Tặng quí vị cựu SVSQ Thủ Đức
Sau trận Mậu Thân 1968, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu
đã ban hành một sắc luật Quân Sự áp dụng vào học đường, trong đó Sinh Viên các
trường Đại Học Sài Gòn phải tham dự một khóa huấn luyện quân sự tại Trung Tâm
Huấn Luyện Quang Trung trong vòng một tháng.
Năm 1970, tôi và các anh em phân khoa Đại Học khác
theo chân những khóa trước bắt đầu làm quen với súng ống và ngữi mùi quần áo
nhà binh. Ngay từ ngày đầu bước chân vào quân trường tôi có cảm tưởng như bị thảy
vào một thế giới không có... tình thương. Những hàng cây bã đậu xù xì, gai góc
mọc dọc hai bên đường càng tăng thêm vẻ khô khan, lạnh lùng, thiếu sinh khí.
Cũng may, mỗi chiều thứ sáu chúng tôi được về phép rong chơi cho tới xế chiều
chủ nhật mới lọt tọt bưng đầu vô.
Trong khóa học này, đặc biệt có hai nhạc sĩ nổi tiếng
qua những bài ca đấu tranh thịnh hành trong giới sinh viên học sinh thời đó, là
nhạc sĩ Trương Quốc Khánh (bài Tự Nguyện) và nhạc sĩ Trần Long Ẩn (Không Ai
Ngăn Nổi Lời Ca). Nhạc sĩ đi tới đâu, cây đàn đi tới đó. Nhạc sĩ với cây đàn
mà! Thực vậy, sau tuần lễ đầu tiên về phép trở vô là khu trại Sinh Viên đã nghe
tưng tửng âm thanh quen thuộc, giản dị, thân thiết của cây đàn guitar rồi. Từ
đó, sau những buổi cơm chiều, trời vừa chạng vạng tối, Sinh Viên có máu văn nghệ
thường rũ nhau xuống Hội trường Ban Quân nhạc tụ tập đờn ca xướng hát cho nhau
nghe. Tôi còn nhớ một hôm tại nhà ngủ tập thể, có một anh cùng phòng, dáng người
tầm thước, hơi mập, tự xưng là Hoàng Quốc Bảo đưa tôi coi một tập nhạc nói là của
ông anh Hoàng Khai Nhan sáng tác. Cầm tập nhạc vuông vức trong tay, tôi chậm rải
lật từng trang mà thầm công nhận sự nắn nót công phu của người đã tạo ra nó.
Đáng tiếc đã hơn 30 năm qua tôi không còn nhớ tập nhạc tên gì. Hoàng Quốc Bảo
lúc đó chưa có tác phẩm, nhưng Hoàng Khai Nhan thì tôi có thoáng nghe danh về
thơ. Sau này ra hải ngoại tôi mới có dịp thưởng thức những bản nhạc thoát tục
trong tuyển tập Tịnh Tâm Khúc của Hoàng Quốc Bảo. Nói về Thiền Ca, tôi cho rằng
không ai có thể vượt qua sức sáng tạo phong phú, chứa chan mùi Thiền như nhạc
sĩ Hoàng Quốc Bảo. Ngoài ra, phần hòa âm theo phương thức tân cổ điển vô cùng
xuất sắc cũng góp phần tạo cho hồn nhạc thấm sâu vào lòng người và đọng lại rất
lâu.
Cũng nhờ cái vụ hát hò này mà một buổi sáng trước
ngày mãn khoá, thay vì vác súng ra bãi như thường lệ, thì nhóm Sinh viên Văn
nghệ chúng tôi lại chỉnh tề trong bộ quần áo kaki màu vàng, đội mũ kalo cùng
màu hăng hái vác đàn về Sài Gòn... đi Show, trình diễn văn nghệ tại đài Truyền
Hình Việt Nam.
Cuối cùng, một tháng quân trường rồi cũng qua mau.
Sau lễ mãn khóa, tất cả những Khóa Sinh (kể cả những thành phần lè phè, bất
mãn) đều cầm trong tay mảnh bằng tốt nghiệp khoá Quân Sự Học Đường 1970 trở về
trường tiếp tục dùi mài kinh sử.
Học hết một năm Đại Học Khoa Học Sài Gòn, ngành
SPCN (Scient, Physic, Chemistry, Natural), qua năm thứ hai tự nhiên tôi đâm
ra... ngu ngu. Cũng vì cái “ngu ngu” này mà từ trên Đại Học tôi rớt xuống,
thành lính biên thùy trấn núi sông.
Tháng Tư năm 1971 nhờ mảnh bằng Quân Sự Học Đường,
khi nhập ngũ tôi cứ việc đi thẳng vào trường Bộ Binh Thủ Đức mà không cần phải
trải qua 3 tháng huấn luyện căn bản quân sự tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang
Trung như nhiều Tân Khoá Sinh khác. Tuy nhiên, trước đó tôi phải vào Trung Tâm
3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ tại Quang Trung làm thủ tục hồ sơ nhập ngũ, khám sức khỏe,
lãnh quân trang, quân dụng xong mới vào Thủ Đức.
Ngay từ khi bước chân vào trường Bộ Binh Thủ Đức,
Tân Khoá Sinh chúng tôi đã được các huynh trưởng đón tiếp một cách hết sức tận
tình. Để khởi sự làm quen với đời lính, bài học quân sự đầu tiên của bọn đàn em
chúng tôi là theo lệnh huynh trưởng chạy ba vòng Vũ đình trường gọi là “dàn
chào Tân Khóa Sinh”:
Mới vòng đầu Vũ đình trường
Mà bao nhiêu đứa chán chường hẳn ra
Thằng thì mày váng, mắt hoa
Thằng thì như bóng ma gà, hết linh
Thực vậy, mới chạy vòng đầu đã có vài ba tên té xỉu.
Chạy hết vòng thứ ba, một trăm chỉ còn vài chục, tuy còn đứng vững nhưng tưởng
thở hết ra hơi. Đã vậy đám huynh trường nào tha! Những tiếng quát tháo, nạt nộ,
hò hét, chạy lùa đầu này, xua đầu kia, xẹt đầu nọ như cố tình cướp tinh thần bọn
đàn em ngơ ngác chúng tôi khiến cho bao nhiêu mộng lớn, mộng nhỏ mới cách đây
vài tiếng đồng hồ vẫn còn xanh mướt, đã tan tành theo mây khói.
Cán bộ mặt mũi lầm lì
Còn đám huynh trưởng thôi thì hung hăng
Quát tháo vào mặt từng thằng
Chưa chi mộng lớn nó giằng mất tiêu
Chuyện đời ma cũ hiếp ma mới là việc thường tình.
Huynh trưởng có bổn phận phải hướng dẫn đàn em đến nơi đến chốn; đàn em có lỗi
bị phạt hít đất, thụt dầu, nhảy xổm hay phạt dã chiến... cũng là lệnh cán bộ
đưa xuống cho huynh trưởng thi hành mà thôi. Luật quân trường mà! Ở lâu dần dà
mới thấy:
Thật ra huynh trưởng hiền khô
Còn cán bộ, toàn những... đồ mắt ma
Để coi, trẻ cũng như già
Ngày đầu đụng mặt, ngó qua ghét liền
Nói ghét Cán Bộ là nói cho nó có vẻ “thơ” một chút,
chớ sau khi mãn khóa ra trường tôi mới thực sự kính trọng quý vị Sĩ Quan Cán Bộ
(nói chung) và Đại Đội 21 (nói riêng) đã nỗ lực hướng dẫn và huấn luyện SVSQ
chúng tôi trở thành những Sĩ Quan xuất sắc (và không xuất sắc, như tôi) trong
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Sau khi phân chia quân số, tôi thuộc Tiểu Đoàn 1,
Đại Đội 21, Trung Đội 1, Tiểu Đội 1 (toàn là số 1). Tiểu Đoàn 1 do thiếu tá
Nguyễn Như Sơn làm Tiểu Đoàn Trưởng. Nay không biết rõ tình cảnh ra sao? . Đại
Đội 21 đặt dưới quyền chỉ huy của Sĩ Quan Cán Bộ Đại đội trưởng Trung úy Huỳnh
Trung Hiếu (hiện ở Houston, Texas) và hai Sĩ Quan Trung đội trưởng là Trung úy
Nguyễn Hữu Thọ (sau 75 bị VC liệng lựu đạn chết trong tù cải tạo) và Thiếu úy
Nguyễn Văn Bé (hiện còn ở VN); còn hai SQCB nữa, đáng tiếc, tôi không nhớ tên.
Ngày đầu tiên ở Đại Đội là ngày xuống tóc. Những
chiếc tông-đơ tàn nhẫn dọc ngang rào rạt trên đầu không thương tiếc. Những ước
mơ xanh ngát, những hoài vọng ngất trơì bám trên những sợi tóc xanh giật mình rụng
lả tả xuống nền xi-măng, nằm ngơ ngác, lạc lỏng trên mặt đất, hoặc vương vải tội
tình trên tấm khăn trắng choàng quanh cổ. Rồi những khoa bản, trí thức cho tới
những anh sinh viên, học sinh đều đi tắm truồng ở nhà tắm tập thể cuối doanh trại.
Rồi được chích thuốc chống nắng mưa cảm mạo đất trời. Rồi những bộ đồ lính màu
cứt ngựa rộng thùng thình tương vào người, chiếc nón nhựa đội lên đầu để thực sự
trở thành anh lính mới tò te.
Để phân biệt các khoá học đàn anh với đàn em, Khóa
Sinh phải đeo bản tên của mình trên túi áo. Như khóa 24 mang bản tên nền đen chữ
vàng, khóa 7/68 mang nền trắng chữ đỏ, khóa Sĩ Quan Đặc Biệt 6/69 mang nền đen
chữ đỏ; còn khóa tôi, 1/71 thì nền xanh dương chữ trắng v.v...
Mang tâm trạng thư sinh đang tự do phơi phới ngoài
đời mà đặt chân vào quân trường thì bất cứ hình ảnh nào trước mắt, ngó qua cũng
thấy lạ, thấy khó chịu, thấy nhớ nhà, thấy rầu muốn chết.
Trại lính, tuyến, giao thông hào
Nhà thương, bệnh xá, hàng rào, băng ca
Vũng nước, lùm cỏ, bụi hoa
Những ngày đầu mới ngó qua, sầu liền
Cái gì chớ sức khỏe con người, nhất là Tân Khóa
Sinh chúng tôi, thể dục thể thao là công việc hàng đầu khi trời vừa rạng. Có
câu lâu ngày chuyện gì rồi cũng quen, vậy mà những buổi sớm đầu tiên ở quân trường
nghe cán bộ thổi còi tu-huýt dựng dậy ra sân tập thể dục quả là... khủng khiếp.
Trời Sài Gòn hay Thủ Đức, ngày đêm gì lúc nào cũng nóng chảy mỡ. Nhưng đó là
chuyện dưới mái nhà. Thử ngủ một đêm trên cây, hay trong thùng xe nước mía, hay
dưới gầm cầu Chữ Y, hay nhà ga xe lửa vân vân, như người viết đã từng, mới thấy
cái lạnh nửa đêm về sáng của trời Sài Gòn năm 1979 nó buốt tận xương lạnh tận tủy
ra sao.
Sáng sớm trời lạnh cắt da
Nghe còi dựng dậy ùa ra xếp hàng
Tập chạy, nhảy, tập bò càng
Không nở bề dọc cũng nở ngang thân hình
Đó là chuyện tinh sương. Ban đêm, trước khi đi ngủ
Cán bộ thông báo là sẽ có một cuộc thực tập báo động giả để mọi người chuẩn bị
tinh thần. Biết trước vậy mà đến hồi nghe còi báo động rúc lên hù hụ vào lúc nửa
đêm tôi cứ tưởng như ai đang hớp hồn mình, phát sợ ngang.
Vừa nhào xuống giao thông hào
Một thằng chết tiệt nhảy ào trên lưng
Lãnh nguyên hai cái gót chân
Nghe một tiếng “hự” tưởng chừng hộc cơm
Trường Bộ Binh Thủ Đức có bốn tuyến A, B, C, D, suốt
khóa học chúng tôi đã gác đủ cả bốn. Tuyến A ở mặt tiền, cổng chính. Tuyến B giáp
với nghĩa địa và nhà dân xa xa. Tuyến C thuộc khu Thiếp Giáp. Tuyến D hướng ra
bãi tập. Gác bất cứ tuyến nào vào lúc nửa đêm thanh vắng chung quanh không một
bóng người, ngoài những ngôi mộ đá ong hoang phế và đám lau già tóc trắng quặt
quại trong gió, dưới trăng, hay trong cơn mưa tôi đều nhớ tới hai câu thơ về
non Kỳ và bến Phì trong Chinh Phụ Ngâm:
Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo
Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò
Rồi tôi cảm nhận hết nỗi cô độc tận cùng giữa đất
trời tịch lặng, mênh mông.
Đêm hôm ra gác tuyến A
Nghe trong khuya khoắc tiếng gà vẳng đưa
Mưa rơi rắc hạt lưa thưa
Đời mình nước dột nên chưa hết buồn
Trong 6 tuần huấn nhục, Tân Khóa Sinh phải học đi,
đứng, nghiêm, nghỉ, dặm chân tại chỗ, học chào tay, học hát... Học quay trái,
quay phải làm sao cho đúng 90 độ. Học đằng sau quay 180 độ sao cho khỏi xiểng
niểng, đằng trước bước phải bắt đầu bằng chân trái, tay đánh nhịp cho cao. Rồi
còn phải tập đánh giày thật bóng, xếp drap, xếp mền thật kỹ, tủ quần áo thật
ngăn nắp vân vân. Trong thời gian này, nhiều huynh trưởng có đầu óc khôi hài
thường bày ra kiểu phạt rất độc đáo, như phạt đàn em chạy đi xin chữ ký của 300
người trong vòng 15 phút. Có chạy xì khói, chạy bỡ hơi tai, chạy phờ...râu cũng
chẳng ma nào thỏa mãn nỗi cơn ác ý của bậc đàn anh chỉ vì lỡ bước trật nhịp như
tôi.
Nó la đằng trước bước đều
Mình bước trật nhịp, nó khều mình ra
Khít hàm, rít giọng thiết tha:
“Chạy xin chữ ký của ba trăm người...”
Cũng trong 6 tuần huấn nhục, trừ khi đi bãi, Tân
Khoá Sinh ngày hai buổi chỉ được phép ăn cơm nhà bàn chớ không được ăn tiệm như
các vị huynh trưởng. Vô nhà bàn phải giữ im lặng, chờ huynh trưởng hô to nghiêm
thì rán ưởng ngực lên mà đứng im. Khi nghe hô ngồi phải đáp thật to xuống. Nghe
mời đàn em ăn cơm phải đáp lớn mời huynh trưởng ăn cơm, xong các thủ tục nhà
binh mới được ăn. Khẩu phần ăn quanh đi quẩn lại cũng mấy món canh, đồ xào, cá
hoặc thịt hộp. Hôm nào nhát thấy trong tô canh có một chú sâu đo xanh lè, hay
chú trùng mềm oặt thì cứ coi như hôm đó ta có thêm... chất đạm. Đã là con nhà
binh khi ăn phải ăn cho lẹ, lua cho nhanh. Lờ quờ, chậm chạp chỉ có nước đói.
Gắp thật lẹ, lùa thật mau
Ăn không kịp nghỉ, nuốt không cần chờ
Thằng nào lẹ, thằng đó nhờ
Thằng nào chậm chạp đói mờ người ra
Lại cũng trong thời kỳ này, Tân Khóa Sinh không được
phép đi, mà phải cầm súng xeo xéo trước ngực vừa chạy vừa hát. Quân trường đổ mồ
hôi. Chiến trường bớt đổ máu... Mỗi lần hai Đại đội đi ngược chiều, nhất là sau
giờ cơm ra đụng mặt nhau là cứ y như gà tức nhau tiếng gáy, cả hai đội đều gân
cổ hát với tinh thần ganh đua cao độ.
Đại Đội bạn đi ngược chiều
Chúng gân cổ hát thiếu điều bức gân
Phe mình thấy vậy nỗi sân
Quyết chẳng kém, cũng rướn gân cổ gào
Tôi còn nhớ hồi mới lóp ngóp vô quân trường, dù
không soi gương cũng biết mặt mũi mình lúc nào cũng cứ như anh nhà quê. Hồi đó
ngốc nghếch đến độ khi chẻ củi, thay vì dùng búa (làm gì có búa) thì tôi lại
dùng... báng súng Garant M1, lấy sức giơ cao nện xuống sóng dao mà chẻ ngon
lành. Vô phúc, tôi và thằng bạn chẻ củi bị huynh trưởng bắt gặp tại trận bèn đi
một đường giáo dục tận lực rồi ghi tên tối đến phạt dã chiến.
Đúng 8 giờ tối, hai thằng tôi, thêm ba tên không
biết bị tội gì, ba lô súng đạn đầy đủ ra tập họp trước sân đại đội chờ lệnh
huynh trưởng. Sau khi điểm mặt xong, thay mặt cán bộ, hai tên huynh trưởng bắt
đầu quần chúng tôi trong vòng một tiếng đồng hồ tả tơi không còn manh giáp. Trước
hết là giơ súng lên khỏi đầu, vừa chạy ba vòng sân trại vừa la tôi-không-giống-
ai, rồi tới hít đất, nhảy xổm, thụt dầu, cuối cùng là bò lê bò lết, bò ngửa bò
càng, bò cho đúng cách từ đầu tới cuối sân trại rồi bò ngược lại. Vừa dứt màn
phạt dã chiến để đời cũng vừa đủ để hai cùi chõ và hai đầu gối chúng tôi rướm
máu hồng.
Ba lô, súng, đạn kềnh càng
Hết nhảy xổm lại bò càng giữa sân
Mình mẩy mình đau như dần
Mà đám huynh trưởng cứ quần ngất ngư
Hằng ngày, sau khi ăn sáng bằng bánh mì và chuối xứ,
chúng tôi có hai địa điểm để đi học. Hoặc học tại Đại Giảng Đường (nhà tiền chế)
hoặc tại bãi. Mỗi lần Đại đội đi học bãi thì có một Tiểu Đội Súng Nặng lên
phiên nai lưng ra mà vác súng, đạn Đại liên 30, Chân ba càng, Súng chống tăng
M72, Súng phóng lựu M79, Cối 81 ly gồm nồng súng, đạn cối và bàn tiếp hậu. Những
thằng to xác còn kêu ca huống hồ mấy thằng ốm yếu, nhỏ con, vác vũ khí mà mặt
nhăn như khỉ ăn ớt.
Thằng thì vác chân ba càng
Thằng vác đạn, thằng vác nồng trẹo vai
Một thằng nỗi cộc sủa dai:
“Mẹ. Đường ra bãi sáng nay dài quá cha !”
Đường ra bãi phải đi qua cổng số 9 ở tuyến D. Cách
tuyến này khoảng 2 cây số là đồn Bến Nọc dựng sát bên cầu Bến Nọc. Cầu bằng gỗ
không quá 10 thước bắt ngang qua con suối, tuy giản dị nhưng rất nổi tiếng vì
có lần ban đêm Việt Cộng mò về gài mìn gây thương vong cho một số SVSQ khóa 25
của nhà thơ Thành Tôn và nhạc sĩ Vũ Thành An tại cầu này.
Cầu, xưa Việt Cộng gài mìn
Làm bao nhiêu mạng bỏ mình tại đây
Giờ nghe như gỗ than vay
Khóc hồn ai chảy máu day vết cầu
Cũng tại cầu này không biết từ hồi nào, tại sao lại
xuất phát ra câu châm biếm “dân chơi cầu Bến Nọc”. Ý ám chỉ thứ dân chơi cù lần,
keo kiệt, nhà quê..., như một cựu Sĩ quan Cán bộ trường BB Thủ Đức cho tôi biết.
Ngày học bãi đầu tiên, chúng tôi được trường cho
xe GMC chở lên đồi Bác Sĩ Tín, lúc về thì đi bộ, sau đó là lết cho tới mãn
khoá. Mà bãi học có gần gì cho cam, cách quân trường từ 5 tới 10 cây số đường
chim bay hoặc hơn, như bãi Xa Lộ 5 Km, bãi Nhà Xập 7 Km, bãi Vườn Thơm ... Bài
học đầu tiên ở bãi lội về mới thấy đường ơi sao mà dài vô tận !
Chiều về mới thấy đường dài
Thằng nào thắng nấy mệt nhoài người ra
Uớc gì có ly đá trà
Mình ực, mình xối, mình xoa mát người
Đã vậy chân lại chưa quen mang giày bố. Mới có
chuyện.
Bãi xa lội bộ tơi bời
Cái chân mình muốn bức rời hẳn ra
Đôi giày cọ sức miếng da
Thành mọng nước đau thấy bà tổ luôn !
Đi bãi còn một cái đáng gờm nữa là nắng. Cái thứ nắng
trưa hừng hực, nắng lăn quăn, nắng xiên khoai, nắng đổ mồ hôi, nắng sôi nước mắt.
Làm gì có cây cao bóng mát mà núp – dẫu có cũng chẳng được phép – toàn là đất,
cát, cỏ khô và bụi cây bùi nhùi. Có bữa chúng tôi ra bãi bắn học xử dụng súng nặng
như Đại Liên M30, M72, súng Cối 80 ly, Đại Bác 105 ly không giựt và ném lựu đạn
M26.
Những loại vũ khí hạng nặng ác ôn này hình như thứ
nào tôi cũng xử dụng một cách rất ư là... bết bát. Thấy thằng bạn đứng thế thủ,
kê khẩu M72 lên vai nhắm bắn xe tăng, biết là nó trúng rùa nhưng tôi vẫn bái phục,
móc gói Bastos xanh chia cho nó một điếu.
Trưa hừng hực nắng lăn quăn
Ra bãi tập bắn xe tăng lật lìa
Bắn khu tử giác, bắn bia
Mà cứ tưởng bắn từng tia nắng thù
Rồi chín tuần huấn nhục (đáng lẽ là sáu) cũng chấp
chới trôi qua. Có trải qua thời kỳ cam go này mới thắm thía hai chữ “huấn nhục”.
Tôi nghe kể trước kia có một Tân Khóa Sinh bị một tên huynh trưởng “có máu lạnh”
huấn nhục ( giáo huấn và lăng nhục) trong nhà cầu căng thẳng tới mức đứng tim,
nghẹt thở mà chết. Từ đó, những loại “dạy dỗ” quá đáng, thiếu tính người đều bị
hũy bỏ.
Chín tuần qua một cái vù
Thằng nào thằng nấy như tù được tha
Thằng thì ngồi thở hắt ra
Thằng thì sướng tít như là gặp tiên
Sau đó, Tân Khóa Sinh được làm lễ gắn Alpha tại Vũ
đình trường, hãnh diện trở thành Sinh Viên Sĩ Quan trường Bộ Binh Trừ Bị Thủ Đức.
Hôm nay lễ gắn Alpha
Diện đồ tiểu lễ mình ra xếp hàng
Vũ đình trường nắng chang chang
Mà sao mình vẫn thấy man mác trời
XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP