Tuesday, March 9, 2021

Cao Xuân Huy – Tháng ba gãy súng


ĐỌC SÁCH:

https://anhbasam.files.wordpress.com/2016/03/thang-ba-gay-sung.pdf

 .

(E-book: Nguyễn Kim Vỹ)

https://drive.google.com/file/d/0ByqKm2GRUdumVGxnMFhyRnBMZXM/view



Cao Xuân Huy (14/07/1947 – 12/11/2010)

 

“Ông Cao Xuân Huy, tác giả cuốn hồi ký ‘Tháng Ba Gãy Súng,’ qua đời chiều Thứ Sáu 12 tháng 11, 2010, sau một thời gian bạo bệnh, tại tư gia ở Lake Forest, California.”
“Tại hải ngoại, ông Cao Xuân Huy từng cộng tác với báo Người Việt trong nhiều năm, cũng như với tuần báo Việt Tide. Ông nhiều lần làm tổng thư ký tạp chí Văn Học và chủ biên tạp chí này.”
“Tuy hoạt động rất nhiều với văn chương, ông ít khi tự nhận mình là nhà văn. Trong bài tựa cuốn hồi ký ‘Tháng Ba Gãy Súng,’ ông viết, ‘Tôi không phải là một nhà văn, mà tôi chỉ là một người lính, lính tác chiến đúng nghĩa của danh từ, và những điều tôi viết trong quyển sách này chỉ là một câu chuyện, câu chuyện thật một trăm phần trăm được kể lại bằng chữ.”
…….
“Ông Cao Xuân Huy sinh năm 1947 tại Bắc Ninh, Việt Nam. 

Ông đi lính năm 1968, là cựu Trung Úy Đại Đội Phó ĐĐ 4 thuộc Tiểu Đoàn 4 Thủy quân lục chiến. 

Tại mặt trận Quảng Trị vào tháng 3, 1975, ông bị bắt làm tù binh và bị cầm tù 5 năm.” 

Năm 1982 ông vượt biên và đến Mỹ năm sau đó. 

Năm 1985, ông in cuốn hồi ký ‘Tháng Ba Gãy Súng.’ 

Bốn tháng trước khi qua đời, ông Cao Xuân Huy ra mắt cuốn ‘Vài mẩu chuyện,” do tạp chí Văn Học xuất bản.
“Trong cáo phó, gia đình ông Cao Xuân Huy viết, ‘Mọi phúng điếu, nếu có, sẽ dành trọn để yểm trợ: Quỹ Thương binh Thủy Quân Lục Chiến VNCH, và Trại Trẻ em Cô nhi, Khiếm Thị Long Thành, Việt Nam...”

SOURCE:

https://vietbao.com/a287465/s-t-t-d-tuong-nang-tien-cao-xuan-huy-chuyen-thang-ba-gay-sung

 

 PART 1:


 PART 2:

 

Cao Xuân Huy và chuyện tháng ba gẫy súng

Tác giả: Tưởng Năng Tiến ​

Diễn đọc: Anh Nguyễn Kim Bình


 .

Sunday, March 7, 2021

ĐOẠN ĐƯỜNG CHIẾN BINH - Tùy bút Phan Ni Tấn

 


Tặng quí vị cựu SVSQ Thủ Đức

Sau trận Mậu Thân 1968, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã ban hành một sắc luật Quân Sự áp dụng vào học đường, trong đó Sinh Viên các trường Đại Học Sài Gòn phải tham dự một khóa huấn luyện quân sự tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung trong vòng một tháng.

Năm 1970, tôi và các anh em phân khoa Đại Học khác theo chân những khóa trước bắt đầu làm quen với súng ống và ngữi mùi quần áo nhà binh. Ngay từ ngày đầu bước chân vào quân trường tôi có cảm tưởng như bị thảy vào một thế giới không có... tình thương. Những hàng cây bã đậu xù xì, gai góc mọc dọc hai bên đường càng tăng thêm vẻ khô khan, lạnh lùng, thiếu sinh khí. Cũng may, mỗi chiều thứ sáu chúng tôi được về phép rong chơi cho tới xế chiều chủ nhật mới lọt tọt bưng đầu vô.

Trong khóa học này, đặc biệt có hai nhạc sĩ nổi tiếng qua những bài ca đấu tranh thịnh hành trong giới sinh viên học sinh thời đó, là nhạc sĩ Trương Quốc Khánh (bài Tự Nguyện) và nhạc sĩ Trần Long Ẩn (Không Ai Ngăn Nổi Lời Ca). Nhạc sĩ đi tới đâu, cây đàn đi tới đó. Nhạc sĩ với cây đàn mà! Thực vậy, sau tuần lễ đầu tiên về phép trở vô là khu trại Sinh Viên đã nghe tưng tửng âm thanh quen thuộc, giản dị, thân thiết của cây đàn guitar rồi. Từ đó, sau những buổi cơm chiều, trời vừa chạng vạng tối, Sinh Viên có máu văn nghệ thường rũ nhau xuống Hội trường Ban Quân nhạc tụ tập đờn ca xướng hát cho nhau nghe. Tôi còn nhớ một hôm tại nhà ngủ tập thể, có một anh cùng phòng, dáng người tầm thước, hơi mập, tự xưng là Hoàng Quốc Bảo đưa tôi coi một tập nhạc nói là của ông anh Hoàng Khai Nhan sáng tác. Cầm tập nhạc vuông vức trong tay, tôi chậm rải lật từng trang mà thầm công nhận sự nắn nót công phu của người đã tạo ra nó. Đáng tiếc đã hơn 30 năm qua tôi không còn nhớ tập nhạc tên gì. Hoàng Quốc Bảo lúc đó chưa có tác phẩm, nhưng Hoàng Khai Nhan thì tôi có thoáng nghe danh về thơ. Sau này ra hải ngoại tôi mới có dịp thưởng thức những bản nhạc thoát tục trong tuyển tập Tịnh Tâm Khúc của Hoàng Quốc Bảo. Nói về Thiền Ca, tôi cho rằng không ai có thể vượt qua sức sáng tạo phong phú, chứa chan mùi Thiền như nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo. Ngoài ra, phần hòa âm theo phương thức tân cổ điển vô cùng xuất sắc cũng góp phần tạo cho hồn nhạc thấm sâu vào lòng người và đọng lại rất lâu.

Cũng nhờ cái vụ hát hò này mà một buổi sáng trước ngày mãn khoá, thay vì vác súng ra bãi như thường lệ, thì nhóm Sinh viên Văn nghệ chúng tôi lại chỉnh tề trong bộ quần áo kaki màu vàng, đội mũ kalo cùng màu hăng hái vác đàn về Sài Gòn... đi Show, trình diễn văn nghệ tại đài Truyền Hình Việt Nam.

Cuối cùng, một tháng quân trường rồi cũng qua mau. Sau lễ mãn khóa, tất cả những Khóa Sinh (kể cả những thành phần lè phè, bất mãn) đều cầm trong tay mảnh bằng tốt nghiệp khoá Quân Sự Học Đường 1970 trở về trường tiếp tục dùi mài kinh sử.

Học hết một năm Đại Học Khoa Học Sài Gòn, ngành SPCN (Scient, Physic, Chemistry, Natural), qua năm thứ hai tự nhiên tôi đâm ra... ngu ngu. Cũng vì cái “ngu ngu” này mà từ trên Đại Học tôi rớt xuống, thành lính biên thùy trấn núi sông.

Tháng Tư năm 1971 nhờ mảnh bằng Quân Sự Học Đường, khi nhập ngũ tôi cứ việc đi thẳng vào trường Bộ Binh Thủ Đức mà không cần phải trải qua 3 tháng huấn luyện căn bản quân sự tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung như nhiều Tân Khoá Sinh khác. Tuy nhiên, trước đó tôi phải vào Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ tại Quang Trung làm thủ tục hồ sơ nhập ngũ, khám sức khỏe, lãnh quân trang, quân dụng xong mới vào Thủ Đức.

Ngay từ khi bước chân vào trường Bộ Binh Thủ Đức, Tân Khoá Sinh chúng tôi đã được các huynh trưởng đón tiếp một cách hết sức tận tình. Để khởi sự làm quen với đời lính, bài học quân sự đầu tiên của bọn đàn em chúng tôi là theo lệnh huynh trưởng chạy ba vòng Vũ đình trường gọi là “dàn chào Tân Khóa Sinh”:

Mới vòng đầu Vũ đình trường

Mà bao nhiêu đứa chán chường hẳn ra

Thằng thì mày váng, mắt hoa

Thằng thì như bóng ma gà, hết linh

Thực vậy, mới chạy vòng đầu đã có vài ba tên té xỉu. Chạy hết vòng thứ ba, một trăm chỉ còn vài chục, tuy còn đứng vững nhưng tưởng thở hết ra hơi. Đã vậy đám huynh trường nào tha! Những tiếng quát tháo, nạt nộ, hò hét, chạy lùa đầu này, xua đầu kia, xẹt đầu nọ như cố tình cướp tinh thần bọn đàn em ngơ ngác chúng tôi khiến cho bao nhiêu mộng lớn, mộng nhỏ mới cách đây vài tiếng đồng hồ vẫn còn xanh mướt, đã tan tành theo mây khói.

Cán bộ mặt mũi lầm lì

Còn đám huynh trưởng thôi thì hung hăng

Quát tháo vào mặt từng thằng

Chưa chi mộng lớn nó giằng mất tiêu

Chuyện đời ma cũ hiếp ma mới là việc thường tình. Huynh trưởng có bổn phận phải hướng dẫn đàn em đến nơi đến chốn; đàn em có lỗi bị phạt hít đất, thụt dầu, nhảy xổm hay phạt dã chiến... cũng là lệnh cán bộ đưa xuống cho huynh trưởng thi hành mà thôi. Luật quân trường mà! Ở lâu dần dà mới thấy:

Thật ra huynh trưởng hiền khô

Còn cán bộ, toàn những... đồ mắt ma

Để coi, trẻ cũng như già

Ngày đầu đụng mặt, ngó qua ghét liền

Nói ghét Cán Bộ là nói cho nó có vẻ “thơ” một chút, chớ sau khi mãn khóa ra trường tôi mới thực sự kính trọng quý vị Sĩ Quan Cán Bộ (nói chung) và Đại Đội 21 (nói riêng) đã nỗ lực hướng dẫn và huấn luyện SVSQ chúng tôi trở thành những Sĩ Quan xuất sắc (và không xuất sắc, như tôi) trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Sau khi phân chia quân số, tôi thuộc Tiểu Đoàn 1, Đại Đội 21, Trung Đội 1, Tiểu Đội 1 (toàn là số 1). Tiểu Đoàn 1 do thiếu tá Nguyễn Như Sơn làm Tiểu Đoàn Trưởng. Nay không biết rõ tình cảnh ra sao? . Đại Đội 21 đặt dưới quyền chỉ huy của Sĩ Quan Cán Bộ Đại đội trưởng Trung úy Huỳnh Trung Hiếu (hiện ở Houston, Texas) và hai Sĩ Quan Trung đội trưởng là Trung úy Nguyễn Hữu Thọ (sau 75 bị VC liệng lựu đạn chết trong tù cải tạo) và Thiếu úy Nguyễn Văn Bé (hiện còn ở VN); còn hai SQCB nữa, đáng tiếc, tôi không nhớ tên.

Ngày đầu tiên ở Đại Đội là ngày xuống tóc. Những chiếc tông-đơ tàn nhẫn dọc ngang rào rạt trên đầu không thương tiếc. Những ước mơ xanh ngát, những hoài vọng ngất trơì bám trên những sợi tóc xanh giật mình rụng lả tả xuống nền xi-măng, nằm ngơ ngác, lạc lỏng trên mặt đất, hoặc vương vải tội tình trên tấm khăn trắng choàng quanh cổ. Rồi những khoa bản, trí thức cho tới những anh sinh viên, học sinh đều đi tắm truồng ở nhà tắm tập thể cuối doanh trại. Rồi được chích thuốc chống nắng mưa cảm mạo đất trời. Rồi những bộ đồ lính màu cứt ngựa rộng thùng thình tương vào người, chiếc nón nhựa đội lên đầu để thực sự trở thành anh lính mới tò te.

Để phân biệt các khoá học đàn anh với đàn em, Khóa Sinh phải đeo bản tên của mình trên túi áo. Như khóa 24 mang bản tên nền đen chữ vàng, khóa 7/68 mang nền trắng chữ đỏ, khóa Sĩ Quan Đặc Biệt 6/69 mang nền đen chữ đỏ; còn khóa tôi, 1/71 thì nền xanh dương chữ trắng v.v...

Mang tâm trạng thư sinh đang tự do phơi phới ngoài đời mà đặt chân vào quân trường thì bất cứ hình ảnh nào trước mắt, ngó qua cũng thấy lạ, thấy khó chịu, thấy nhớ nhà, thấy rầu muốn chết.

Trại lính, tuyến, giao thông hào

Nhà thương, bệnh xá, hàng rào, băng ca

Vũng nước, lùm cỏ, bụi hoa

Những ngày đầu mới ngó qua, sầu liền

Cái gì chớ sức khỏe con người, nhất là Tân Khóa Sinh chúng tôi, thể dục thể thao là công việc hàng đầu khi trời vừa rạng. Có câu lâu ngày chuyện gì rồi cũng quen, vậy mà những buổi sớm đầu tiên ở quân trường nghe cán bộ thổi còi tu-huýt dựng dậy ra sân tập thể dục quả là... khủng khiếp. Trời Sài Gòn hay Thủ Đức, ngày đêm gì lúc nào cũng nóng chảy mỡ. Nhưng đó là chuyện dưới mái nhà. Thử ngủ một đêm trên cây, hay trong thùng xe nước mía, hay dưới gầm cầu Chữ Y, hay nhà ga xe lửa vân vân, như người viết đã từng, mới thấy cái lạnh nửa đêm về sáng của trời Sài Gòn năm 1979 nó buốt tận xương lạnh tận tủy ra sao.

Sáng sớm trời lạnh cắt da

Nghe còi dựng dậy ùa ra xếp hàng

Tập chạy, nhảy, tập bò càng

Không nở bề dọc cũng nở ngang thân hình

Đó là chuyện tinh sương. Ban đêm, trước khi đi ngủ Cán bộ thông báo là sẽ có một cuộc thực tập báo động giả để mọi người chuẩn bị tinh thần. Biết trước vậy mà đến hồi nghe còi báo động rúc lên hù hụ vào lúc nửa đêm tôi cứ tưởng như ai đang hớp hồn mình, phát sợ ngang.

Vừa nhào xuống giao thông hào

Một thằng chết tiệt nhảy ào trên lưng

Lãnh nguyên hai cái gót chân

Nghe một tiếng “hự” tưởng chừng hộc cơm

Trường Bộ Binh Thủ Đức có bốn tuyến A, B, C, D, suốt khóa học chúng tôi đã gác đủ cả bốn. Tuyến A ở mặt tiền, cổng chính. Tuyến B giáp với nghĩa địa và nhà dân xa xa. Tuyến C thuộc khu Thiếp Giáp. Tuyến D hướng ra bãi tập. Gác bất cứ tuyến nào vào lúc nửa đêm thanh vắng chung quanh không một bóng người, ngoài những ngôi mộ đá ong hoang phế và đám lau già tóc trắng quặt quại trong gió, dưới trăng, hay trong cơn mưa tôi đều nhớ tới hai câu thơ về non Kỳ và bến Phì trong Chinh Phụ Ngâm:

Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo

Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò

Rồi tôi cảm nhận hết nỗi cô độc tận cùng giữa đất trời tịch lặng, mênh mông.

Đêm hôm ra gác tuyến A

Nghe trong khuya khoắc tiếng gà vẳng đưa

Mưa rơi rắc hạt lưa thưa

Đời mình nước dột nên chưa hết buồn

Trong 6 tuần huấn nhục, Tân Khóa Sinh phải học đi, đứng, nghiêm, nghỉ, dặm chân tại chỗ, học chào tay, học hát... Học quay trái, quay phải làm sao cho đúng 90 độ. Học đằng sau quay 180 độ sao cho khỏi xiểng niểng, đằng trước bước phải bắt đầu bằng chân trái, tay đánh nhịp cho cao. Rồi còn phải tập đánh giày thật bóng, xếp drap, xếp mền thật kỹ, tủ quần áo thật ngăn nắp vân vân. Trong thời gian này, nhiều huynh trưởng có đầu óc khôi hài thường bày ra kiểu phạt rất độc đáo, như phạt đàn em chạy đi xin chữ ký của 300 người trong vòng 15 phút. Có chạy xì khói, chạy bỡ hơi tai, chạy phờ...râu cũng chẳng ma nào thỏa mãn nỗi cơn ác ý của bậc đàn anh chỉ vì lỡ bước trật nhịp như tôi.

Nó la đằng trước bước đều

Mình bước trật nhịp, nó khều mình ra

Khít hàm, rít giọng thiết tha:

“Chạy xin chữ ký của ba trăm người...”

Cũng trong 6 tuần huấn nhục, trừ khi đi bãi, Tân Khoá Sinh ngày hai buổi chỉ được phép ăn cơm nhà bàn chớ không được ăn tiệm như các vị huynh trưởng. Vô nhà bàn phải giữ im lặng, chờ huynh trưởng hô to nghiêm thì rán ưởng ngực lên mà đứng im. Khi nghe hô ngồi phải đáp thật to xuống. Nghe mời đàn em ăn cơm phải đáp lớn mời huynh trưởng ăn cơm, xong các thủ tục nhà binh mới được ăn. Khẩu phần ăn quanh đi quẩn lại cũng mấy món canh, đồ xào, cá hoặc thịt hộp. Hôm nào nhát thấy trong tô canh có một chú sâu đo xanh lè, hay chú trùng mềm oặt thì cứ coi như hôm đó ta có thêm... chất đạm. Đã là con nhà binh khi ăn phải ăn cho lẹ, lua cho nhanh. Lờ quờ, chậm chạp chỉ có nước đói.

Gắp thật lẹ, lùa thật mau

Ăn không kịp nghỉ, nuốt không cần chờ

Thằng nào lẹ, thằng đó nhờ

Thằng nào chậm chạp đói mờ người ra

Lại cũng trong thời kỳ này, Tân Khóa Sinh không được phép đi, mà phải cầm súng xeo xéo trước ngực vừa chạy vừa hát. Quân trường đổ mồ hôi. Chiến trường bớt đổ máu... Mỗi lần hai Đại đội đi ngược chiều, nhất là sau giờ cơm ra đụng mặt nhau là cứ y như gà tức nhau tiếng gáy, cả hai đội đều gân cổ hát với tinh thần ganh đua cao độ.

Đại Đội bạn đi ngược chiều

Chúng gân cổ hát thiếu điều bức gân

Phe mình thấy vậy nỗi sân

Quyết chẳng kém, cũng rướn gân cổ gào

Tôi còn nhớ hồi mới lóp ngóp vô quân trường, dù không soi gương cũng biết mặt mũi mình lúc nào cũng cứ như anh nhà quê. Hồi đó ngốc nghếch đến độ khi chẻ củi, thay vì dùng búa (làm gì có búa) thì tôi lại dùng... báng súng Garant M1, lấy sức giơ cao nện xuống sóng dao mà chẻ ngon lành. Vô phúc, tôi và thằng bạn chẻ củi bị huynh trưởng bắt gặp tại trận bèn đi một đường giáo dục tận lực rồi ghi tên tối đến phạt dã chiến.

Đúng 8 giờ tối, hai thằng tôi, thêm ba tên không biết bị tội gì, ba lô súng đạn đầy đủ ra tập họp trước sân đại đội chờ lệnh huynh trưởng. Sau khi điểm mặt xong, thay mặt cán bộ, hai tên huynh trưởng bắt đầu quần chúng tôi trong vòng một tiếng đồng hồ tả tơi không còn manh giáp. Trước hết là giơ súng lên khỏi đầu, vừa chạy ba vòng sân trại vừa la tôi-không-giống- ai, rồi tới hít đất, nhảy xổm, thụt dầu, cuối cùng là bò lê bò lết, bò ngửa bò càng, bò cho đúng cách từ đầu tới cuối sân trại rồi bò ngược lại. Vừa dứt màn phạt dã chiến để đời cũng vừa đủ để hai cùi chõ và hai đầu gối chúng tôi rướm máu hồng.

Ba lô, súng, đạn kềnh càng

Hết nhảy xổm lại bò càng giữa sân

Mình mẩy mình đau như dần

Mà đám huynh trưởng cứ quần ngất ngư

Hằng ngày, sau khi ăn sáng bằng bánh mì và chuối xứ, chúng tôi có hai địa điểm để đi học. Hoặc học tại Đại Giảng Đường (nhà tiền chế) hoặc tại bãi. Mỗi lần Đại đội đi học bãi thì có một Tiểu Đội Súng Nặng lên phiên nai lưng ra mà vác súng, đạn Đại liên 30, Chân ba càng, Súng chống tăng M72, Súng phóng lựu M79, Cối 81 ly gồm nồng súng, đạn cối và bàn tiếp hậu. Những thằng to xác còn kêu ca huống hồ mấy thằng ốm yếu, nhỏ con, vác vũ khí mà mặt nhăn như khỉ ăn ớt.

Thằng thì vác chân ba càng

Thằng vác đạn, thằng vác nồng trẹo vai

Một thằng nỗi cộc sủa dai:

“Mẹ. Đường ra bãi sáng nay dài quá cha !”

Đường ra bãi phải đi qua cổng số 9 ở tuyến D. Cách tuyến này khoảng 2 cây số là đồn Bến Nọc dựng sát bên cầu Bến Nọc. Cầu bằng gỗ không quá 10 thước bắt ngang qua con suối, tuy giản dị nhưng rất nổi tiếng vì có lần ban đêm Việt Cộng mò về gài mìn gây thương vong cho một số SVSQ khóa 25 của nhà thơ Thành Tôn và nhạc sĩ Vũ Thành An tại cầu này.

Cầu, xưa Việt Cộng gài mìn

Làm bao nhiêu mạng bỏ mình tại đây

Giờ nghe như gỗ than vay

Khóc hồn ai chảy máu day vết cầu

Cũng tại cầu này không biết từ hồi nào, tại sao lại xuất phát ra câu châm biếm “dân chơi cầu Bến Nọc”. Ý ám chỉ thứ dân chơi cù lần, keo kiệt, nhà quê..., như một cựu Sĩ quan Cán bộ trường BB Thủ Đức cho tôi biết.

Ngày học bãi đầu tiên, chúng tôi được trường cho xe GMC chở lên đồi Bác Sĩ Tín, lúc về thì đi bộ, sau đó là lết cho tới mãn khoá. Mà bãi học có gần gì cho cam, cách quân trường từ 5 tới 10 cây số đường chim bay hoặc hơn, như bãi Xa Lộ 5 Km, bãi Nhà Xập 7 Km, bãi Vườn Thơm ... Bài học đầu tiên ở bãi lội về mới thấy đường ơi sao mà dài vô tận !

Chiều về mới thấy đường dài

Thằng nào thắng nấy mệt nhoài người ra

Uớc gì có ly đá trà

Mình ực, mình xối, mình xoa mát người

Đã vậy chân lại chưa quen mang giày bố. Mới có chuyện.

Bãi xa lội bộ tơi bời

Cái chân mình muốn bức rời hẳn ra

Đôi giày cọ sức miếng da

Thành mọng nước đau thấy bà tổ luôn !

Đi bãi còn một cái đáng gờm nữa là nắng. Cái thứ nắng trưa hừng hực, nắng lăn quăn, nắng xiên khoai, nắng đổ mồ hôi, nắng sôi nước mắt. Làm gì có cây cao bóng mát mà núp – dẫu có cũng chẳng được phép – toàn là đất, cát, cỏ khô và bụi cây bùi nhùi. Có bữa chúng tôi ra bãi bắn học xử dụng súng nặng như Đại Liên M30, M72, súng Cối 80 ly, Đại Bác 105 ly không giựt và ném lựu đạn M26.

Những loại vũ khí hạng nặng ác ôn này hình như thứ nào tôi cũng xử dụng một cách rất ư là... bết bát. Thấy thằng bạn đứng thế thủ, kê khẩu M72 lên vai nhắm bắn xe tăng, biết là nó trúng rùa nhưng tôi vẫn bái phục, móc gói Bastos xanh chia cho nó một điếu.

Trưa hừng hực nắng lăn quăn

Ra bãi tập bắn xe tăng lật lìa

Bắn khu tử giác, bắn bia

Mà cứ tưởng bắn từng tia nắng thù

Rồi chín tuần huấn nhục (đáng lẽ là sáu) cũng chấp chới trôi qua. Có trải qua thời kỳ cam go này mới thắm thía hai chữ “huấn nhục”. Tôi nghe kể trước kia có một Tân Khóa Sinh bị một tên huynh trưởng “có máu lạnh” huấn nhục ( giáo huấn và lăng nhục) trong nhà cầu căng thẳng tới mức đứng tim, nghẹt thở mà chết. Từ đó, những loại “dạy dỗ” quá đáng, thiếu tính người đều bị hũy bỏ.

Chín tuần qua một cái vù

Thằng nào thằng nấy như tù được tha

Thằng thì ngồi thở hắt ra

Thằng thì sướng tít như là gặp tiên

Sau đó, Tân Khóa Sinh được làm lễ gắn Alpha tại Vũ đình trường, hãnh diện trở thành Sinh Viên Sĩ Quan trường Bộ Binh Trừ Bị Thủ Đức.

Hôm nay lễ gắn Alpha

Diện đồ tiểu lễ mình ra xếp hàng

Vũ đình trường nắng chang chang

Mà sao mình vẫn thấy man mác trời

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

TUỔI TRẺ CHÚNG TÔI - Phan Ni Tấn

Thiếu úy Phan Ni Tấn, 1970

 

Ngót nghét mới đó đã 38 năm ròng. Những người lính trẻ năm xưa không kịp sống cho hết cuộc chiến tranh tương tàn nay đã biến thành tro bụi; còn những người may mắn sống sót như chúng tôi cũng đã lần lượt về già.

Ngày xưa tuổi trẻ chúng tôi hồn xanh như ngọc, sức mạnh nằm trong lồng ngực nở nang và niềm tin bám chặc trên đôi cánh tay gân guốc. Ngày ấy tuổi trẻ vẫn thích nghịch ngợm, thích đùa cợt, thích được ngợi khen, vẫn biết giận dỗi, biết khích tướng và biết khóc cười. Ngày ấy chúng tôi như những tia nắng rực rỡ lao vào đời. Mà đời thì có muôn ngàn lối rẽ để đi. Ở đó có trường học và nhà tù, có nhà thương và nhà máy, có thành thị và nông thôn, có tôn giáo và chính trị, có tiền tài và bạo lực, có viên đạn và cuộn băng, có di sản văn hóa và có cả tâm linh... Ở đó, hàng ngày chúng tôi học được nhiều điều hữu ích, nhiều sự vật và sự thật rõ ràng hơn, mãnh liệt hơn, ít dám khinh xuất hơn. Nhất là cái chết không tầm thường chút nào. Chính những cái chết dù anh dũng cách mấy bao giờ cũng hết sức xót xa. Người ta nói những kỷ niệm đau buồn thường ngấm sâu tận đáy lòng và ở lại rất lâu với con người.  

Tuổi trẻ là tuổi dấn thân đi tìm lại chính mình. Và chiến trường là nơi đầy thách thức bản thân, là nỗi ám ảnh, là sự ngã xuống hay vươn lên trong cuộc sống còn. Tuổi trẻ chúng tôi đi vào cuộc chiến tranh tuy là một sự chọn lựa của số kiếp nhưng lại là bổn phận của một công dân yêu nước, là niềm tự hào của đời trai trong thời lửa đạn. Chết thì thành chiến sĩ vô danh, làm phân bón cho đất thêm mầu mỡ. Sống thì thể xác lẫn tinh thần mang đầy thương tích và hoài niệm.  Bài học làm người sau chiến tranh như ứa ra từ những trang lịch sử gây nên một cảm giác buồn thê thiết, có cái gì đó khiến cõi lòng vẫn âm ỉ, ray rứt một niềm cay đắng, xót xa, nó tích tụ ở đó lâu ngày chầy tháng thành một thứ kỷ niệm buồn.

Mới ngày nào tuổi trẻ chúng tôi như lá xanh đời, giờ đây đã nhăn nheo, tàn úa, lụm cụm, xiêu vẹo và khổ hạnh như những cành cây xương xẩu sẵn sàng chờ đợi và chịu đựng những ngày tháng không tên trước mắt.

Người chiến binh lúc về già sống chết cho ra con người hay không cũng là một kiếp số. Số kiếp làm ra con người chúng tôi, làm ra cuộc đời chúng tôi. Có nhiều người đã qua đời vì già yếu, bệnh tật, vì hậu quả thương tích của chiến tranh.  Những kẻ sống còn thì tản mát khắp đất nước, trong  thành phố, giữa xóm làng, hoặc lây lất tận những vùng đất hoang hay kinh rạch hẻo lánh đâu đó. Còn những "chiến sĩ vô danh" như chúng tôi sống một cuộc sống còn lại nơi quê người cũng là một kiếp số.

Nhưng mà cho dù tuổi xuân chúng tôi có qua đi, có hay không có em bên anh, có hay không còn những người thân bên cạnh, những đồng đội... thì dù ở đâu cái mảnh đất dưới chân mình vẫn âm ỉ cháy như miếng than hồng. Là vì mọi người như chúng ta vẫn còn một trái tim, một nỗi nhớ chung.

Ngày nay, những chiến binh già lây lất sống ngay trên quê hương mình vẫn tha thiết nhớ một quê hương tốt đẹp ngày xưa. Và chúng tôi, những chiến hữu về chiều vẫn đau đáu hướng về quê cha đất tổ như hướng về một người tình. Riêng cá nhân tôi, sau hơn 30 năm chưa trở lại quê nhà lần nào vẫn đau đáu nhìn về quê hương ngày xưa mà thèm nhớ, dầm dề nhớ, da diết nhớ, gợi nhớ nỗi nhà.

Rồi có lần sau cơn trằn trọc, trong giấc ngủ tôi mơ thấy một giấc mơ thật kỳ lạ: quê hương hóa thân thành cành sen trắng ngả mình vào tận chỗ tôi nằm.

PNT



 

 

Lịch sử Quốc Kỳ Việt Nam ( Anh ngữ) - VFC - The Soul of Vietnam

 


.