã có dấu hiệu VC xuất hiện ở khu vực ấp Bà Râu (880–960), song vì lực
lượng tại chỗ chỉ vừa đủ để phòng thủ phi trường và thị xã nên Tướng Nghi quyết
định sẽ giải quyết sau khi LĐIIND ra tới vào ngày hôm sau.
Ngày 7/4/1975: Khoảng 10:00g, tôi được báo Đại tá Nguyễn Thu Lương,
LĐT/LĐIIND và TĐ3ND, vừa đáp xuống phi trường Phan Rang. Tôi lái chiếc xe jeep
chạy ra đón và gặp ông đang đứng cùng Đại úy Mai Bá Long, SQ Ban 2/LĐ. Sau khi
chào ông, ông bắt tay tôi và hỏi tình hình TĐ5ND vì TĐ5ND là đơn vị cơ hữu của
LĐIIND. Lúc hỏi đến tình hình địch, tôi trả lời khá chi tiết về SĐ F10. Tôi nói
với ông là nên đặc biệt cẩn thận và sau đó lái xe đưa ông chạy lên khu vực quê
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Sau khi quay trở về phi trường, Đại tá Lương vào BTL/Tiền Phương QĐIII. Theo lệnh
của Tướng Nghi và Tướng Sang, LĐIIND được lệnh hành quân giải tỏa khu vực lân cận
phi trường và thị xã đồng thời kiểm soát khu vực phía Bắc tiếp giáp thị xã Cam
Ranh. Đại tá Lương yêu cầu tôi hỗ trợ cho ĐĐ2 Trinh Sát của Trung úy Sang để
thanh toán khu vực đồn Đại Hàn ở phía Tây phi trường chừng 1.5km. Đồn này rất
kiên cố và do một đơn vị nhỏ ĐPQ trấn đóng song đã rơi vào tay 1 đơn vị VC địa
phương lúc trưa nay. TĐ3ND tạm thời bố trí tại vòng đai phòng thủ phía Đông phi
trường trong khi chờ 2 TĐ7ND và TĐ11ND đang được không vận từ Sài Gòn ra.
Sau khi bàn giao khu vực trách nhiệm cho TĐ7ND, TĐ5ND được không vận về Sài Gòn
vào xế chiều. Từ phi trường Tân Sơn Nhất, TĐ được chở thẳng về tập họp ở sân cờ
trại Hoàng Hoa Thám. Tại đây đúng 20:45g Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng TL/SĐND và
bộ tham mưu ra ủy lạo anh em quân nhân TĐ. Đây là một vinh dự đặc biệt dành cho
TĐ. Đêm đó TĐ5ND tạm trú tại doanh trại của TĐ8ND.
Ngày 8/4/1975: TĐ5ND được xa vận về đến hậu cứ, trại Ngô Xuân Soạn, lúc
09:00g. TĐ được nghỉ tại trại để bổ sung quân số và chỉnh trang đơn vị. Một số
quân nhân có gia đình tại Sài Gòn và Biên Hòa được cấp phép về thăm gia đình.
Tôi và các ĐĐT vào bệnh viện Đỗ Vinh và bệnh viện Cộng Hòa viếng thăm các anh
em thương bệnh binh của TĐ đang nằm điều trị tại hai nơi này.
Ngày 9/4/1975: Trung tá Phát đến sân cờ TĐ trao gắn huy chương và cấp bậc
cho một số quân nhân hữu công. Chiều hôm đó toàn bộ TĐ liên hoan tại khu vực
sân cờ, có TĐ30 CTCT giúp vui phần văn nghệ.
Ngày 10/4/1975: Khoảng 08:30g, TĐT/TĐ5ND đại diện Chuẩn tướng TL/SĐND đến
nhà của Đại úy Huỳnh Quang Chiêu để làm lễ gắn Bảo Quốc Huân Chương Đệ Ngũ Đẳng
cũng như truy thăng Thiếu tá cho SQ đương sự.
Khoảng 10:00g, Quân Cảnh tại thị xã Vũng Tầu điện thoại xin xác nhận một
số quân nhân mặc thường phục trên thuyền đánh cá vừa cập Bến Đá–Vũng Tầu tự
xưng là thuộc TĐ5ND. Những người này có nộp cho QC một số vũ khí của VC và
nói là họ vừa từ Khánh Dương trở về. Sau khi danh tính được TĐ xác nhận, những
quân nhân này được quân xa TĐ6ND ở Vũng Tầu đón và chở họ thẳng về hậu cứ TĐ ở
Tam Hiệp, Biên Hòa.
Xế chiều, TĐ vui mừng đón tiếp Đại úy Chiêu, Bác sĩ Liêm, và một số quân nhân của
ĐĐ54ND bị thất lạc với đơn vị lúc rạng sáng ngày 28/3/1975. Hoá ra Đại úy
Chiêu, người mà tôi đại diện Chuẩn tướng TL/SĐND gắn lon truy thăng Thiếu tá, vẫn
còn sống. Khi về đến nhà, Đại úy Chiêu thấy mẹ nhìn mình rồi sững sờ bật khóc,
cũng như nhìn lên bàn thờ thì thấy hình của mình đang ngồi trên đó. Họ kể lại
chuyện họ lẩn tránh VC ra sao và sau khi họ đã cải dạng thành VC để đi về qua
Ninh Hòa rồi khi tới ngang Hòn Thị trên Quốc Lộ 1 họ đã lừa du kích địa phương
ra sao để chúng bắt một chiếc ghe đánh cá chở họ ra đảo Hòn Khô. Khi ghe đã ra
khơi họ đã dùng súng buộc người lái thuyền chở họ thẳng về Vũng Tầu. Chuyện họ
kể cứ như là trong phim ảnh.
Ngày 11/4/1975: Trung úy Sanh, ĐĐT/51ND cùng một số quân nhân ĐĐ51ND từ
Vũng Tầu về đến hậu cứ TĐ lúc 10:00g. Anh Sanh cho biết sau khi bị phục kích
đêm đó, ĐĐ anh tùng thiết theo TVX đi thẳng về Nha Trang và vì không liên lạc
được với ai cũng như lúc đó tại Nha Trang dân chúng cũng đang hốt hoảng bỏ đi
nên anh đã dẫn ĐĐ về Cam Ranh rồi lên tầu HQ ra thẳng Phú Quốc và chiều ngày
hôm qua mới được tầu HQ chở về Vũng Tầu để sáng nay TĐ6ND chở về hậu cứ.
Trong ngày một số SQ và HSQ vừa được Phòng 1 BTL/SĐND điều động về bổ sung cho
đơn vị đến hậu cứ trình diện.
Ngày 12/4/1975: TĐ5ND được lệnh lên ứng chiến cho SĐND tại hậu cứ TĐ8ND.
Tôi chạy lên BTL/SĐND để theo dõi tình hình tại Phan Rang.
Theo tin tức do dân chúng từ phía Bắc chạy về thì VC hiện vẫn ém quân ở khu Vườn
Dừa ngay phía Nam cầu sông Cạn trên QL1 (945–089). Khu vườn trồng dừa này có diện
tích khoảng 1.5km² nằm hai bên QL1 và ở khoảng 1km ngay phía Bắc chân đèo Du
Long, ranh giới giữa Cam Ranh và Phan Rang. Có lẽ chúng chờ thêm các đại đơn vị
khác tới mới bắt đầu mở cuộc tấn công xuống thị xã Phan Rang.
Phối trí của LĐIIND như sau:
*BCH/LĐ tại gần BTL/Tiền phương QĐIII trong phi trường cùng với
TĐ7ND của Thiếu tá Nguyễn Lô.
*TĐ3ND của Thiếu tá Lã Quý Trang trên đường hành quân từ ấp Cà Đú ở
phía Bắc thị xã lên hướng Đông Bắc đã tiêu diệt một số lớn VC tại khu ấp Ba
Tháp (860–915), cách thị xã 9km, rồi tiến chiếm khu dinh điền ấp Bà Râu
(880–960), khoảng hơn 5km về phía Đông Bắc Ba Tháp. TĐ sử dụng 3 ĐĐND án ngữ
tuyến phòng thủ dọc theo tỉnh lộ chạy từ QL1 vào ấp Bà Râu. TĐ (–) tại ấp Kiển
Kiển (893–945).
*TĐ11ND của Thiếu tá Nguyễn Văn Thành phối trí tại khu vực Ba Tháp
cùng với TĐ1/PBND của Trung tá Nguyễn Bá Trí, chịu trách nhiệm phòng thủ vùng
phía Đông Bắc phi trường, đồng thời TĐ11ND gửi một số toán thám sát lên tìm hiểu
địch tình tại khu vực đèo Du Long. Đèo này nằm trên QL1, chạy theo hướng Tây
Nam–Đông Bắc giữa rặng núi Đà Cao (868m) ở phía Tây và rặng núi Chúa (904m) ở
phía Đông. Đèo dài khoảng hơn 10km, cách thị xã Phan Rang khoảng 21km về hướng
Đông Bắc và là cửa ngõ từ Cam Ranh tiến vào Phan Rang.
Ngày 13/4/1975: Khoảng 10:00g, văn phòng Tư Lệnh gọi tôi lên trình diện.
Chuẩn tướng Lưỡng cho biết sẽ gửi tôi đi học khóa Chỉ Huy Tham Mưu tại Long
Bình vào thượng tuần tháng 5/1975. Ông cũng cho biết sẽ bổ nhậm tôi làm
LĐP/LĐIIIND và cho tôi nghỉ phép 1 tuần trước khi về LĐ.
Ngày 14/4/1975: Tôi bàn giao chức vụ TĐT cho Thiếu tá Võ Trọng Em trong
buổi lễ bàn giao TĐ tại hậu cứ của TĐ8ND.
Trung tá Bùi Quyền
TĐT/TĐ5ND/SĐND–QLVNCH
Nguồn: https://haingoaiphiemdam.com/a20386/tieu-doan-5-nhay-du-tai-tran-tuyen-deo-m-drak-khanh-duong-to-quyen-k16
Tác
giả chú thích:
[1] LST: Landing Ship Tank
[2] Đèo Phượng Hoàng: đoạn QL21 dài khoảng 3km chạy giữa 2 dãy núi
Chư Giung và Chư Bli, nằm cách Dục Mỹ khoảng hơn 10km về hướng Tây–Tây Bắc.
[3] Antenna 292 sử dụng để liên lạc khoảng cách xa bằng máy
truyền tin dùng siêu tần số.
[4] Thủ trưởng: từ ngữ chỉ cấp chỉ huy của VC.
[5] Convoi (tiếng Pháp): nhóm xe cộ hay tầu bè đi cùng với
nhau
[6] Rang: Bắn cháy. Tiếng thông dụng của quân nhân khi bắn cháy hay
hủy diệt được chiến xa địch.
[7] Hột lạc: hình vẽ các vòng cùng cao độ của chỏm núi hay đồi trên
bản đồ, có hình dạng giống hột đậu lạc.
[8] Đối đế: phương sách cuối cùng, không còn cách nào khác
[9] PZ: (Pick–up Zone) khoảng đất trống trải dùng làm bãi cho trực
thăng hạ xuống để bốc quân ra khỏi khu vực hành quân. Bãi đổ quân là LZ
(Landing Zone)
[10] Panneau: miếng vải hình chữ nhật một mặt mầu vàng, mặt kia mầu đỏ,
được trải trên mặt đất để đánh dấu khiến cho phi cơ từ trên không nhận ra vị
trí bạn dưới đất dễ dàng.
[11] CNC: Control & Command ship. Trực thăng được trang bị hệ
thống truyền tin đặc biệt dành cho cấp chỉ huy để ở trên không giám sát, điều động,
và phối hợp các đơn vị dưới quyền trong 1 cuộc hành quân...
[12] Tướng Lưỡng ở TĐ5ND từ lúc mới ra trường và lần lượt đảm
nhiệm các chức vụ từ Trung đội trưởng lên đến TĐP. Sau đó ông rời TĐ5ND đi làm
TĐT/TĐ2ND từ ngày 1/9/65.
[13] Đèo Cầu: đoạn QL11 nằm vắt qua mỏm phía tây nam của núi Hòn
Giái, trông xuống chỗ giao tiếp của sông Cái ở phía bắc với sông Kinh Dinh ở
phía nam. Địa điểm chiến lược để chặn địch di chuyển trên QL11 từ mạn Đà Lạt
qua đèo Ngoạn Mục xuống vùng duyên hải.
LINK:
https://www.baoquocdan.org/2026/03/tran-chien-co-thu-phi-truong-phung-duc.html




No comments:
Post a Comment