Tác giả: Tố Quyên
Lời
Tác giả: Chân thành cảm tạ:
– Giáo sư Jay Veith và Tiến sĩ Nguyễn Đức Phương đã cung cấp bản đồ khu vực
M’Drak
– Các chiến hữu đã qua điện thoại hoặc điện thư tường thuật thêm nhiều chi tiết
quý báu để tôi có thể kể lại diễn biến tại M’Drak những ngày cuối tháng 3/75:
– Ngô Văn Xuân, Trung Đoàn Trưởng/Tr.Đ 44/SĐ23BB
– Nguyễn Văn Giang, Giám Đốc Không Trợ QĐ II
– Trần Đăng Khôi, LĐT/LĐ3ND
– Nguyễn Hữu Thành, cựu TĐT/TĐ6ND
– Trần Công Hạnh, TĐT/TĐ2ND
– Trần Tấn Hòa, TĐT/TĐ6ND
– Võ Trọng Em, TĐT/TĐ5ND
– Các SQ/TĐ5ND trong trận đánh tại đèo M’Drak: Trần Thanh Chương, Huỳnh Quang
Chiêu, Huỳnh Hữu Sanh, Hoàng Bá Hương, Huỳnh Hiệp, Lê Hữu Dư, Tô Thành, Hoàng
Đình Côi.
Xin Độc giả cùng tôi thắp một nén tâm hương tưởng niệm đến những anh em Nhảy Dù
và các Quân Binh Chủng khác đã hy sinh xương máu cho chính nghĩa Quốc Gia tại
đây.
Tố Quyên
LINK:
https://www.baoquocdan.org/2026/03/tran-chien-co-thu-phi-truong-phung-duc.html
TÌNH
HÌNH CHIẾN SỰ TRƯỚC LÚC GIAO TRANH:
Tiểu Đoàn 5 nhảy Dù trấn đóng khu vực Bắc đèo Hải Vân được nửa tháng thì vào
khoảng đầu tháng 1/1975, TĐ được lệnh vào tiếp nhận một khu vực hành quân của
LĐIIIND tại mặt trận Thường Đức thuộc quận Đại Lộc tỉnh Quảng Nam. Suốt thời
gian hơn 2 tháng trấn giữ các cao điểm của dãy núi Sơn Gà–Động Lâm, thuộc quận
Đại Lộc tỉnh Quảng Nam, TĐ5ND không có cuộc chạm địch nào đáng kể. Các cuộc tấn
công thăm dò của địch vào các vị trí phòng thủ cấp trung đội của TĐ đều bị đẩy
lui. Trong thời gian này, phần nhiều các trận đụng độ lớn đều xảy ra ở dưới
chân núi giữa địch với các TĐ2, 6, 7ND.
Ngày 10 tháng 3 năm 1975 tin tức từ BCH/LĐIIIND cho biết VC bắt đầu
tấn công thị xã Ban Mê Thuột (BMT) từ lúc 4 giờ sáng. BMT rơi vào tay địch khoảng
7 giờ tối cùng ngày.
Ngày hôm sau tin tức qua báo chí và các đài phát thanh Sài Gòn, BBC, VOA cho biết
Mặt trận B3 của Tướng Hoàng Minh Thảo đã sử dụng 4 Sư đoàn bộ binh (F10, 320,
316, và 968), cùng 1 Trung đoàn chiến xa, 2 Trung đoàn Pháo và 1 Trung đoàn Đặc
công để bất ngờ tấn công lực lượng trú phòng lúc đó chỉ gồm các quân nhân thuộc
hậu cứ các đơn vị thuộc SĐ23BB cùng các đơn vị Địa Phương Quân của BMT.
Thời gian này, Chuẩn tướng Lê Trung Tường TL/SĐ23BB cùng BTL/HQ đóng tại Hàm Rồng
nằm dọc QL14 ở phía Nam thị xã Pleiku khoảng 9km. Trung Đoàn 45 đang hành quân
khu vực đèo Tử Sĩ nằm giữa Buôn Hô và Hàm Rồng. Đèo này nằm cách BMT khoảng hơn
40km. Trung Đoàn 44 đóng tại căn cứ 801 ở Tây Bắc Pleiku khoảng 20km. Trung
đoàn 53 gồm 2 TĐ cơ hữu đóng tại phi trường Phụng Dực (phía Đông BMT khoảng
8km) bị VC tấn công từ lúc khởi đầu để ngăn chặn trung đoàn này tiếp cứu BMT.
Mấy ngày sau đó tin tức chiến sự quanh việc tái chiếm BMT đều không rõ ràng.
Ngoài SĐ23BB ở BMT, để có đủ lực lượng, có lẽ Bộ TTM phải điều động thêm các
đơn vị tổng trừ bị (Nhảy Dù, hay Thủy Quân Lục Chiến) hiện đang hành quân tại
khu vực Đà Nẵng và phía Bắc đèo Hải Vân hay các Liên Đoàn Biệt Động Quân của
các quân khu khác.
Ngày 15/3/1975: TĐ nhận công điện của LĐIIIND trong đó cho biết TĐ5ND sẽ
được 1 TĐ/TQLC trực thuộc LĐ369 TQLC thay thế khu vực trách nhiệm. Toàn bộ
LĐIIIND và các TĐ2, 5, và 6ND trực thuộc hành quân sẽ được hải vận về Sài Gòn
cùng TĐ7ND.
Ngày
16/3/1975: Việc thay quân bắt đầu từ khoảng 8 giờ sáng và hoàn
tất lúc 5 giờ chiều. Khi xuống đến chân núi tôi thấy 2 người bạn cùng khóa VBĐL
là Trung tá Nguyễn Xuân Phúc LĐT/LĐ369 TQLC và Trung tá Đỗ Hữu Tùng LĐP đang đứng
đợi. Thấy tôi, Phúc cười và nói:
– “Tụi nó đang đợi mày ở BMT đấy.”
Tôi cho Phúc và Tùng biết đơn vị tôi được lệnh về Sài Gòn. Nghe nói thế Phúc cười
và nói:
– “Sức voi mà về Sài Gòn giờ này. Thôi lên đó đi, tụi tao nghĩ có lẽ tương lai
gần cũng về húc ở đó. Thôi chúc mày may mắn.”
Từ biệt hai ông bạn vàng, tôi cho lệnh đơn vị lên xe, và TĐ5ND được xa vận ra
quân cảng Đà Nẵng. Tại đây Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng TL/SĐND và Đại tá Văn Bá
Ninh TMT/SĐND ghé thăm TĐ. Tướng Lưỡng cho biết Bộ TTM lệnh cho SĐND lần lượt
triệt thoái về Sài Gòn. Trong câu chuyện ông không đả động gì đến việc SĐND sẽ
tham dự phản công tái chiếm BMT.
Khoảng nửa đêm thì 2 Dương vận hạm LST [1] 404 và 504 chở toàn
bộ LĐIIIND/HQ cùng TĐ7ND rời quân cảng Đà Nẵng và trực chỉ Sài Gòn. LST–404 của
Hải Quân Trung tá Nguyễn Văn Lộc chở các TĐ2, 5 và 6ND cùng ĐĐ3 Trinh Sát. Chiếc
LST–504 của Hải Quân Trung tá Nguyễn Như Phú chở BCH/LĐIIIND, các ĐĐ Công Vụ,
Công Binh, Truyền Tin ND và TĐ3/PBND.
Ngày 17/3/1975 & 18/3/1975: Toàn bộ LĐIIIND/HQ hải hành từ quân cảng
Đà Nẵng xuôi Nam trên 2 LST–404 và LST–504. Thành phần tiền trạm của các đơn vị
sẽ do P4/SĐND đảm trách phương tiện về Sài Gòn sau.
Ngày 19/3/1975: Khoảng 3 giờ sáng, Trung tá Lộc Hạm Trưởng LST–404 cho
xem 1 công điện của BTL/HQ trong đó cho lệnh LST–404 đổ “hàng” xuống Nha Trang
rồi quay trở lại Đà Nẵng. Vì tôi là SQND thâm niên nhất trên tầu nên sau khi đọc
xong công điện tôi nói với Trung tá Lộc là ông cứ việc đổ “hàng” theo lệnh. Ông
Lộc cười và nói:
– “Hàng là các đơn vị ND đấy”.
Hơi bất ngờ tôi trả lời là sẽ liên lạc với Trung tá LĐT/LĐIIIND Lê Văn Phát về
việc này. Sau khi dùng ám danh đàm thoại qua hệ thống truyền tin trên DVH–404
nói chuyện với Trung tá Phát lúc đó đang lênh đênh trên chiếc LST–504, tôi được
biết toàn bộ LĐIIIND hành quân sẽ đổ quân lên Nha Trang và đặt thuộc quyền của
QĐII. Riêng TĐ7ND tiếp tục được hải vận về Sài Gòn.
Khoảng 5 giờ sáng, LST–404 cập bến Cầu Đá Nha Trang, bãi biển lúc đó vắng tanh.
Khi thấy lính ND tụ tập dài trên bãi biển, dân chúng Nha Trang bắt đầu kháo
nhau và kéo đến đông nghịt. Khoảng 6 giờ, Đại tá Lý Bá Phẩm, Tỉnh Trưởng Khánh
Hòa, đi trên 1 chiếc xe jeep nệm trắng chạy tới. Tôi chào ông và nói chúng tôi
còn chờ BCH/LĐ.
Khoảng 7 giờ thì chiếc LST–504 tới. Trung tá Phát cùng các TĐT/ND lên xe trực
chỉ BTL/QĐII lúc đó tạm trú tại khách sạn Grand Hotel nằm trên đường Duy Tân
nhìn thẳng ra bãi biển Nha Trang. Tại đây tôi gặp Trung tá Không Quân Nguyễn
Văn Giang, là Giám Đốc Không Trợ của QĐII, một người bạn học CVA cũ. Anh Giang
cho biết là QĐ đã được lệnh bỏ Pleiku và Kontum. Các đơn vị của QĐII sẽ rút về
đây và tái phối trí lại dọc theo các tỉnh miền duyên hải. Đang nói chuyện thì
Thiếu tướng Phạm Văn Phú TL/QĐII đến.
Vóc người dong dỏng với nét mặt thư sinh, người ĐĐT/ĐĐ54 của TĐ5ND tại mặt trận
Điện Biên Phủ ngày nào hôm nay có vẻ mệt mỏi và ưu tư. Sau khi nói chuyện với
Trung tá Phát ông quay sang các TĐT/ND và nói:
– “Các anh rán chận chúng ở Khánh Dương cho tôi rồi mình sẽ tính sau.”
Thấy huy hiệu TĐ5ND trên vai áo tôi, ông vui vẻ bắt tay tôi và nói,
– “Có thằng TĐ5ND ở đây là tôi phần nào yên tâm rồi.”
Tôi chỉ cười và không trả lời vì biết rằng trong trận mạc muốn làm chủ được chiến
trường, một đơn vị thiện chiến ngoài yếu tố tinh thần còn phải hội đủ được nhiều
yếu tố chiến lược và chiến thuật khác.
Trước khi rời BTL/QĐII/HQ, tôi gặp riêng anh Nguyễn Văn Giang để tìm biết thêm
về tình hình của QĐ. Khi tôi hỏi về tình hình các đơn vị của QĐ triệt thoái về
đến đâu rồi thì Trung tá Giang, nét mặt đanh lại trả lời:
– “Còn đang kẹt tại Phú Bổn. Chưa biết về được nguyên vẹn không?”
Thấy thế tôi cũng không hỏi thêm. Khi tôi bắt tay anh để xuống thang lầu về họp
với BCH/LĐIIIND, Giang siết tay tôi thật chặt và nói:
– “Cứ lên Khánh Dương đi. Tao còn ở đây thì sẽ dồn hết hỏa lực không trợ cho
mày.”
Rời BTL/QĐII/HQ trở về với đơn vị, Trung tá Phát họp các TĐT tại bãi biển để phổ
biến kế hoạch di chuyển. Sau đó khoảng 10 giờ sáng toàn bộ LĐIIIND trực chỉ Dục
Mỹ trên đoàn quân xa khá dài. Đoàn xe theo yêu cầu của Tỉnh Trưởng Khánh Hòa đã
chạy một vòng qua các phố chính của thành phố Nha Trang trước khi theo QL1 để
đi Ninh Hòa. Dân chúng hai bên đường vừa chỉ trỏ vừa vẫy tay khiến đa số anh em
ND đều thấy ấm lòng qua sự tin tưởng của dân chúng. Từ Ninh Hòa, đoàn xe rẽ
trái theo QL21 để đi Dục Mỹ. Sinh hoạt của dân chúng ở đây có vẻ như chưa dao động
sau tin BMT thất thủ.
LĐIIIND tạm đóng quân tại phía Nam đèo Phượng Hoàng [2] lúc 3
giờ chiều. Trung tá Phát sau đó họp các đơn vị trưởng và ban lệnh hành quân.
Sau buổi họp, tôi lấy xe chạy vào TTHL/BĐQ Dục Mỹ gặp Đại tá Nguyễn Văn Đại
CHT/Trung Tâm và Trung tá Nguyễn Thế Phồn, Trưởng Phòng 4, để xin thêm một số cấp
số đạn dược.
TÓM LƯỢC LỆNH HÀNH QUÂN:
TÌNH HÌNH:
Địch: Lực lượng địch do Tướng Vũ Lăng chỉ huy gồm:
– SĐ F10: Tư lệnh là Thượng tá Hồ Đệ. F10 gồm 3 trung đoàn:
– Trung đoàn 24 của Thiếu tá Phùng Bá Thường,
– Trung đoàn 28 của Thiếu tá Nguyễn Đức Cẩm,
– Trung đoàn 66 của Thiếu tá Nguyễn Đình Kiệp.
– Trung đoàn 25/320 của Thiếu tá Lộ Khắc Tâm (SĐ 320 của Thượng tá Nguyễn Kim
Tuấn),
– Trung đoàn 273 chiến xa của Thiếu tá Lê Mai Ngọ,
–
Trung đoàn 40 Pháo của Thiếu tá Nguyễn Hữu Vinh,
– Trung đoàn 198 Đặc công của Thiếu tá Trần Kình.
Theo tin tức mới nhất của Phòng 2/QĐII thì sau khi chiếm được Ban Mê Thuột địch
dự trù để SĐ 316 trấn giữ và tổ chức củng cố phòng ngự BMT nhằm ngăn chặn các
cuộc phản công của VNCH. Sau khi tái tổ chức chúng sẽ tiếp tục sử dụng SĐ F10
làm nỗ lực chính được tăng cường thêm Trung đoàn 25 của SĐ 320 để tiếp tục tiến
chiếm Nha Trang. Cùng phối hợp tác chiến với F10 là các đơn vị chiến xa, Đặc
công và Pháo nói trên nhằm chọc thủng các tuyến ngăn chặn của các đơn vị VNCH
trên trục tiến quân chính của chúng là QL21.
Bạn:
1. BTL/SĐ23BB/HQ gồm Trung đoàn 44(–) của Trung tá Ngô Văn Xuân và
Trung đoàn 45 của Đại tá Phùng Văn Quang, tại gần đồi Chư Cúc (226–167) thuộc
quận Phước An. Chư Cúc ở khoảng 22km Đông Bắc BMT.
2. Liên Đoàn 21 BĐQ, LĐT là Trung tá Lê Quý Dậu, ở khu vực phía Đông thị
xã BMT và phía Nam Buôn Hô.
3. Một TĐ của Trung đoàn 40/SĐ22BB đóng tại Chư Cúc (phía Đông BMT
khoảng 42km) cùng với 2 TĐ/ĐPQ thiện chiến của thị xã Phan Rang, còn Trung đoàn
40 (–) do Trung tá/Trung đoàn trưởng Nguyễn Thành Danh trừ bị tại phía
sau. [2TĐ/ĐPQ Phan Rang trực thuộc BCH nhẹ của Trung tá Nguyễn Công Ba,
TKP Ninh Thuận gồm TĐ 250 Thần Ưng của Thiếu tá Trần Văn Kia trấn giữ đồi 519
(ngay sát QL21 và cách quận lỵ Khánh Dương 18km), và TĐ 231 Thần Hổ của Thiếu
tá Nguyễn Duy Hoàng nằm giữa quận lỵ Khánh Dương và đồi 519.]
4. Hai TĐ/ĐPQ thuộc Liên Đoàn 922 ĐPQ thuộc Tiểu Khu Khánh Hòa đảm
trách các cầu cống trên phần QL21 thuộc TK/Khánh Hòa.
5. Tăng phái: Chi Đoàn 2/Thiết Đoàn 19 của Đại úy Nguyễn Xá gồm 22 chiếc
M–113 được tăng phái cho LĐIIIND.
6. Không yểm: SĐ6 Không Quân tại Phan Rang trực tiếp yểm trợ không hỏa lực
cũng như tản thương.
KHU VỰC HÀNH QUÂN:
Đèo M’Drak là khúc đường trên Quốc Lộ 21 [QL21] dài khoảng 28km, đầu
đèo cách BMT 96km. Đoạn đường đầu đèo dài 4km này nằm giữa hai dãy núi khá cao,
vách núi dựng đứng. Phía Bắc con đường là các triền của chòm núi Chư Kroa với đỉnh
cao 958m, phía Nam con đường là các triền của các núi nhỏ hơn mà đỉnh cao nhất
là 609m.
Từ đỉnh đèo có thể quan sát thấy được sân bay nhỏ nằm ở phía Đông Nam quận
Khánh Dương. Về phía Tây Bắc đỉnh đèo khoảng 2km là Tỉnh Lộ 98 đi qua nhiều
buôn làng trước khi tới Củng Sơn, Tuy Hòa. Sau đoạn đầu đèo chạy theo hướng
Đông Tây khoảng hơn 2km thì con đường rẽ quặt 90 độ về Nam rồi tiếp tục uốn lượn
giữa những triền đồi cao nằm hai bên đường theo hướng Nam–Đông Nam cho tới chân
đèo. Chân đèo hay đèo Phượng Hoàng nằm kẹp giữa các vách dựng đứng của dãy Chư
Giung (677m) nằm phía Đông Bắc và dãy Chư Bli (993m) nằm ở phía Tây Nam. Chân
đèo cũng là ranh giới trên QL21 giữa quận Khánh Dương và quận Ninh Hòa.
Các
triền đồi ở hai bên đường phần lớn là dựng đứng trên đó là những khu rừng nhiệt
đới gồm các cây cao rậm rạp và những lùm bụi nhỏ xen lẫn cỏ tranh. Khoảng 10
cây cầu xi–măng nằm trên các đoạn có các sông suối nhỏ chảy ngang qua đường. Mặt
đường trải đá và tráng nhựa và lưu thông được hai chiều tuy bề mặt đường hơi nhỏ.
Cư dân trong khu vực này là người dân Ê–Đê sống tập trung trong các buôn làng ở
gần hai bên đường. Đông nhất là tại buôn Ea Thi có khoảng trên 500 người. Người
dân ở đây hiền lành chất phác và sinh sống bằng nghề làm rẫy, săn thú và tiểu
thủ công nghệ. Một số gia nhập Địa Phương Quân và Nghĩa Quân, đảm nhiệm canh giữ
mấy cây cầu trên đèo M’Drak.






