Sunday, March 8, 2026

Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù tại trận tuyến đèo M’Drak Khánh Dương

Tác giả: Tố Quyên 




Danh hiệu truyền tin của Trung tá Bùi Quyền. 

Lời Tác giả: Chân thành cảm tạ:
– Giáo sư Jay Veith và Tiến sĩ Nguyễn Đức Phương đã cung cấp bản đồ khu vực M’Drak
– Các chiến hữu đã qua điện thoại hoặc điện thư tường thuật thêm nhiều chi tiết quý báu để tôi có thể kể lại diễn biến tại M’Drak những ngày cuối tháng 3/75:
– Ngô Văn Xuân, Trung Đoàn Trưởng/Tr.Đ 44/SĐ23BB
– Nguyễn Văn Giang, Giám Đốc Không Trợ QĐ II
– Trần Đăng Khôi, LĐT/LĐ3ND
– Nguyễn Hữu Thành, cựu TĐT/TĐ6ND
– Trần Công Hạnh, TĐT/TĐ2ND
– Trần Tấn Hòa, TĐT/TĐ6ND
– Võ Trọng Em, TĐT/TĐ5ND
– Các SQ/TĐ5ND trong trận đánh tại đèo M’Drak: Trần Thanh Chương, Huỳnh Quang Chiêu, Huỳnh Hữu Sanh, Hoàng Bá Hương, Huỳnh Hiệp, Lê Hữu Dư, Tô Thành, Hoàng Đình Côi.
Xin Độc giả cùng tôi thắp một nén tâm hương tưởng niệm đến những anh em Nhảy Dù và các Quân Binh Chủng khác đã hy sinh xương máu cho chính nghĩa Quốc Gia tại đây.

Tố Quyên

LINK:

https://www.baoquocdan.org/2026/03/tran-chien-co-thu-phi-truong-phung-duc.html

 


TÌNH HÌNH CHIẾN SỰ TRƯỚC LÚC GIAO TRANH:
Tiểu Đoàn 5 nhảy Dù trấn đóng khu vực Bắc đèo Hải Vân được nửa tháng thì vào khoảng đầu tháng 1/1975, TĐ được lệnh vào tiếp nhận một khu vực hành quân của LĐIIIND tại mặt trận Thường Đức thuộc quận Đại Lộc tỉnh Quảng Nam. Suốt thời gian hơn 2 tháng trấn giữ các cao điểm của dãy núi Sơn Gà–Động Lâm, thuộc quận Đại Lộc tỉnh Quảng Nam, TĐ5ND không có cuộc chạm địch nào đáng kể. Các cuộc tấn công thăm dò của địch vào các vị trí phòng thủ cấp trung đội của TĐ đều bị đẩy lui. Trong thời gian này, phần nhiều các trận đụng độ lớn đều xảy ra ở dưới chân núi giữa địch với các TĐ2, 6, 7ND.

Ngày 10 tháng 3 năm 1975 tin tức từ BCH/LĐIIIND cho biết VC bắt đầu tấn công thị xã Ban Mê Thuột (BMT) từ lúc 4 giờ sáng. BMT rơi vào tay địch khoảng 7 giờ tối cùng ngày.

Ngày hôm sau tin tức qua báo chí và các đài phát thanh Sài Gòn, BBC, VOA cho biết Mặt trận B3 của Tướng Hoàng Minh Thảo đã sử dụng 4 Sư đoàn bộ binh (F10, 320, 316, và 968), cùng 1 Trung đoàn chiến xa, 2 Trung đoàn Pháo và 1 Trung đoàn Đặc công để bất ngờ tấn công lực lượng trú phòng lúc đó chỉ gồm các quân nhân thuộc hậu cứ các đơn vị thuộc SĐ23BB cùng các đơn vị Địa Phương Quân của BMT.

Thời gian này, Chuẩn tướng Lê Trung Tường TL/SĐ23BB cùng BTL/HQ đóng tại Hàm Rồng nằm dọc QL14 ở phía Nam thị xã Pleiku khoảng 9km. Trung Đoàn 45 đang hành quân khu vực đèo Tử Sĩ nằm giữa Buôn Hô và Hàm Rồng. Đèo này nằm cách BMT khoảng hơn 40km. Trung Đoàn 44 đóng tại căn cứ 801 ở Tây Bắc Pleiku khoảng 20km. Trung đoàn 53 gồm 2 TĐ cơ hữu đóng tại phi trường Phụng Dực (phía Đông BMT khoảng 8km) bị VC tấn công từ lúc khởi đầu để ngăn chặn trung đoàn này tiếp cứu BMT.
Mấy ngày sau đó tin tức chiến sự quanh việc tái chiếm BMT đều không rõ ràng. Ngoài SĐ23BB ở BMT, để có đủ lực lượng, có lẽ Bộ TTM phải điều động thêm các đơn vị tổng trừ bị (Nhảy Dù, hay Thủy Quân Lục Chiến) hiện đang hành quân tại khu vực Đà Nẵng và phía Bắc đèo Hải Vân hay các Liên Đoàn Biệt Động Quân của các quân khu khác.
Ngày 15/3/1975: TĐ nhận công điện của LĐIIIND trong đó cho biết TĐ5ND sẽ được 1 TĐ/TQLC trực thuộc LĐ369 TQLC thay thế khu vực trách nhiệm. Toàn bộ LĐIIIND và các TĐ2, 5, và 6ND trực thuộc hành quân sẽ được hải vận về Sài Gòn cùng TĐ7ND.

 


Ngày 16/3/1975: Việc thay quân bắt đầu từ khoảng 8 giờ sáng và hoàn tất lúc 5 giờ chiều. Khi xuống đến chân núi tôi thấy 2 người bạn cùng khóa VBĐL là Trung tá Nguyễn Xuân Phúc LĐT/LĐ369 TQLC và Trung tá Đỗ Hữu Tùng LĐP đang đứng đợi. Thấy tôi, Phúc cười và nói:
– “Tụi nó đang đợi mày ở BMT đấy.”
Tôi cho Phúc và Tùng biết đơn vị tôi được lệnh về Sài Gòn. Nghe nói thế Phúc cười và nói:
– “Sức voi mà về Sài Gòn giờ này. Thôi lên đó đi, tụi tao nghĩ có lẽ tương lai gần cũng về húc ở đó. Thôi chúc mày may mắn.”
Từ biệt hai ông bạn vàng, tôi cho lệnh đơn vị lên xe, và TĐ5ND được xa vận ra quân cảng Đà Nẵng. Tại đây Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng TL/SĐND và Đại tá Văn Bá Ninh TMT/SĐND ghé thăm TĐ. Tướng Lưỡng cho biết Bộ TTM lệnh cho SĐND lần lượt triệt thoái về Sài Gòn. Trong câu chuyện ông không đả động gì đến việc SĐND sẽ tham dự phản công tái chiếm BMT.
Khoảng nửa đêm thì 2 Dương vận hạm LST [1] 404 và 504 chở toàn bộ LĐIIIND/HQ cùng TĐ7ND rời quân cảng Đà Nẵng và trực chỉ Sài Gòn. LST–404 của Hải Quân Trung tá Nguyễn Văn Lộc chở các TĐ2, 5 và 6ND cùng ĐĐ3 Trinh Sát. Chiếc LST–504 của Hải Quân Trung tá Nguyễn Như Phú chở BCH/LĐIIIND, các ĐĐ Công Vụ, Công Binh, Truyền Tin ND và TĐ3/PBND.


Ngày 17/3/1975 & 18/3/1975: Toàn bộ LĐIIIND/HQ hải hành từ quân cảng Đà Nẵng xuôi Nam trên 2 LST–404 và LST–504. Thành phần tiền trạm của các đơn vị sẽ do P4/SĐND đảm trách phương tiện về Sài Gòn sau.


Ngày 19/3/1975: Khoảng 3 giờ sáng, Trung tá Lộc Hạm Trưởng LST–404 cho xem 1 công điện của BTL/HQ trong đó cho lệnh LST–404 đổ “hàng” xuống Nha Trang rồi quay trở lại Đà Nẵng. Vì tôi là SQND thâm niên nhất trên tầu nên sau khi đọc xong công điện tôi nói với Trung tá Lộc là ông cứ việc đổ “hàng” theo lệnh. Ông Lộc cười và nói:
– “Hàng là các đơn vị ND đấy”.
Hơi bất ngờ tôi trả lời là sẽ liên lạc với Trung tá LĐT/LĐIIIND Lê Văn Phát về việc này. Sau khi dùng ám danh đàm thoại qua hệ thống truyền tin trên DVH–404 nói chuyện với Trung tá Phát lúc đó đang lênh đênh trên chiếc LST–504, tôi được biết toàn bộ LĐIIIND hành quân sẽ đổ quân lên Nha Trang và đặt thuộc quyền của QĐII. Riêng TĐ7ND tiếp tục được hải vận về Sài Gòn.
Khoảng 5 giờ sáng, LST–404 cập bến Cầu Đá Nha Trang, bãi biển lúc đó vắng tanh. Khi thấy lính ND tụ tập dài trên bãi biển, dân chúng Nha Trang bắt đầu kháo nhau và kéo đến đông nghịt. Khoảng 6 giờ, Đại tá Lý Bá Phẩm, Tỉnh Trưởng Khánh Hòa, đi trên 1 chiếc xe jeep nệm trắng chạy tới. Tôi chào ông và nói chúng tôi còn chờ BCH/LĐ.
Khoảng 7 giờ thì chiếc LST–504 tới. Trung tá Phát cùng các TĐT/ND lên xe trực chỉ BTL/QĐII lúc đó tạm trú tại khách sạn Grand Hotel nằm trên đường Duy Tân nhìn thẳng ra bãi biển Nha Trang. Tại đây tôi gặp Trung tá Không Quân Nguyễn Văn Giang, là Giám Đốc Không Trợ của QĐII, một người bạn học CVA cũ. Anh Giang cho biết là QĐ đã được lệnh bỏ Pleiku và Kontum. Các đơn vị của QĐII sẽ rút về đây và tái phối trí lại dọc theo các tỉnh miền duyên hải. Đang nói chuyện thì Thiếu tướng Phạm Văn Phú TL/QĐII đến.
Vóc người dong dỏng với nét mặt thư sinh, người ĐĐT/ĐĐ54 của TĐ5ND tại mặt trận Điện Biên Phủ ngày nào hôm nay có vẻ mệt mỏi và ưu tư. Sau khi nói chuyện với Trung tá Phát ông quay sang các TĐT/ND và nói:
– “Các anh rán chận chúng ở Khánh Dương cho tôi rồi mình sẽ tính sau.”
Thấy huy hiệu TĐ5ND trên vai áo tôi, ông vui vẻ bắt tay tôi và nói,
– “Có thằng TĐ5ND ở đây là tôi phần nào yên tâm rồi.”
Tôi chỉ cười và không trả lời vì biết rằng trong trận mạc muốn làm chủ được chiến trường, một đơn vị thiện chiến ngoài yếu tố tinh thần còn phải hội đủ được nhiều yếu tố chiến lược và chiến thuật khác.
Trước khi rời BTL/QĐII/HQ, tôi gặp riêng anh Nguyễn Văn Giang để tìm biết thêm về tình hình của QĐ. Khi tôi hỏi về tình hình các đơn vị của QĐ triệt thoái về đến đâu rồi thì Trung tá Giang, nét mặt đanh lại trả lời:
– “Còn đang kẹt tại Phú Bổn. Chưa biết về được nguyên vẹn không?”
Thấy thế tôi cũng không hỏi thêm. Khi tôi bắt tay anh để xuống thang lầu về họp với BCH/LĐIIIND, Giang siết tay tôi thật chặt và nói:
– “Cứ lên Khánh Dương đi. Tao còn ở đây thì sẽ dồn hết hỏa lực không trợ cho mày.”
Rời BTL/QĐII/HQ trở về với đơn vị, Trung tá Phát họp các TĐT tại bãi biển để phổ biến kế hoạch di chuyển. Sau đó khoảng 10 giờ sáng toàn bộ LĐIIIND trực chỉ Dục Mỹ trên đoàn quân xa khá dài. Đoàn xe theo yêu cầu của Tỉnh Trưởng Khánh Hòa đã chạy một vòng qua các phố chính của thành phố Nha Trang trước khi theo QL1 để đi Ninh Hòa. Dân chúng hai bên đường vừa chỉ trỏ vừa vẫy tay khiến đa số anh em ND đều thấy ấm lòng qua sự tin tưởng của dân chúng. Từ Ninh Hòa, đoàn xe rẽ trái theo QL21 để đi Dục Mỹ. Sinh hoạt của dân chúng ở đây có vẻ như chưa dao động sau tin BMT thất thủ.
LĐIIIND tạm đóng quân tại phía Nam đèo Phượng Hoàng [2] lúc 3 giờ chiều. Trung tá Phát sau đó họp các đơn vị trưởng và ban lệnh hành quân. Sau buổi họp, tôi lấy xe chạy vào TTHL/BĐQ Dục Mỹ gặp Đại tá Nguyễn Văn Đại CHT/Trung Tâm và Trung tá Nguyễn Thế Phồn, Trưởng Phòng 4, để xin thêm một số cấp số đạn dược.


TÓM LƯỢC LỆNH HÀNH QUÂN:
TÌNH HÌNH:
Địch: Lực lượng địch do Tướng Vũ Lăng chỉ huy gồm:
– SĐ F10: Tư lệnh là Thượng tá Hồ Đệ. F10 gồm 3 trung đoàn:
– Trung đoàn 24 của Thiếu tá Phùng Bá Thường,
– Trung đoàn 28 của Thiếu tá Nguyễn Đức Cẩm,
– Trung đoàn 66 của Thiếu tá Nguyễn Đình Kiệp.
– Trung đoàn 25/320 của Thiếu tá Lộ Khắc Tâm (SĐ 320 của Thượng tá Nguyễn Kim Tuấn),
– Trung đoàn 273 chiến xa của Thiếu tá Lê Mai Ngọ,

– Trung đoàn 40 Pháo của Thiếu tá Nguyễn Hữu Vinh,
– Trung đoàn 198 Đặc công của Thiếu tá Trần Kình.
Theo tin tức mới nhất của Phòng 2/QĐII thì sau khi chiếm được Ban Mê Thuột địch dự trù để SĐ 316 trấn giữ và tổ chức củng cố phòng ngự BMT nhằm ngăn chặn các cuộc phản công của VNCH. Sau khi tái tổ chức chúng sẽ tiếp tục sử dụng SĐ F10 làm nỗ lực chính được tăng cường thêm Trung đoàn 25 của SĐ 320 để tiếp tục tiến chiếm Nha Trang. Cùng phối hợp tác chiến với F10 là các đơn vị chiến xa, Đặc công và Pháo nói trên nhằm chọc thủng các tuyến ngăn chặn của các đơn vị VNCH trên trục tiến quân chính của chúng là QL21.


Bạn:
1. BTL/SĐ23BB/HQ gồm Trung đoàn 44(–) của Trung tá Ngô Văn Xuân và Trung đoàn 45 của Đại tá Phùng Văn Quang, tại gần đồi Chư Cúc (226–167) thuộc quận Phước An. Chư Cúc ở khoảng 22km Đông Bắc BMT.
2. Liên Đoàn 21 BĐQ, LĐT là Trung tá Lê Quý Dậu, ở khu vực phía Đông thị xã BMT và phía Nam Buôn Hô.
3. Một TĐ của Trung đoàn 40/SĐ22BB đóng tại Chư Cúc (phía Đông BMT khoảng 42km) cùng với 2 TĐ/ĐPQ thiện chiến của thị xã Phan Rang, còn Trung đoàn 40 (–) do Trung tá/Trung đoàn trưởng Nguyễn Thành Danh trừ bị tại phía sau. [2TĐ/ĐPQ Phan Rang trực thuộc BCH nhẹ của Trung tá Nguyễn Công Ba, TKP Ninh Thuận gồm TĐ 250 Thần Ưng của Thiếu tá Trần Văn Kia trấn giữ đồi 519 (ngay sát QL21 và cách quận lỵ Khánh Dương 18km), và TĐ 231 Thần Hổ của Thiếu tá Nguyễn Duy Hoàng nằm giữa quận lỵ Khánh Dương và đồi 519.]
4. Hai TĐ/ĐPQ thuộc Liên Đoàn 922 ĐPQ thuộc Tiểu Khu Khánh Hòa đảm trách các cầu cống trên phần QL21 thuộc TK/Khánh Hòa.
5. Tăng phái: Chi Đoàn 2/Thiết Đoàn 19 của Đại úy Nguyễn Xá gồm 22 chiếc M–113 được tăng phái cho LĐIIIND.
6. Không yểm: SĐ6 Không Quân tại Phan Rang trực tiếp yểm trợ không hỏa lực cũng như tản thương.


KHU VỰC HÀNH QUÂN:
Đèo M’Drak là khúc đường trên Quốc Lộ 21 [QL21] dài khoảng 28km, đầu đèo cách BMT 96km. Đoạn đường đầu đèo dài 4km này nằm giữa hai dãy núi khá cao, vách núi dựng đứng. Phía Bắc con đường là các triền của chòm núi Chư Kroa với đỉnh cao 958m, phía Nam con đường là các triền của các núi nhỏ hơn mà đỉnh cao nhất là 609m.
Từ đỉnh đèo có thể quan sát thấy được sân bay nhỏ nằm ở phía Đông Nam quận Khánh Dương. Về phía Tây Bắc đỉnh đèo khoảng 2km là Tỉnh Lộ 98 đi qua nhiều buôn làng trước khi tới Củng Sơn, Tuy Hòa. Sau đoạn đầu đèo chạy theo hướng Đông Tây khoảng hơn 2km thì con đường rẽ quặt 90 độ về Nam rồi tiếp tục uốn lượn giữa những triền đồi cao nằm hai bên đường theo hướng Nam–Đông Nam cho tới chân đèo. Chân đèo hay đèo Phượng Hoàng nằm kẹp giữa các vách dựng đứng của dãy Chư Giung (677m) nằm phía Đông Bắc và dãy Chư Bli (993m) nằm ở phía Tây Nam. Chân đèo cũng là ranh giới trên QL21 giữa quận Khánh Dương và quận Ninh Hòa.

Các triền đồi ở hai bên đường phần lớn là dựng đứng trên đó là những khu rừng nhiệt đới gồm các cây cao rậm rạp và những lùm bụi nhỏ xen lẫn cỏ tranh. Khoảng 10 cây cầu xi–măng nằm trên các đoạn có các sông suối nhỏ chảy ngang qua đường. Mặt đường trải đá và tráng nhựa và lưu thông được hai chiều tuy bề mặt đường hơi nhỏ. Cư dân trong khu vực này là người dân Ê–Đê sống tập trung trong các buôn làng ở gần hai bên đường. Đông nhất là tại buôn Ea Thi có khoảng trên 500 người. Người dân ở đây hiền lành chất phác và sinh sống bằng nghề làm rẫy, săn thú và tiểu thủ công nghệ. Một số gia nhập Địa Phương Quân và Nghĩa Quân, đảm nhiệm canh giữ mấy cây cầu trên đèo M’Drak.



 XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

Friday, March 6, 2026

Trận chiến cố thủ Phi trường Phụng Dực Ban Mê Thuột 10 tháng 3 1975 đến 17 tháng 3 năm 1975


Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - Vinh Danh Tưởng nhớ chiến sĩ anh hùng

Trận chiến cố thủ Phi trường Phụng Dực Ban Mê Thuột 10 tháng 3 1975 đến 17 tháng 3 năm 1975.

Trung Đoàn 53 Sư Đoàn 23 Bộ Binh




Những Con Đại Bàng Trắng "Trấn Sơn Bình Hải" hay Nam Bình Bắc Phạt Tây Nguyên Trấn

Đại Tá Võ Ân - Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53, Sư Đoàn 23 . Có một thời báo chí và nhiều người gọi anh là “Người hùng Ban Mê Thuột”. Điều đó rất xứng đáng. Khi chỉ có trong tay một tiểu đoàn và được tăng cường Đại Đội 23 Trinh Sát tinh nhuệ, nhờ hầm hố công sự vững chắc, anh cùng đơn vị đã phải chiến đấu đơn độc nhưng thật quyết liệt can trường trước nhiều đợt tấn công biển người của Cộng quân , giết hằng trăm địch quân CS và bắn cháy nhiều chiến xa T-54, giữ vững vị trí trong sân bay Phụng Dực , đến sau khi cả thị xã Ban Mê Thuột đã lọt vào tay CS gần một tuần trước đó. (Hình ảnh các binh sĩ Trung Đoàn 53/Sư Đoàn 23 Bộ Binh VNCH cố thủ tại sân bay Phụng Dực 11-3 --- 17-3-1975)

Thị xã Ban Mê Thuột đã hoàn toàn lọt vào tay Cộng quân từ chiều ngày 10 tháng 3/1975, và đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cuối cùng là hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh rút khỏi thị xã này lúc 10 giờ 38 phút ngày 11 tháng 3/1975. Nhưng Trung Đoàn 53 Bộ Binh, phòng thủ Phi Trường Phụng Dực, cách thị xã Ban Mê Thuột 7 Km về hướng Đông bắc vẫn cố thủ và cương quyết chống lại lực lượng biển người và chiến xa T-54 của Cộng quân.

Cùng lúc tấn công vào thị xã Ban Mê Thuột 1 giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975, Cộng quân đã không bỏ sót Trung Đoàn 53. Chiến xa và bộ đội của Cộng quân, với đại bác 130 ly, và hỏa tiển 122 ly yểm trợ đã không ngừng luân phiên tấn công Trung Đoàn 53. Và sau khi đơn vị quân lực Việt Nam Cộng Hòa cuối cùng rời bỏ Ban Mê Thuột, Cộng quân càng tập trung lực lượng tấn công Trung Đoàn 53 ác liệt hơn.

Trận đánh thư hùng giữa Trung đoàn 53 Bộ binh và một lực lượng quân chính quy CS đã được tăng cường thêm đông hơn gấp 10 lần xảy ra lúc 5 giờ sáng. Đó cũng là lần xuất trận đầu tiên của Sư đoàn 316, sư đoàn tổng trừ bị của CS tại mặt trận phi trường Phụng Dực trên chiến trường Cao nguyên.


Th/U Lợi, Đ/U Võ Ân, Đ/U Lê đình Kiên, 
hiệu thính viên trong 1 cuộc hành quân tại Bình Định năm 1969.

Đại tá Võ ân ( 1975) Anh ra đi, nhưng không hề chết. Tên tuổi Võ Ân vẫn còn vang vọng mãi trong tâm khảm của mọi người đã từng quen biết và sống chết cùng anh. Lịch sử dân tộc chắc chắn còn ghi đậm tên anh. Một người lính đã sống hết lòng với đồng đội anh em, và chiến đấu bằng tất cả danh dự cùng cả trái tim mình.

Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53 Bộ Binh là Trung Tá Võ Ân. Biết rõ ý đồ của Cộng quân, nhưng ông cũng hiểu rằng Phi Trường Phụng Dực là điểm tiếp liệu, tiếp vận duy nhất cho lực lượng tổng trừ bị là sư đoàn Nhảy Dù sẽ đến giải cứu Ban Mê Thuột sau này, đồng thời đơn vị của ông là lực lượng đầu cầu và liên lạc duy nhất cho các đơn vị bạn về sau. Do vậy, ông đã ra lệnh cố thủ và chỉ thị cho các binh sĩ tiết kiệm đạn dược và mọi phương tiện quân y, dược cụ, cố gắng chiếm dụng vũ khí của địch để chống lại kẻ địch, và phải nhất định bắn trúng mục tiêu.

Trong suốt thời gian 6 ngày đêm, Trung Đoàn 53 Bộ Binh không những đã đánh tan nhiều đợt tấn công biển người của Cộng quân, mà còn tịch thu nhiều loại vũ khí cá nhân cũng như súng cộng đồng để tiêu diệt T-54 và hàng trăm xác quân thù bỏ lại chiến trường. Sự tổn thất nặng nề nhất của Cộng quân trong mặt trận Ban Mê Thuột, hơn 200 nhân mạng, không biết được con số bị thương, và hàng chục T-54 bị phá hủy bằng chính B-40, B-41 của Cộng quân do Trung Đoàn 53 tịch thu tại mặt trận Phi trường Phụng Dực.

Góp phần đáng kể vào việc kéo dài trận chiến là một đại đội chừng 70 binh sĩ tinh nhuệ, gan lì, được huấn luyện đặc biệt và quyết tâm chiến đấu đến cùng. Tham gia trận chiến Ban Mê Thuột ngay từ ngày đầu, và là đơn vị sau chót rút khỏi đấy là Đại Đội Thám Báo mà Thiếu Uý Nguyển Công Phúc là một trung đội trưởng.

Đại đội đã chiến đấu trong hoàn cảnh cô đơn, cam go, căng thẳng và thiếu thốn súng đạn, lương thực. Họ đã gây tổn thương nặng cho một tiểu đoàn địch, giúp Trung Đoàn 53 của bạn chống trả lại những đợt tấn công mãnh liệt của đối phương, đồng thời chấm tọa độ hướng dẫn pháo binh bạn bắn vào những vị trí địch.

Một trong những yếu tố để đại đội đạt được thành tích trên và tồn tại mà chiến đấu bền bỉ nhất ở Ban Mê Thuột là Cộng quân không biết vị trí đóng quân kín đáo và bất ngờ của đại đội. Cộng quân khi tấn công Trung Đoàn 53 đã bị thúc mạnh vào cạnh sườn vì không biết có đại đội thám báo nằm quanh những ụ đất dùng để che chở cho máy bay ở phi trường và gần rừng cao su phía ngoài căn cứ của trung đoàn. Đại đội mới nhận vị trí đóng quân ở đấy vào buổi chiều. Chỗ đóng quân lại không phải là doanh trại. Quanh phi trường lại có những bãi trống, địch tiến quân dễ bị phát hiện.

Trong những giờ đầu của cuộc tấn công, Phúc theo dõi tình hình mặt trận qua máy truyền tin. Được trang bị hệ thống truyền tin tối tân hơn những đơn vị bộ binh thông thường khác, đại đội thám báo có thể liên lạc với những đợn vị bạn theo hàng dọc, mà cả với mấy đơn vị theo hàng ngang như quân đoàn, sư đoàn và không đoàn ở Nha Trang. Nhờ vậy Phúc biết thêm một số diễn tiến ở trận chiến.

Từ sáng sớm ngày 10 tháng 3/1975 cho đến hết ngày 15 tháng 3/1975, Trung Đoàn 53 Bộ Binh chỉ với một tiểu đoàn Bộ Binh, và Pháo đội 105 ly đã anh dũng chiến đấu với một lực lượng Cộng quân nhiều gấp bội, có chiến xa và đại bác đủ loại, mà không cần biết đến Ban Mê Thuột đã thất thủ và đài BBC trong bản tin phát đi vào đêm 14 tháng 3/1975, đã loan tin Sư Đoàn 23 Bộ Binh bị xóa tên trong quân sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày 15 tháng 3/1975, một phi vụ yểm trợ tiếp liệu cuối cùng cho Trung Đoàn 53 đã không rơi đúng điểm ấn định mà lại rơi xuống khu vực Vườn Ương ở Hồ thực nghiệm.

Ngày 16 tháng 3/1975, Trung Đoàn 53 Bộ Binh hoàn toàn mất liên lạc với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2. Hết đạn dược và thuốc men, Trung Tá Trung Đoàn Trưởng Võ Ân đành phải ra lệnh rút khỏi phi trường Phụng Dực. Điểm liên lạc, tiếp vận duy nhất cho Ban Mê Thuột đã lọt vào tay Cộng quân. Nhưng Trung Tá Ân, đúng là người hùng của quân lực, và Trung Đoàn 53 Bộ Binh anh dũng là những người con yêu của Tổ Quốc, đã làm khiếp đảm quân thù, và đem vinh quang về cho một quân đội kiêu hùng của nền Cộng Hòa miền Nam.

Với lịch sử của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, và thực tế của mặt trận Ban Mê Thuột, nếu thị xã Ban Mê Thuột được Trung Đoàn 44 hoặc 45 Bộ Binh phòng thủ, thì cho dầu Cộng sản có quân số nhiều hơn vài ngàn người trong cuộc tấn công này, Ban Mê Thuột và 60 ngàn dân đã không rơi vào biển đêm của lịch sử dân tộc. Và Sư Đoàn 23 Bộ Binh vĩnh viễn sẽ là một đơn vị kiêu hùng của một Quân Lực kiêu hùng bất diệt.

Quân đoàn 2/Quân khu 2 Tiếp cứu Ban Mê Thuột:

Ban Mê Thuộc lọt vào tay CS, khởi đầu cho việc sụp đổ của Miến Nam Tự Do. Buổi sáng khi 2 trái bom 500 cân Anh của Không quân đánh sập một đầu hầm Trung tâm Hành quân của Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, một số sĩ quan trong bộ tham mưu đã thoát lên được. Đại tá Quang ra lịnh rút quân vọt ra khỏi hàng rào và hướng về phía Tây tức là “Suối Bà Hoàng” – cách BTL Sư đoàn 250m.

Cũng may mùa này là mùa khô nên suối cạn. Đáy suối lại thấp hơn mặt đất tới 15m nên rất dễ cho việc ẩn nấp. Anh em binh sĩ đi theo rất đông, chừng 100 người. Xa xa tiếng phát thanh tuyên truyền của địch quân gần Chùa của Tỉnh hội Phật giáo Ban Mê Thuột kêu gọi các binh sĩ ta đầu hàng. Cộng quân lúc này đầy khắp các ngả đường trong thị xã cùng với những đoàn xe tăng của chúng.

Sau cùng Đại tá Quang quyết định mọi người phải phân tán mỏng để tránh sư phát giác của địch quân. Đại tá Quang, Vị Tư lịnh chiến trường Ban Mê Thuột sẽ đi về hướng Nam, đến gần cầu khoảng cách 14 Km và tìm đường về Nha Trang. Còn Đại tá Nguyễn Trọng Luật cùng với Phó Tỉnh trưởng Hành chánh Nguyễn Ngọc Vỵ đi về hướng Tây, nhằm về khu cà phê của Trung tướng Hoàng và chờ trời tối sẽ bọc lên phía Bắc Ban Mê Thuột và từ đó tìm về Nha Trang. Riêng các binh sĩ thì phân tán mỏng và tìm cách trở về Nha Trang. Hy vọng lúc đó sẽ tập họp lại để tiếp tục chiến đấu..

Cũng thời gian này trên Quốc lộ 14, từ Đức Lập về Ban Mê Thuột, bộ Chỉ huy Hành quân nhẹ của Trung đoàn 53 Bộ binh cùng với một tiểu đoàn, được lệnh rút từ vùng hành quân phía Đông bắc quận Đức Lập về tiếp cứu Ban Mê Thuột, cũng bị Cộng quân phục kích chận đánh. Trung tá Trung đoàn Phó Trung đoàn 53 và hầu hết các sĩ quan đều bị tử trận hoặc bị địch bắt. Cánh quân này coi như bị tan rã trước khi tới được trận địa Ban Mê Thuột.

Đến xế trưa ngày 11 tháng 3, bên cạnh Đại tá Quang chỉ còn có người Thiếu úy, Sĩ quan Tùy viên và một người lính. Không thể đi tới được phi trường Phụng Dực và cũng không còn phương tiện truyền tin để liên lạc, ba người đã lẩn tránh trong một vườn cà phê mấy tiếng đồng hồ, đợi đêm tối nhắm hướng nam đi về phía Quảng Đức.

Khoảng 2 giờ sáng ngày 12 tháng 3, Đại Tá Quang và tùy tùng trốn khỏi Trung Tâm Hành Quân, đi được khoảng 6 cây số đường rừng, ngay khi vừa tới sát một làng Thương, thì bị Cộng quân nổ súng, xông ra vây bắt. Đại tá Quang vẫn còn mang cấp bậc trên cổ áo và xưng danh là Tư lệnh Phó Sư đoàn 23 Bộ binh, chúng đã trói lại, lột giầy và liệng xuống hố. Chừng một giờ sau, chúng được lệnh dẫn Đại tá Quang đi suốt đêm. Tới chiều hôm sau, ngày 13 tháng 3, được cởi trói, cho đi giầy vào và chở đi bằng xe Molotova sang Cam Bốt để khai thác.

Riêng cánh Đại Tá Nguyễn Trọng Luật khi chạy đến vườn cà phê của Trung tướng Thái Hoàng,tất cả cũng bị Cộng quân dàn quân chận bắt hết. Riêng Đại Tá Luật bị chúng bắt lên một xe thiết giáp chở đi mất.

Những cơ sở đầu não ở Ban Mê Thuột bị CS đánh chiếm trong hai ngày đầu. Mấy ngày sau Sài Gòn chưa nhìn nhận Ban Mê Thuột thất thủ vì chiến trận còn tiếp diễn ở Trung Đoàn 53 khu vực gần phi trường nằm phía ngoài thị xã.

Ngày 12 tháng 3/1975, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 tổ chức cuộc đổ quân tăng viện để tái chiếm Ban Mê Thuột. Lực lượng chính của cuộc phản công là Trung đoàn 45 Bộ binh (BB) và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 44 thuộc Sư đoàn 23 BB đang phòng ngự tại Pleiku. Về phía Không quân VNCH tham gia cuộc đổ quân, ngoài các phi đoàn của Sư đoàn 6 Không quân, BTL đặt tại Pleiku, còn có các phi đoàn trực thăng của Sư đoàn 1 Không quân (Đà Nẵng) và Sư đoàn 4 Không quân (Cần Thơ), với hơn 100 trực thăng đủ loại kể cả các loại Chinook.

-Theo lịch trình đổ quân, hai tiểu đoàn của Trung đoàn 45 BB và đại đội Trinh sát Sư đoàn 23 BB được trực thăng vận trước tiên. Tiếp đến, các Chinook móc theo các khẩu đại bác 105 thả xuống khu vực đổ quân của lực lượng đặc nhiệm tại quận lỵ Phước An.

-1 giờ 10 trưa ngày 12 tháng 3/1975, Thiếu tướng Phú từ bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 bay đến Ban Mê Thuột trên một chiếc phi cơ nhỏ để trực tiếp điều quân. Tới Ban Mê Thuột vào khoảng 2 giờ chiều, Tướng Phú đã liên lạc với đơn vị trưởng của các đơn vị đang chiến đấu ở quanh Ban Mê Thuột như Trung đoàn 53 BB ở phi trường Phụng Dực, Liên đoàn 21 Biệt Động Quân, các tiểu đoàn Địa phương quân Darlac. Cùng đi theo cánh quân cứu viện còn có Đại tá Trịnh Tiếu, Trưởng phòng 2 Quân đoàn 2, được Tướng Phú chỉ định giữ chức vụ Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Darlac thay thế Đại tá Nguyễn Trọng Luật được ghi nhận là mất tích. Cùng đi theo Đại tá Tiếu, còn có bộ chỉ huy lưu động của Tiểu khu Darlac vừa thành lập.

Tuy nhiên, sự phản công và kế hoạch giải vây của quân ta đã không hữu hiệu, các Trung Đoàn 44 và 45 được đổ xuống Phước An dùng làm bàn đạp để tiến về thành phố Bàn Mê Thuột. Nhưng Phước An vào lúc đó trở thành một trung tâm tản cư của những người dân chạy thoát ra từ Ban Mê Thuộc. Ở đây nhiều binh sỉ gặp lại gia đình tự động lẫn vào đám đông bỏ ngũ. Một số các binh sỉ khác tự động rời hàng ngũ đi tìm thân nhân mất tích. Một đạo quân giải vây trong tình trạng như thế chắc chắn không thể hoạt động được. Bốn ngày sau, SĐF10 của CS tiến chiếm Phước An. Hy vọng giải vây BMT bị tan vỡ .

Chiều ngày 12 tháng 3/1975, cùng lúc tấn chiếm tại chiến trường Ban Mê Thuột, thì tại Pleiku,Cộng quân cũng đã pháo kích bằng hỏa tiễn vào phi trường quân sự Cù Hanh và bộ Tư lệnh Quân đoàn 2.

Trưa ngày 14 tháng 3, 1975, trong khi Sư đoàn 23 BB đang khai triển các cánh quân để tiến về giải cứu Ban Mê Thuột, thì tại Cam Ranh, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên, Trung tướng Đặng Văn Quang, phụ tá An ninh Quân sự của Tổng thống, đã họp mật với Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2-Quân khu 2.Tại cuộc họp kéo dài gần 2 giờ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho Thiếu tướng Phạm Văn Phú triệt thoái toàn bộ lực lượng của Quân đoàn 2/Quân khu 2 khỏi Cao nguyên, di chuyển về các tỉnh duyên hải miền Trung thuộc lãnh thổ Quân khu 2.

Thay lời kết:

Cộng quân tung vào trận địa tấn công Ban Mê Thuột 3 sư đoàn chủ lực, toàn bộ lực lượng vào khoảng 30 ngàn người, gấp 7 lần lực lượng trú phòng (khoảng 4000). Chủ lực quân VNCH chỉ có hai tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 53 còn lại là Địa Phương Quân, Sảnh Sát, lực lượng đã quá chênh lệch địch lại đánh bất ngờ , thì chúng phải dành chắc phần thắng trong tay. Sự thất thủ của Ban Mê Thuột là chuyện đương nhiên; dù biết trước phòng thủ cũng vẫn thua. Nhưng nếu biết trước và tăng cường yểm trợ để gây tổn thất nặng nề cho địch thì có thể giảm bớt áp lực địch tại các mặt trận khác hy vọng không đưa tới tình trạng hốt hoảng hỗn loạn dây chuyền đưa tới sụp đổ tan tành mau chóng.

Tuy nhiên sự sai lầm của Tướng Phú chỉ là phương diện chiến thuật, Ban Mê Thuột mất vì tại Quân khu 2 không đủ lực lượng chống lại áp lực địch gồm 5 Sư đoàn chủ lực cộng thêm 15 Trung Đoàn biệt lập và cơ giới, lại thêm những lệnh lạc bất thường thiếu nghiên cứu của Tổng thống Thiệu và các tướng lãnh cao cấp QL.VNCH đã sai lầm về lãnh đạo chiến lược./.

Trận Sân bay Phụng Dực, Ban Mê Thuột  tháng 3-1975 khúc quanh lịch sử VNCH.

Phạm Huấn

Một đơn vị của Sư Đoàn 23 Bộ Binh phối hợp với Kỵ Binh lên đường tiếp cứu Ban Mê thuột thì được lệnh rút lui, Darlac tháng 3-1975.

4 giờ sáng ngày 10 tháng 3, 1975.

Sau những trận mưa pháo suốt 2 tiếng đồng hồ, Cộng quân với chiến xa và biển người, tấn chiếm Ban Mê Thuột. Và với một lực lượng đông gấp 10 lần, địch đã làm chủ tình hình ngay từ phút đầu.

Sự chống trả mảnh liệt của những đơn vị phòng vệ thị xã cùng với sự yểm trợ hữu hiệu gan dạ của các phi công anh hùng, đã chặn bớt được sức tiến của quân thù.

Nhưng ngày hôm sau, khi Cộng sản Bắc Việt tung thêm Sư đoàn tổng trừ bị 316 mới ở miền Bắc vào, thì lực lương hai bên giữa ta và địch quá ư chênh lệch, cả về quân số, chiến xa lẫn vũ khí nặng!

12 giờ trưa ngày 10 tháng 3, 1975 tiểu khu Ban Mê Thuột mất!

8 giờ sáng hôm sau 11 tháng 3, 1975, 10 chiến xa T54 của Cộng sản Bắc Việt bắn trực xạ vào bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh. Vị Tư lệnh chiến trường chấp nhận rủi ro, nguy hiểm, yêu cầu Không quân đánh bom thẳng vào những xe tăng địch. Những phản lực cơ A37 lao xuống. Ba chiếc T54 bốc cháy, nhưng rồi 2 trái bom khác rơi trúng sập một đầu hầm của Trung tâm Hành quân Sư đoàn 23 Bộ binh. Hệ thống truyền tin giữa Ban Mê Thuột-Pleiku bị hư hại hoàn toàn, mất liên lạc với Tư lệnh Chiến trương và Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột từ đó.

8 giờ sáng ngày 11 tháng 3, 1975, giờ phút của định mệnh, và cũng là khởi đầu ngày thứ hai trong trận đánh quyết định giữa hai miền Nam-Bắc 1975. Chiến trường Ban Mê Thuột coi như kết thúc với sự tràn ngập của Bắc quân.

Nhưng tại phi trường Phụng Dực, cách Ban Mê Thuột khoảng 8 cây số về phía đông, một trung đoàn (-) của Sư đoàn 23, với 2 Tiểu đoàn của Trung đoàn 53 Bộ binh, một Chi đoàn Thiết vận xa M113, một Pháo đội đại bác 105 ly vẫn tiếp tục chiến đấu thêm một tuần lễ nữa. Chiến đấu dũng mãnh, dai dẳng, phi thường cho đến những người lính cuối cùng và những viên đạn cuối cùng được bắn đi!

Đó là một huyền thoại trong một cuộc chiến đấu chống Cộng thần thánh nhất của quân dân miền Nam Việt Nam. Đó cũng là biểu tượng tinh thần gang thép, sắt đá của người chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trận thử sức dò dẫm của 2 trung đoàn Cộng sản Bắc Việt và các lực lượng phòng thủ mặt trận phi trường Phụng Dực đầu tiên xảy ra lúc 14 giờ trưa ngày 10 tháng 3, 1975, với kết quả địch bỏ lại chiến trường trên 200 xác chết!

Nhưng chưa đầy một ngày sau, 5 giờ sáng 11 tháng 3, 1975 khi những chiến xa T54 Bắc Việt nghiền nát những đường phố Ban Mê Thuột, tiến thẳng vào bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, cũng là lúc địch quân rửa hận cho đồng bọn chúng tại mặt trận phi trường Phụng Dực.

Sư đoàn 316 tổng trừ bị của Cộng sản Bắc Việt lần đầu tiên được sử dụng trên Chiến trường Cao nguyên và miền Nam Việt Nam. Từ xa lộ đất Hồ Chí Minh, sư đoàn này bất chấp mọi thiệt hại, di chuyển ngày đêm để tới trận địa đêm 10 tháng 3, 1975. Và ngay sáng hôm sau, dốc toàn lực lượng tấn công Trung đoàn 53 Bộ binh.

45 phút khởi đầu là những cơn mưa đạn đại bác khiến chiến sĩ ta chìm ngập trong giao thông hào. Sau đó, Bắc quân với những tên lính trẻ xuất trận lần đầu, hung hăng, hò hét … xung phong. Từng lớp, từng lớp gục xuống, nhưng chúng vẫn hô, vẫn tiến.

Trận thư hùng thứ hai ngày 11 tháng 3, 1975 này kéo dài 2 giờ 40 phút. Gần 200 người anh hùng của chiến trường miền núi vĩnh viễn buông súng, ở lại Cao nguyên Việt Nam!

Nhưng những người còn lại vẫn tiếp tục chiến đấu. Chiến đấu không yểm trợ, không tiếp tế, không tản thương, không tăm gội, 24 giờ trên 24 giờ ngoài chiến hào phòng thủ!

Quá nửa lực lượng bị thiệt hại từ khi ở mặt trận Quảng Đức rút về. Trung đoàn 53 Bộ binh hiện còn hơn một tiểu đoàn với khoảng 500 tay súng. Và họ đã chiến đấu đơn độc sang ngày thứ ba 12 tháng 3, ngày thứ tư 13 tháng 3, ngày thứ năm 14 tháng 3, ngày thứ sáu 15 tháng 3, ngày thứ bảy 16 tháng 3. Và hôm nay, ngày thứ tám 17 thang 3, 1975!

Thật anh hùng! Thật vĩ đại! Thật phi thường! Không còn từ ngữ nào khác hơn để ca ngợi, vinh danh họ. Và đó cũng là một huyền thoại độc đáo nhất của chiến tranh Viêt Nam trong trận đánh sau cùng trên Chiến trường Cao nguyên!

Bay trên đầu những người anh hùng của mặt trận phi trường Phụng Dực trưa ngày 12 tháng 3, 1975, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Chiến trường Cao nguyên đã nói chuyện với 2 người quân nhân lớn nhất và nhỏ nhất của Trung đoàn 53 Bộ binh.

“Người anh hùng Võ Ân”, Trung tá Trung đoàn trưởng:

– Trình Mặt Trời, lực lượng địch quá mạnh. (Mặt Trời là danh hiệu ngày hôm nay của Tướng Phú, Tư lệnh Quân đoàn II).

– Chú mày chịu nổi không? Tinh thần anh em ra sao?

– Bị sứt mẻ kha khá ngày hôm qua, nhưng chưa sao. Mặt Trời yên tâm!

– Chú mày muốn gì đặc biệt không?

– Dạ không! Nhưng sao Mặt Trời không bay trực thăng hôm nay?

– Tại qua muốn ở chơi với chú mày và những anh em khác lâu lâu một chút. Mà tại sao chú mày hỏi như vậy?

– Tại vì tôi muốn Mặt Trời đáp xuống coi kho vũ khí Việt cộng ở phòng danh dự phi cảng cho anh em lên tinh thần.

Tướng Phú cười:

– Ý kiến hay đấy! Thôi … để lần sau vậy!

– …

“Người anh hùng Nguyễn Văn Bảy”, Binh nhì xạ thủ súng cối 81 ly:

– Em tên gì? Bao nhiêu tuổi?

– Dạ … Binh nhì Nguyễn Văn Bảy, 18 tuổi!

– Em thấy Việt cộng chết nhiều không?

– Nhiều, nhiều lắm … Thiếu tướng!

– Em muốn xin Thiếu tướng gì nào?

– xin thuốc hút và … lựu đạn.

– Gì nữa?

– Thôi!

– Thiếu tướng thăng cấp cho em lên Binh nhất! Chịu không?

– …

Một giọng cười khúc khích trong máy:

– Ông Thầy! Ông Tướng tặng tôi cái “cánh gà” chiên bơ!

– Không được … tao phản đối!

– …

Cái “cánh gà”, chữ V, là hình dáng của chiếc lon Binh Nhất. Ông Thầy là tiếng gọi thân mật vị Trung tá Trung đoàn trưởng mà người “Binh Nhất vừa được tân thăng” Nguyễn Văn Bảy thường hay sử dụng.

Mẫu đối thoại trên cho thấy tình chiến hữu, anh em của những người lính Trung đoàn 53 Bộ binh. Đó cũng là một cách để chứng minh, tại sao trong những ngày cuối cùng họ vẫn sống chết bên nhau? Họ đã chia nhau từng viên đạn, từng dúm gạo sấy, từng hớp nước, từng hơi thuốc …

Theo thời gian, 7 ngày đêm chiến đấu dài hơn 7 năm tại mặt trận phi trường Phụng Dực. Đã ba ngày rồi, từ khi lệnh triệt thoái cao nguyên được ban hành, Trung đoàn 53 không còn nhận được bất cứ một tiếp tế, liên lạc nào với Quân đoàn. Họ đã phải sử dụng cả súng đạn tịch thu được của quân thù trong trận đánh đầu tiên, để bắn lại chúng!

Nhưng hôm nay, ngày 17 tháng 3, 1975 là ngày dài nhất trong cuộc đời lính chiến của họ!

7 giờ 40 phút sáng, khi rừng núi cao nguyên vẫn còn ngủ yên với những lớp sương mù phủ kín, hàng trăm hàng ngàn viện đại bác Bắc quân nã vào những chiến hào của Trung đoàn 53 Bộ binh. Cỏ cây rạp xuống. Những cột đất đỏ từng cụm, từng khóm tung cao!

Trận địa pháo kéo dài một tiếng đồng hồ. Tiếp theo sau là tiếng loa kêu gọi đầu hàng. Tiếng hò reo “sóng vỡ” của biển người. Và rồi tiếng gầm thét của hàng đoàn chiến xa T54 trên khắp ngả tiến vào, cầy nát phi đạo phi trường Phụng Dực Ban Mê Thuột!

Hôm nay là ngày đầu của cuộc rút quân của Quân đoàn II. Sư đoàn 316 Cộng sản Bắc Việt quyết khai tử Trung đoàn 53 Bộ binh, quyết nhổ đi “cái gai” cuối cùng của mặt trận Ban Mê Thuột, của Chiến trường Cao nguyên để tiến về duyên hải.

8 giờ 30 sáng, Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, vị Tướng lớn nhất của Quân đội gọi yêu cầu được tường trình đặc biệt về mặt trận phi trường Phụng Dực và các chiến sĩ Trung đoàn 53 Bộ binh.

Đây cũng là một vinh dự, một hãnh diện cuối cùng dành cho những dũng sĩ tại mặt trận này! Nhưng Đại tướng Viên chỉ được báo cáo qua nguồn tin không chính xác (!) của bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 hành quân ở Phước An: Trung đoàn 53 Bộ binh đang bị đánh rất nặng, Bắc quân đã tràn ngập vị trí phòng thủ!

Đạn hết, lương thực hết, không còn cấp chỉ huy, không còn được yểm trợ, không còn máy móc liên lạc để … kêu cứu. Những chiến sĩ Trung đoàn 53 Bộ binh gục ngã từng người, từng tổ, từng … tiểu đội … trong những chiến hào …

11 giờ 30 sáng, tiếng súng im bặt. Bắc quân cắm ngọn cờ đỏ trên đài kiểm soát của phi trường Phụng Dực, và thu dọn chiến trường.

Không có tù binh, không có cả những người lính bị thương. Những dũng sĩ Trung đoàn 53 Bộ binh không còn chiến đấu nữa. Họ đã tan ra, đã nát ra … từng mảnh vụn, và lẫn trong đất đỏ của miền cao nguyên hùng vĩ!

Ngày 17 tháng 3, 1975 Trung đoàn 53 Bộ binh bị Bắc quân xóa tên. Đó cũng là một ngày đau buồn! Lần đầu tiên trong 21 năm chiến đấu chống cộng, giữ nước, bộ Tư lệnh Quân đoàn II triệt thoái khỏi cao nguyên!

Nhưng không, đó vẫn chưa phải là những dòng chữ cuối cùng viết về các dũng sĩ Trung đoàn 53 Bộ binh! Bởi vì … vẫn còn những anh hùng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa mang phù hiệu của Trung đoàn 53 … trên vai áo.

Hai ngày sau, khi Bắc quân tràn ngập phi trường Phụng Dực, Ban Mê Thuột, một nhóm 16 quân nhân của đơn vị này đã về được Phước An và tiếp tục chiến đấu tại mặt trận Quốc lộ 21.

Một tuần lễ sau nữa, ngày 24 tháng 3, 1975 ba người anh hùng khác, sau 7 ngày 7 đêm, đi trên mấy chục cây số đường rừng núi, sống với cỏ cây thiên nhiên, từ Ban Mê Thuột đã lên tới buôn Thượng Dam Rong, Đà Lạt!

Họ là những quân nhân bất tử của Trung đoàn 53 Bộ binh! Họ thật vĩ đại, thật phi thường! Và đó cũng là một huyền thoại của chiến tranh Việt Nam trong trận chiến Nam-Bắc sau cùng 1975.

Phạm Huấn

SOURCE:

https://www.baoquocdan.org/2026/03/tran-chien-co-thu-phi-truong-phung-duc.html

 

Friday, February 20, 2026

Tác giả PHẠM SƠN LIÊM & Những bài viết về MẬU THÂN HUẾ

 

Main Link của Fb Phạm Sơn Liêm:

https://www.facebook.com/liem.pham.806140

 

Lời tựa

Huế, Tết Mậu Thân 1968.

Một thành phố bình yên bỗng hóa thành nấm mồ.

Máu đỏ hòa với tro, tiếng súng hòa với tiếng la hét, tiếng trẻ con khóc ré lên, tiếng người già gào thét rồi im bặt.

Những chữ viết sau đây không phải là truyện, không phải tưởng tượng.

Đó là hồ sơ thảm sát, tường thuật từng giờ, từng phút, từng con người.

Ông Minh, bà Hạnh, ông Nam, bà Liên, ông Phúc, bà Thảo – mỗi cái tên, mỗi gia đình, từng nhịp tim, từng hơi thở đều trở thành ký ức đóng băng, để lại nỗi kinh hoàng không thể xóa nhòa.

Đọc từng dòng, từng chữ, bạn sẽ nghe thấy tiếng Huế im lặng, nghe thấy tiếng bước chân lính, tiếng xẻng chạm xương, mùi máu và tro ám vào quần áo, ám vào tóc, ám vào tim.

Đọc từng dòng, từng chữ, bạn sẽ cảm nhận một Tết chưa bao giờ trở lại, một thành phố không còn Tết, chỉ còn tang thương và thảm kịch.

Hãy mở lòng, để từng chữ cắn vào tim, để từng nhịp đập nhớ về Huế Mậu Thân, nơi máu và nỗi đau khốn cùng đã ghi dấu vĩnh viễn.

Huế Tết Mậu Thân 1968 Thành phố nấm mồ

30 Tết

Báo hiệu địa ngục

Huế, mùa Xuân năm 1968, không có mùi trầm hương hay vị bánh tét của những ngày đoàn viên. Thay vào đó, thành phố chìm trong một mùi hương kinh khiếp: mùi tử khí trộn lẫn với bùn lầy và nước mưa phùn lạnh ngắt.

Phố Phủ Cam còn treo lồng đèn đỏ, bánh chưng chưa gói xong, pháo còn im lìm trong hộp.

Trẻ con chạy ra đường, nhưng mẹ la: “Tránh xa, im lặng!”

Những bóng người lạ, tay cầm súng, đi qua từng nhà.

Ông Minh nghe tiếng sột soạt trong bếp, bước ra thì thấy tủ bị lật, bát đĩa vỡ, những món đồ Tết còn nguyên trôi lăn trên nền gạch.

Người dân nhìn nhau, tim nặng trĩu, chưa ai biết Tết này sẽ biến thành thảm kịch.

Giao thừa

Đêm máu trộn pháo

Khi màn đêm Mùng Một Tết buông xuống, những tiếng gõ cửa vang lên dồn dập. Đó không phải là tiếng gõ cửa của người thân đến xông đất, mà là khởi đầu cho một cuộc hành trình không có ngày về. Những trí thức, những công chức, và cả những người dân lành vô tội bị dẫn đi khi bát cơm cúng tổ tiên vẫn còn nghi ngút khói trên bàn thờ.

Họ bị trói chặt vào nhau bằng dây điện, bằng kẽm gai, nối thành những hàng dài dặc dờ đi vào cõi chết. Người đi không biết mình đi đâu, người ở lại chỉ biết ôm nhau khóc thầm trong bóng tối, cầu nguyện cho một phép màu mà sau này họ mới biết là không bao giờ đến.

Đêm 30 Tết, bà Hạnh chuẩn bị mâm cúng, cơm canh còn nóng, trái cây còn thơm.

Tiếng súng nổ gần đầu ngõ, lửa bùng lên từ nhà hàng xóm.

Bà ôm đứa cháu nhỏ, chạy ra đường, thấy xác người nằm ngổn ngang.

Mâm cúng vẫn nguyên, nhưng phủ đầy tro và máu.

Tiếng khóc trẻ con hòa với tiếng la hét người lớn.

Giao thừa Huế năm đó không còn tiếng chúc tụng, chỉ còn tiếng chết chóc.

Mùng 1

Sự tàn sát lạnh lùng

Ông Nam và vợ đứng trước cửa, bị kéo đi trước mắt hai con nhỏ.

Hàng xóm nghe tiếng rên la, rồi im bặt.

Những bức tường đổ máu, những bức ảnh Tết rơi xuống nền nhà dính máu.

Họ chiếm từng ngõ, bắn từng người chống lại.

Phố xá thơ mộng trở thành nấm mồ, từng căn nhà, từng phòng trống trơn, tiếng súng vang rền rĩ.

Mùng 2

Hố chôn tập thể

Bà Liên chứng kiến hố chôn tập thể sau nhà, hàng chục xác nằm chồng lên nhau.

Trẻ con, già, trai gái, tất cả không còn phân biệt.

Máu khô loang trên đất, dính vào tay người sống sót.

Bà Liên tìm con giữa đống xác, không thấy.

Người sống sót đi lẩn trong bóng tối, tim đập từng nhịp như bị đóng đinh.

Tiếng xẻng chạm vào xương vẫn vang trong tai, không thể quên.

Mùng 3

Huế tan hoang

Những căn nhà còn sót lại bị cướp phá, bát đĩa cuối cùng bị lấy đi.

Trẻ con không khóc, chỉ đứng nhìn xác người thân với đôi mắt trống rỗng.

Các gia đình mất nhau: cha mẹ mất con, vợ mất chồng, không mộ, không nhang khói.

Phố xá rộn rã một thời giờ chỉ còn bóng ma, khói lửa, máu và im lặng.

Mùng 4

Huế là bóng ma

Người sống ẩn trong góc tối, nghe tiếng bước chân lính, nghe tiếng xẻng chạm xương.

Bà Hạnh nằm trong căn gác nhỏ, nhớ tiếng con khóc, tiếng chồng la thét.

Bát đũa dính máu, áo quần phủ bụi tro.

Người sống sót đi qua phố, tim đập nặng trĩu, từng nhịp là ký ức đóng băng.

Huế không còn Tết, chỉ còn xác chết chưa chôn, hố chôn tập thể nham nhở, nỗi kinh hoàng ám vào mắt những ai còn sống.

Hậu Tết

Ký ức không thể rửa sạch

Huế sau Tết như thành phố của nỗi đau.

Bóng người đi qua phố xưa, chỉ nghe tiếng gió rít qua mái ngói vỡ.

Mùi máu và tro vẫn ám vào quần áo, tóc, tâm trí.

Từng gia đình, từng người, từng đứa trẻ, từng bà mẹ, từng ông bố, tất cả thành ký ức đóng băng.

Từng chữ, từng câu, vẫn cắn vào tim người còn nhớ Huế Tết Mậu Thân 1968.

Người sống mang theo nỗi kinh hoàng suốt đời, Huế trở thành thành phố nấm mồ của một Tết chưa bao giờ trở lại.

Tết Mậu Thân ,mùa xuân máu, đã khắc sâu vào tâm hồn người Huế một nỗi đau không tên, một ký ức mà thời gian không thể xóa nhòa. Hàng nghìn gia đình như gia đình ở Huế, vẫn đang sống với những mất mát ấy, với những người thân không bao giờ trở về, với những câu hỏi không lời giải đáp.

Và mỗi độ xuân về, họ lại thắp hương, lại khóc, lại thổn thức.

Phạm Sơn Liêm

.

Mậu Thân và

Thầy chùa Thiên Mụ

Ông là thầy chùa ở Thiên Mụ.

Không ai nhớ rõ pháp danh.

Người ta chỉ gọi ông là thầy, như gọi một cái bóng quen thuộc còn sót lại sau bão.

Tết Mậu Thân năm ấy, ông không trốn.

Ông cũng không chạy.

Ông chỉ khóa cổng chùa lại, thắp một nén nhang, rồi ngồi yên bên đại hồng chung, như thể tiếng chuông có thể che chở cho người ta khỏi ác mộng.

Nhưng chuông không cứu được ai.

Đêm xuống, Huế bị xé toạc.

Không phải bằng pháo, mà bằng tiếng gọi tên trong danh sách.

Những cái tên được đọc lên lạnh lùng, đều đặn, như tụng kinh, chỉ khác một điều: người được gọi thì không bao giờ trở lại.

Sáng hôm sau, người ta kéo đến chùa.

Không phải để lễ Phật.

Mà để hỏi thầy:

“Có thấy họ đi qua đây không?”

Thầy lắc đầu.

Không phải vì không biết.

Mà vì không dám nói.

Ông đã thấy.

Thấy họ đi ngang qua sân chùa, tay bị trói, đầu cúi thấp.

Có người còn quay lại nhìn tượng Phật lần cuối, ánh mắt ấy không cầu xin, chỉ ngỡ ngàng, như một đứa trẻ vừa hiểu ra rằng: à, thì ra mình sắp chết.

Sau Mậu Thân, chùa vẫn đứng đó.

Thiên Mụ vẫn cao.

Nhưng thầy thì già đi mấy chục tuổi chỉ trong vài tuần.

Từ đó, mỗi buổi sáng, thầy đều quét sân chùa thật lâu. Quét từng viên gạch. Quét như thể đang tìm thứ gì đó rơi mất.

Có người hỏi sao thầy quét hoài không mệt. Thầy đáp rất khẽ:

“Dính máu.”

Không ai hỏi thêm.

Có những đêm, thầy gõ chuông không đúng giờ.

Tiếng chuông vang lên lạc lõng, rơi vào sông Hương như tiếng thở dài.

Không phải để gọi Phật.

Mà để đếm người.

Một tiếng chuông cho một cái tên.

Một tiếng cho một khuôn mặt.

Một tiếng cho một gia đình không bao giờ còn đủ chỗ ngồi quanh mâm cơm Tết.

Chuông gõ đến khi tay run.

Chuông gõ đến khi nước mắt chảy xuống dây chuông mà thầy không hay.

Có lần, một đứa trẻ theo mẹ lên chùa hỏi thầy:

“Cha con đâu?”

Thầy nhìn đứa bé rất lâu.

Rồi đặt tay lên đầu nó.

Không nói được câu nào.

Bởi thầy biết.

Biết rất rõ.

Biết cả nơi chôn.

Biết cả cách chết.

Và từ giây phút ấy, thầy hiểu ra một điều còn đau hơn cái chết: có những người sống sót chỉ để mang ký ức đi hết đời.

Nhiều năm sau, người ta thấy thầy ngồi một mình trước tượng Phật, lưng còng xuống, mắt nhắm lại.

Họ tưởng thầy nhập định.

Nhưng không.

Thầy đang nghe lại.

Nghe tiếng bước chân trong đêm.

Nghe tiếng khóc bị bịt miệng.

Nghe tiếng đất lấp lên thân người còn ấm.

Chuông chùa Thiên Mụ vẫn ngân.

Nhưng từ Mậu Thân trở đi,

mỗi tiếng chuông đều có một linh hồn mắc kẹt bên trong.

Và thầy, là người duy nhất còn sống để nghe hết, mà không được phép quên.

Phạm Sơn Liêm

 XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP