Thursday, September 24, 2020

Miếu đề " Vị Quốc Vong Thân "


Miếu thờ các chiến sĩ Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù, 

được người dân lập chính tại nơi họ đồn trú...đồi Charlie ! 

Trong miếu đề " Vị Quốc Vong Thân "

Source: Fb Anh Phan - Hoài Niệm Miền Nam Một Thời

.


Người Lính Già Chỉ Mờ Đi (Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh)


1.

Trong ánh sáng dìu dịu của ngọn đèn chong nhỏ, tôi thấy Ba tôi ngồi như một cái bóng mờ. Tôi rón rén đến gần. Ba nhìn lui. Tôi hỏi nhỏ:
“Sao Ba không mở đèn sáng lên hở Ba?”
“Ba xong rồi.”
Tôi đặt tách trà gừng lên bàn, liếc nhìn màn hình computer. Chỉ có tấm ảnh gia đình, Ba thường cho nó “hiện lên” sau khi đã làm xong việc. Tôi hơi mỉm cười, mừng vì Ba có thể nghỉ ngơi sớm.
Tôi kéo một chiếc ghế lại để ngồi gần Ba. Ba hỏi:
“Hôm nay chuyến đi của con thế nào?”
“Dạ vui, mà cũng buồn Ba à!”
“Kể Ba nghe.”
“Chỗ nursing home này vui vì có nhiều người Việt. Họ cùng ca hát với mình vì những bài hát khá quen thuộc với họ. Mà buồn vì cũng có nhiều người không thể thưởng thức, không thể hòa mình được. Họ ngồi ủ rũ, lờ đờ.”
“Tội nghiệp! Nhưng chắc là họ có nghe, có nhận được hở con?”
“Dạ con tin là thế. Bởi vậy con thấy buồn. Nhiều người là cựu quân nhân Ba à!”
Dù đèn mờ, tôi vẫn thấy được Ba nhíu mày. Ba thở dài nhè nhẹ.
“ Ba ơi, nếu có thể quay ngược lại như một cuốn phim, con tưởng tượng những người đó sẽ đứng lên, vui cười, đàn hát. Họ trở lại thời tuổi trẻ…”
Ba gật đầu:
“Phải, nếu có thể…”
Tôi chợt nhìn Ba thật kỹ. Ôi, nếu tôi có phép thần làm thời gian quay ngược lại, tôi sẽ thấy Ba của thời trai trẻ. Ba đang ở trong trường lớp. Ba đang ở trong quân trường. Ba đang ở ngoài mặt trận. Sinh động quá, Ba của tôi! Nhưng đó cũng chỉ là những điều tôi tưởng tượng ra mà thôi! Vì tôi đâu có thấy Ba những lúc như vậy ngoài đời thật. Tôi chỉ biết “Ba lúc trẻ” qua những tấm ảnh còn lưu lại, cất trong quyển album gia đình với những trang giấy bọc plastic đã cũ vàng. Tôi còn quá nhỏ lúc đi theo Mẹ vào thăm Ba ở nơi gọi là “trại cải tạo.” Lúc đó, Ba trông rất cằn cỗi mặc dù tuổi còn khá trẻ. Tôi là đứa con gái út, ba tuổi, được Mẹ bế trên tay khi đi vào trại. Lóc ca lóc cóc đến lần thăm Ba sau cùng tôi đã là một cô bé mười lăm tuổi. Ba đi hết trại này đến trại khác, trong Nam ngoài Bắc. Khi Ba ra khỏi trại tù, mái tóc Ba đã bạc hơn một nửa. Ôi! Nếu tôi có thể quay ngược được thời gian để thấy Ba trẻ lại…

2.

Ba chuyển hết những bài Ba viết cho tôi đọc để tôi sửa lỗi đánh máy nếu có. Đó là những trang quân sử. Ba nói khi còn đi học, Ba rất say mê môn Sử. Trải qua thời gian sống trong quân đội, Ba càng nặng lòng với môn này, lúc đó không còn là môn học bắt buộc nữa, mà trở thành một niềm đam mê. Bây giờ, hằng ngày, hằng đêm, Ba miệt mài viết. Trước là viết, sau là “gõ”. Ban đầu các con phụ “gõ” cho Ba, sau Ba tập dùng computer và tự mình gõ. Bây giờ chúng tôi “gõ” không lại Ba đâu! Ba nói chiếc máy computer đã giúp con người được tự do. Ba tra cứu tài liệu, kết hợp với kinh nghiệm chiến trường của Ba, ghi lại những dòng, những trang khiến chúng tôi say sưa đọc. Không chỉ là những sự kiện, mà còn có trong đó mồ hôi, nước mắt, máu và thịt xương.
Công việc của Ba là một công việc lâu dài. Chưa biết lúc nào Ba sẽ dừng. Ba thong thả ngồi trước máy, gõ chăm chỉ. Có khi chúng tôi đưa Ba đi thư viện để Ba xem sách, tìm kiếm tài liệu cho đúng ý. Từ ngày Ba bị té sái khớp bàn chân, chúng tôi không cho Ba lái xe nữa.
Có khi tôi bắt gặp Ba ngồi trước ảnh của Mẹ, nói lẩm bẩm những gì tôi nghe không rõ. Đôi lúc Ba mỉm cười thú vị, nhưng cũng có khi Ba lau nước mắt. Ba sống với kỷ niệm vui buồn. Ba xem như Mẹ còn sống bên Ba. Nhưng Ba lại cũng rất thực tế, đúng vậy. Ba giúp các con các cháu khi chúng cần đến Ba. Ba không phàn nàn, không trách móc, không đòi hỏi. Ba nói Ba rất may mắn vì Ba vẫn còn hữu dụng. Ba nói khi nào Ba yếu quá rồi thì các con đưa Ba vào viện dưỡng lão, vào “nursing home”. Nhưng anh em chúng tôi không chịu. Chúng tôi dư sức chăm sóc Ba mà! Tôi là con gái út chưa muốn lập gia đình, tự nguyện chăm sóc Ba. Anh chị tôi chia nhau ngày nào cũng có người đến thăm, khi Ba bệnh thì ở lại đêm để phụ tôi lo cho Ba. Chuyện đơn giản như thế.

3.

Sau giờ làm, tôi đưa Ba đến viếng đám tang một người bạn của Ba. Bác ấy mất trong viện dưỡng lão. Thời gian gần đây Ba vẫn có những cuộc “viếng thăm” như vậy. Ba đứng rất lâu trước quan tài người bạn, Ba nói như thì thầm với người nằm trong đó. Khi ra về, ngồi vào xe, thấy tôi có vẻ ái ngại, Ba nói:
“Ba không sao đâu, con gái!”
Tôi nắm chặt bàn tay Ba, an ủi:
“Ba, con biết Ba rất buồn.”
“Phải, Ba rất buồn vì mất một người bạn. Nhưng Ba rất vui vì Ba đã có được một người bạn quý như vậy.”
“Ba!”
“Con biết không, bác ấy là một người “chiến sĩ” đúng nghĩa của nó. Tuy là một vị chỉ huy, nhưng bác ấy sống gần gũi với anh em trong đơn vị, sống đúng với nghĩa “chia ngọt sẻ bùi” con ạ. Khi bác ấy qua bên này, bác ấy đi làm cực khổ nhưng vẫn gom góp gửi tiền về giúp các anh thương binh nghèo khổ trong nước. Bác ấy thương đồng đội, thương lính như thế!”
Tôi vui lây với lời kể của Ba, tôi nhắc:
“Ba, Ba cũng thương đồng đội, thương lính vậy. Ba chẳng đã nói rằng Ba còn vô số mảnh nhỏ trong người chưa gắp ra hết, vì Ba che cho lính khi trái mìn nổ.”
Ba cười:
“Ừ, Ba không chết là may!”
Hai cha con về đến nhà. Ba lại ngồi vào bàn viết. Thế mà tôi vẫn cứ lo Ba ủ dột, buồn phiền. Nhìn Ba ngồi gõ bài, bỗng tôi có cảm tưởng Ba đang chạy đua với thời gian. Đừng, Ba ơi! Con muốn Ba sống lâu với con!

4.

Tôi lại đưa Ba đến một nơi. Là bệnh viện. Ba đến thăm một thuộc cấp của Ba ngày xưa. Chú ấy vừa qua một cuộc giải phẫu. Dù còn mệt mỏi, chú ấy tỏ vẻ rất vui khi thấy Ba. Ba hỏi:
“Chú ra sao?”
“Dạ thưa niên trưởng, em… còn sống ạ!
Ba phì cười:
“Tốt!”
“ Niên trưởng coi, còn cái chân để cà nhắc qua ngày mà ông bác sĩ cũng lấy luôn. Thiệt khổ ghê!”
Tôi nghe quặn thắt cả ruột. Nhưng hai người anh em kia vẫn trêu nhau vui vẻ. Nước mắt tôi chực trào ra. Chú ấy đã bỏ lại một chân trên chiến trường. Sau này gia đình bảo lãnh chú qua Mỹ sống cũng tạm yên. Cái chân còn lại, do chú bị bệnh tiểu đường, bị hoại tử phải cắt bỏ. Từ nay chú sẽ có thêm một người bạn đồng hành là chiếc xe lăn.
Người vợ mang cháo đến, đút cho chú ăn. Chú còn trêu vợ:
“Anh còn tay mà em!”
Rồi quay sang Ba, chú nói:
“ Em còn may mắn quá phải không huynh trưởng?”
Ba gật đầu cười. Tôi thấy trong mắt Ba dâng lên một niềm cảm động.

5.

“Con lại đi với Ba chứ?”
“Dạ có, Ba! Anh chị và các cháu cũng đi nữa.”
Lần này là ngày Chủ nhật. Tôi đưa Ba đến nhà sinh hoạt cộng đồng. Đây không những là nơi có những hoạt động tương thân tương trợ mà còn là nơi tổ chức những sinh hoạt văn hóa lịch sử để cho lớp trẻ sinh trưởng trên đất Mỹ tìm hiểu về nguồn cội và không quên mình là người Việt. Theo từng thời điểm trong năm, nhà sinh hoạt tổ chức lễ giỗ các vị anh hùng dân tộc của Việt Nam. Ba cùng quý vị bô lão thắp hương trước bàn thờ Tổ Quốc. Rồi Ba chia sẻ một bài nói chuyện về Hồn Thiêng Sông Núi. Đó là một giá trị thiêng liêng vẫn luôn có trong lòng những người con dân nước Việt. Nhiều người trẻ sau đó đến gặp Ba để nghe Ba khuyên bảo, tâm tình.
Và cũng như mọi lần, khi về đến nhà, Ba lại ngồi vào bàn viết. Ba gõ thư thăm các bạn của Ba ở xa. Tôi mang đến cho Ba một tách cà phê theo yêu cầu. Ba muốn được tỉnh táo để viết nốt chương sách về những ngày khói lửa mà Ba có mặt trong đó. Tôi sợ Ba mệt. Nhưng không, Ba gõ một hơi không nghỉ. Rồi sau đó, Ba kêu tôi lại, bảo tôi ngồi gần bên, nghe Ba nói.
“Tướng Mac Arthur dẫn một câu trong bản ballad nước Anh, một bản “nhạc lính”, khi ông đọc bài diễn văn tại Quốc hội Mỹ trước khi chấm dứt binh nghiệp. “Old soldiers never die, they just fade away.” Câu này nhiều người đã trích lại, đã lấy làm cảm hứng làm thơ, đặt nhạc. Có người thấy câu nói này đầy tính tích cực, tôn vinh người lính. Nhưng cũng có người cho rằng người lính khi về già thật là buồn, như một cái bóng mờ nhạt.
“Những người lính Việt Nam ở thế hệ của Ba, bên chiến tuyến của Ba, có một thân phận rất đặc biệt. Họ đã từng có và rồi như đã mất đi. Họ mất quê hương. Và có khi họ không còn nhìn ra chính mình. Có khi họ nghĩ rằng thà chết đi trên chiến trường lửa đạn khi họ còn là người lính trẻ mà hay. Còn những người lính già, khi sống cuộc đời lưu vong hay ở lại trong nước, họ có những nỗi buồn riêng. Ba có cái nhìn của Ba. Ba nghĩ xa hơn cái thân phận của mình. Ba tin rằng Thượng Đế đặt cho mỗi người một nhiệm vụ, và cho họ ánh sáng để nhìn thấy nhiệm vụ đó. Ba đã chiến đấu với chính mình để thoát ra khỏi sự dằn vặt đến quằn quại sau chiến tranh, tình xót xa đối với chiến hữu, lòng thương nhớ quê hương mà mình đã phải bỏ lại mà đi.”
“Con hiểu Ba. Ba ơi, khi con thấy Ba hết lòng gắn bó với thế hệ trẻ, thương yêu bạn bè đồng đội, con biết người lính già này rất đáng kính. Ba chọn đứng khiêm nhường như một vai phụ trên sân khấu, chỉ mờ đi, nhưng là một điểm tựa rất vững chắc cho chúng con. Con hãnh diện lắm Ba à!”

6.

Hôm nay đẹp trời, nhưng Ba không đi đâu. Ba dành một buổi gọi điện thoại cho bạn bè. Xem ra Ba vui lắm. Tôi chỉ “bị nghe lóm” những câu chuyện của Ba cũng đủ thấy vui theo rồi.
“Ông tướng, còn sống hở? Ông có nghe lời tôi, scan hình gia đình lại chưa? Chưa được hả? Thì kêu “sắp nhỏ” nó giúp mình. Đời này con trẻ giỏi hơn người lớn rất nhiều. Mình đừng có tự ái, kêu nó bày cho. Ông mà làm ra cái album gia đình, chắc chắn ông sẽ vui lắm, mà con cháu sẽ phục ông sát đất. Chúng nó sẽ có tài liệu quý giá về gia đình, không phải ai cũng làm được đâu!”
“Ông bạn già, khỏe không? Sao, quyển hồi ký của ông viết đến đâu? Quên cái gì, bảo tôi. Tôi quên cái gì, sẽ tìm trong tài liệu vậy. Trí nhớ của mình bây giờ nhiều khi không như mình muốn. Nhưng lớp già như bọn mình, viết hồi ký để lại cho con cháu đọc để biết cái đời của mình ra sao, là điều đáng làm, và cũng là để “tập thể dục” cho trí óc của mình nữa. Tôi biết tính ông, thích cái gì trung thực. Viết hồi ký là phải trung thực. Chính vì thế mà tôi rất quý ông đấy, ông bạn!”
“Em, sao rồi? Vết thương cũ lại hành hở? Anh cũng vậy thôi, trời động là nhức lắm. Biết sao hơn bây giờ? Không ai gánh cái đau giùm cho ai được. Thôi mình chấp nhận em à! Đồng hành với cái đau. Vợ con em khỏe không? Mấy cháu chắc ra trường hết rồi? Các cháu có việc làm chưa?”
“Em, khỏe không? Gia đình thế nào? Bên nhà trời mưa nhiều không? Ngõ vô nhà em chắc ngập hết? Cần gì em cứ nói cho anh biết, đừng ngại. Anh giúp được gì sẽ ráng giúp. Em đừng buồn. Dù cho chế độ đó có ruồng rẫy anh em, nhưng lòng dân vẫn thương quý và biết ơn anh em.”
Tôi vào bếp nấu nướng một lát, quay lại thấy Ba còn chuyện trò trên điện thoại. Ba đi qua đi lại, như một ông thầy giáo đang say sưa giảng bài. Tôi lại được “nghe lóm”:
“Chú à, đến ngày Trời kêu mình đi, thì mình đi thôi. Gánh đời buông xuống. Cốt sao mình sống cho vui vẻ. Vui với gia đình, con cháu nếu có. Vào nursing home cũng chấp nhận. Cũng có những người như con gái tôi vào giúp cho mình, an ủi, ca hát với mình. Ai rồi cũng sẽ ra đi, mình cũng như bao người, không có gì lạ. Chỉ có một điều khác: đó là mình đã từng là người lính. Tôi hãnh diện về điều đó. Tôi không oán hận, mà tin tưởng vào tương lai…”
Ba quay lại, nói với tôi:
“Là chú hôm trước mình vào thăm trong bệnh viện đó con. Sức khỏe khá lên rồi. Mới khoe với Ba là chú ấy đã cầm điện thoại lên, “on air” trên cái đài của chú ấy, đài nói tiếng Việt. “Chì” thật!”

 

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

SOURCE:

https://123hoang.wordpress.com/sach/cam-li-nguy%e1%bb%85n-th%e1%bb%8b-m%e1%bb%b9-thanh/nguoi-linh-gia-chi-mo-di/

 .

Wednesday, September 23, 2020

Cộng Sản thừa hưởng gì từ di sản VNCH?

 

SOURCE:

http://phamtinanninh.com/?p=4929

.

Lễ Tưởng niệm Tướng NGUYỄN KHOA NAM (2008) - Hoàng Như Tùng - QYHD-6

 

THIẾU TƯỚNG NGUYỄN KHOA NAM (1927-1975)


Diễn văn đọc trong Lễ Tưởng niệm Tướng Nguyễn khoa Nam tại Houston, Texas 

ngày 4 tháng 5 năm 2008.

Hoàng Như Tùng - Quân Y Hiện dịch - Khóa 6

 

Kính thưa liệt quý vị,

Kính thưa quý chiến hữu các cấp của QLVNCH,

Thưa quý bạn trẻ,

Trong gian phòng ấm cúng hôm nay chúng ta tưởng niệm các anh hùng vị quốc vong thân và đặc biệt là kỷ niệm lần thứ 33 húy nhật của thiếu tướng Nguyễn khoa Nam. Với vô vàn xúc động, tôi linh cảm anh linh của các vị quá vãng phảng phất đâu đây mặc dầu chúng ta không trông thấy, như thi hào Victor Hugo có nói “Les morts sont des invisibles mais non des absents.”

Gần gũi hơn, bên kia đường Bellaire, đài kỷ niệm chiến sĩ Việt Mỹ và quân cán chính bỏ mình vì tổ quốc đang chứng giám.

Câu nói đầu tiên của tôi là tôi xin cám ơn ban tổ chức đã cho tôi cơ hội hiếm có để nói đôi giòng về lịch sử cận đại của Việt Nam và sự thật về việc tuẫn tiết của Thiếu tướng Nguyễn khoa Nam, tư lệnh Quân đoàn IV kiêm vùng IV chiến thuật.

Về lịch sử, tôi xin có đôi lời giản dị để nói với các bạn trẻ về giai đoạn từ 1945 đến 1975. Đối với quí vị cùng thế hệ, tôi xin phép thưa rằng sự nhận định về các biến cố lịch sử là do chính kiến cá nhân mà trình bày. Nếu có điều gì không giống suy nghĩ của các bậc lão niên, các bậc uyên bác ở đây thì tôi thành kính xin quí vị cảm thông và lượng thứ.

 

Kính thưa quí vị,

Trước 1945 Việt Nam, Lào và Cam bốt trên bán đảo Đông dương (Indochina) là thuộc địa của Pháp. Ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật lật đổ Pháp và nước VN tuyên bố độc lập trong ảnh hưởng của Nhật.  Giữa năm 1945 đệ nhị thế chiến kết thúc, với sự chiến thắng của phe đồng minh (Anh, Mỹ, Pháp, Trung hoa quốc gia) và chiến bại của phe Đức-Ý-Nhật (gọi là phe trục). Thừa lúc quân Nhật đầu hàng, lợi dụng khoảng trống chính trị lúc đó,  mặt trận Việt Minh từ mật khu nhảy ra cướp chính quyền vào tháng 8 năm 1945 và thành lập nước VNDCCH  (tiền thân của chính quyền cọng sản sau này).

Chưa đầy một năm sau, năm 1946, người Pháp trở lại Đông dương, không phải để đặt lại nền đô hộ như xưa nhưng nhằm biến các thuộc địa cũ như Việt Nam, Lào và Cam bốt thành những nước nằm trong Liên hiệp Pháp.

Những người không cọng sản và quan tâm đến vận mệnh đất nước thấy hai hiểm họa trước mắt: một là chủ nghĩa cọng sản đang bành trướng, hai là người Pháp trở lại với một hình thức có thể gọi là “thực dân mới”. Biết không thể nào đối đầu được với hai lực lượng ấy, một số chính trị gia đành chọn tạm thời hợp tác với Pháp, qua các thỏa hiệp. Vậy là chiến tranh bùng nổ: Một bên là Quốc gia VN, do cựu hòang Bảo Đại làm quốc trưởng, và người Pháp, một bên là mặt trân Việt Minh (cọng sản), mỗi phe cai quản vùng mà mình đã chiếm được, không có ranh giới rõ ràng về lãnh thổ.

Sau gần 9 năm chiến tranh, và với trận Điện biên phủ mà phe thắng là Việt Minh, một hội nghị được thành lập tại Genève (Thụy sĩ) năm 1954 với sự tham dự của đại diện  Pháp, Anh, Nga (hồi đó gọi là Liên xô), Trung Cọng, và hai phe của VN: Quốc gia VN và nước VNDCCH (cọng sản).

Kết quả của hội đàm Genève là chấm dứt cuộc chiến và tạm thời chia nước VN thành hai lãnh thổ theo hai chế độ chính trị khác nhau:

- Từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc là lãnh thổ của nước VNDCCH theo chủ nghĩa cọng sản, sau lưng là  khối cọng sản khổng lồ: Liên xô (Nga), Trung Cọng và các nước Đông Âu.

-  Từ vĩ tuyến 17 trở xuống Nam là lãnh thổ của nước VNCH (tên mới, thay thế cho “Quốc gia VN”), có các nước đồng minh, đứng đầu là Hoa kỳ, và các nước khác công nhận.

Người Pháp rút lui khỏi VN.

Súng đạn tạm vắng mặt trên quê hương chưa được 10 năm thì cọng sản Bắc Việt nhất định xúc tiến cuộc chiến tranh mà họ gọi bằng nhiều tên: chiến tranh giải phóng, chiến tranh để thống nhất đất nước, chống Mỹ cứu nước, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào.”  Họ được Liên Xô (tức là nước Nga bây giờ) và Trung Cọng tích cực yểm trợ. Để đương đầu với họ VNCH phải cần  sự giúp đỡ của Thế giới Tự do, đặc biệt là Hoa kỳ.

Thực chất có phải là chiến tranh giải phóng không, hay chiến tranh ý thức hệ, hay chiến tranh xâm lược?

Tại hội nghị Genève năm 1954, ngày 12 tháng 5, ngoại trưởng Nguyễn Quốc Định trong phái đoàn Quốc gia VN có nói với phái đoàn cọng sản, đại ý: lịch sử sẽ nói với quí vị rằng quí vị có thể dựa vào chủ nghĩa cọng sản để đưa đất nước thóat khỏi chế độ thuộc địa của Pháp (pour ne plus être une colonie francaise) nhưng nước VN sẽ thành một vệ tinh của nước Tàu (devenir un satellite de la Chine). Lời tuyên bố chính trị này đang dần dần rõ nét.

Ngày 30-4-75 mà cọng sản huênh hoang gọi là “đại thắng mùa xuân,” ngày mà họ cho là “mãi mãi về sau quê hương sạch bóng quân thù” thì ngoài khơi VN cờ Trung Cọng bay phấp phới trên đảo Hoàng sa. Tại hải đảo máu thịt này của tổ quốc, năm 1974 - ngày mà, sau hiệp định Paris 1973, quân đội Mỹ không còn dính vào chiến tranh quốc cọng - người chiến sĩ trung tá hải quân Ngụy văn Thà đã anh dũng bảo vệ đất nước và chết theo tàu khi kiêu hùng đánh trả quân thù.  Gần đây Trung Cọng đã lập bản đồ hành chính tỉnh Tây sa, nuốt chửng Trường sa của VN.

Rõ ràng VN cọng sản không dám chống cự “đàn anh xã hội chủ nghĩa" của họ. Họ cùng nhau chiến đấu để bành trướng chủ nghĩa cọng sản. Đây là một cuộc chiến tranh ý thức hệ.

Đồng thời cũng là một cuộc chiến tranh xâm lược, vì sau hiệp định Genève VN đã trở thành hai nước, thì nước này đánh chiếm nước kia là xâm lược. Họ rêu rao chính phủ miền Nam là “ngụy”, là tay sai của Mỹ, nhưng chúng ta hãy nghe một nhân vật nổi tiếng của chính họ là giáo sư và sử gia Trần quốc Vượng trả lời phỏng vấn của đài BBC tháng 12 năm 2000:

Không thể gọi họ là ‘ngụy’ được. VNCH có quốc tế công nhận. Và sự việc đau thương nhất sau năm 1975 là không có hòa giải hòa hợp dân tộc. Bằng chứng là cả triệu người miền Nam bỏ nước ra đi, hàng trăm ngàn người chết trên đường vượt biển, so với cái chết trên đường Trường sơn (vào những năm chiến tranh) còn hãi hùng và hào hùng hơn nhiều. Vì sao? Vì họ ra đi để tìm tự do!”

Và theo cuốn sách “Nhân Vật Lịch Sử,” cũng của phía cọng sản, xuất bản lần thứ 4 ở Hà nội năm 1997, thì từ đời Hùng Vương đến Cọng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tức nước VN bây giờ) có lúc VN là hai nước, VNDCCH và VNCH (xin nhắc lại, đây là tài liệu của chính phía cọng sản).

Như vậy chúng ta mất nước tháng 4 năm 1975 vì bị miền Bắc xâm lược với súng đạn của khối cọng sản, trong khi đồng minh chúng ta bỏ bạn giữa đường, núp bóng hiệp định Paris 1973 để an toàn rút lui. Không cứu được quốc gia, dân tộc, một số tướng lãnh đã tự kết liễu đời mình chứ không đầu hàng quân địch: tướng Hưng, tướng Hai, tướng Vỹ, tướng Phú và tướng Nguyễn Khoa Nam. Họ là những vị anh hùng của dân tộc.

Tướng Nam bên nội thuộc gia tộc Nguyễn Khoa là một họ lớn từ đời Nguyễn Hoàng, thời nào cũng có người tài ba giúp nước. Bên ngoại là họ Nguyễn Phước, hệ vua Minh Mạng nhà Nguyễn.

Từ khi ra trường võ bị ông là sĩ quan tài ba trong chiến tranh, chức vụ cuối cùng là Tư lệnh vùng IV chiến thuật kiêm Quân đoàn IV quân lực VNCH.

Ông là quân nhân gương mẫu tài đức song toàn hiếm thấy của quân đội. Ông cũng là người có khiếu về hội họa, âm nhạc và là một Phật tử thuần thành, hiểu sâu về triết lý của thiền. Ông đã thừa hưởng những di truyền tốt đẹp cả bên nội lẫn bên ngoại. Một người bạn thân của ông đã mô tả ông là “con giòng cháu giống” như người Pháp nói “Bon sang ne sait pas mentir.” Khách quan hơn, xin mượn lời một phóng viên kiêm sử gia Pháp là Pierre Darcourt: “Điều đầu tiên làm cho ta chú ý đến ông là ông có vẻ mặt của một chiến sĩ cao quí.”

Còn riêng tôi, duyên nào lại gặp tướng Nam vào những giờ bi đát của lịch sử tại vùng IV chiến thuật?

Tôi vốn là người ở cùng làng với ông, làng Vỹ dạ, nơi mà tộc Nguyễn Khoa nhiều người cư ngụ. Thuở nhỏ tôi học cùng trường với ông, trường trung học Khải định Huế, sau ông 4 lớp. Bẵng đi thật lâu tôi mới gặp lại vào tháng 11-1974 khi ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh vùng IV còn tôi thì đang phục vụ tại quân y viện Phan Thanh Giản Cần thơ. Tôi cảm thấy vui vì được làm việc với người đàn anh đồng hương. Tôi định đến dinh để kính chào thăm viếng nhưng chưa kịp thực hành ý định thì Ban mê thuột mất, quân đòan II rút lui hỗn lọan, quân đoàn I vào tay quân cọng sản, chiến tranh lan đến quân đoàn III.

Tướng Nam rất phẫn uất. Ông đã trả lời nhà báo Pierre Darcourt: “Mọi người đang nổi giận, quân đội đang bị hạ nhục.”

Ngày 28-4-75, gặp tướng Pazzi trong đoàn ngọai giao Pháp tại Cần thơ, tướng Nam nói “Ông làm chứng giùm tôi, quân đoàn IV chúng tôi không thua, chính trị Saigon đã trói tay chúng tôi, bắt buộc chúng tôi phải thua.”

Tình hình quân sự biến đổi quá nhanh, tôi hoang mang nên tìm đến gặp vị tư lệnh để xin ý kiến.

Câu đầu tiên ông hỏi tôi:

“Quân y có việc gì đó?”

Tôi đáp:

“Thưa thiếu tướng tình hình đất nước quá xấu. Lãnh thổ quân khu IV có kế hoạch gì không?”

Ông bình tĩnh trả lời:

“Đừng lo, mình vừa đi họp với phái bộ tòa đại sứ Pháp. Sẽ có giải pháp ngọai giao, miền Tây không mất đâu, còn đầy đủ quân số tác chiến.”

Tôi toan xin phép ra về, không hiểu sao ông lại hỏi:

“Nếu phải đánh nhau, Quân y tính sao?”

Tôi đáp:

“Xin tuân lệnh.”

Ông nói tiếp:

“Quân y cần gì?”

Tôi thưa:

“Nếu phải chiến đấu thì QYV không có phương tiện phòng vệ để chống lại pháo 122 ly của địch. Xin thiếu tướng cho công binh xây gấp hầm nổi kiên cố để làm phòng mổ và một máy phát điện dự phòng.

Ông đáp:

“Tôi sẽ ra lệnh thi hành gấp. Có thể BTM sẽ chuyển về Cần thơ.

Hầm giải phẫu nổi xây gần xong thì mất nước.

Sáng ngày 30-4-75 trong lúc các đơn vị trưởng đang họp tại phòng hội quân đòan IV để nghe Tư lệnh và Tư lệnh phó chỉ thị, thì tiếng loa phóng thanh loan tin tướng Dương văn Minh ra lệnh buông súng. Tướng Nam buồn bã thi hành lệnh thượng cấp. Đại tá Nguyễn đình Vinh, tham mưu trưởng quân đoàn, nghiêm trang nói to:

“Binh nghiệp chúng ta chấm dứt từ giờ phút này, xin quí vị dành cho Thiếu tướng Tư lệnh và Tư lệnh Phó lời chào kính cuối cùng.”

“Nghiêm!”

Rồi tan hàng, rã ngũ.

Phần tôi nhiệm vụ chưa hết, tôi trở về đơn vị tiếp tục phần hành chuyên môn vì thương binh vẫn còn nhập viện, lòng buồn vô hạn, ngày mai không còn tự do, cọng sản sẽ dành cho người thua trận những gì? Riêng với các tướng Hưng, tướng Nam và các tướng lãnh khác không di tản, họ sẽ ra sao? Suy nghĩ mông lung mà lệ chảy lúc nào không hay.

Suốt ngày 30-4 vẫn chưa thấy bóng dáng Việt cọng. Cần thơ yên tĩnh một cách khác thường. 5 giờ 30 chiều QYV được tin tướng Nam sắp đến thăm thương bệnh binh. Ông vẫn mặc quân phục tác chiến, áo mũ vẫn còn thêu hai sao đen. Ông hỏi tôi:

“Anh còn ở lại?”

Tôi thưa:

“Dạ, giống như thiếu tướng vậy.”

Ông bảo:

“Anh đưa tôi đi thăm anh em thương binh.”

Hai chúng tôi lặng lẽ đi bên nhau, lòng trĩu nặng. Nhà thương vắng hoe, bệnh nhân còn lại khoảng 200 người nằm rải rác khắp các trại, những người khác đã tự động về nhà. Ông thăm không sót một ai. Ngay cả trại dành cho thương binh cọng sản ông cũng vào đứng trầm ngâm, không nói một lời. Ôi nhân hậu làm sao!

Tiễn ông ra xe, tôi cầu mong chuyến về dinh bình an. Nếu gặp Việt cọng sự thể sẽ ra thế nào?

Đêm 30-4 không yên tĩnh như suốt ngày vừa qua. Quân nhân chưa rã ngũ mang súng bắn chỉ thiên loạn xạ, như để trút hết uất ức, căm thù. Người ta tưởng tướng Nam và tướng Hưng đánh úp VC.

Về khuya tiếng súng im. Đêm rơi vào im lặng, đêm dài tưởng chừng như bất tận. 11 giờ đêm tướng Hưng bắn vào tim quyên sinh tại nhà, vợ con có mặt. Phu nhân tướng Hưng báo tin ngay cho tướng Nam.

Vào khoảng 6 giờ sáng QYV Phan Thanh Giản được điện thoại từ dinh tư lệnh cho biết tướng Nam đã tuẫn tiết bằng súng lục Browning.

Tôi tuy đã dự đoán trước việc này nhưng vẫn bàng hoàng, đau thương trước cái chết của người anh hùng. Bằng xe hồng thập tự, chúng tôi rước xác thiếu tướng về để làm thủ tục khai tử, khâm liệm và an táng. Lần này đón thi thể của vị tướng tư lệnh là đủ mặt nhân viên QYV còn ở lại đơn vị. Ai nấy đều xúc động, rưng rưng nước mắt.

BS trực Trần quốc Đông (hiện ở Úc) làm tờ y chứng. Thủ tục khám nghiệm đã xong, QYV xúc tiến tang lễ. Kiểm điểm tư trang của người quá cố chỉ thấy:

-Một cuốn kinh Phật nhỏ đựng trong một túi nylon.

-Một khẩu súng lục hiệu Browning 7.2 mm

-Một thẻ bài kim khí cá nhân.

Ba món này đã được bỏ vào quan tài để làm vật lưu dấu phòng thất lạc thi hài người chết.

Toàn thành phố Cần thơ xúc động vì hai tướng Hưng, Nam tuẫn tiết. Hội Hồng thập tự, do BS Lê văn Thuấn làm chủ tịch, biếu hai quan tài loại tốt nhất, dành cho tướng Nam và BS Nguyễn văn Tựu, y sĩ đại úy thuộc quân đoàn IV, bị VC sát hại đêm 30-4-75.

Thi thể tướng Nam được trang trọng đặt nằm trên một brancard có trải drap trắng. Ông nằm như ngủ, mặt hiền từ trắng xanh, tay chân còn mềm. Bên cạnh là thi hài của  bác sĩ Tựu.

Bàn thờ hai vị được thiết lập đơn sơ nhưng trang nghiêm, có nhang thơm nến cháy. Toàn thể nhân viên QYV buồn bã nghiêng mình tiễn đưa vị anh hùng và người thầy thuốc chết vào giờ thứ 25 của cuộc chiến.

Nắp áo quan đóng lại. Anh em sĩ quan, trong đó có tôi, khiêng quan tài tướng Nam và BS Tựu ra xe dân sự tiến về phía nghĩa trang quân đội Cần thơ. Hướng dẫn xe tang và chỉ huy lễ hạ huyệt do thiếu tá dược sĩ Mai bá Vỵ sĩ quan CTCT thi hành. Một bán tiểu đội cơ hữu của QYV phụ trách việc đào huyệt. Rất may tang lễ được hoàn tất trước khi người của chế độ mới vào tiếp thu BV.

Trước khi bước vào phần kết thúc tôi xin phép được sơ lược nêu lên vài điều đặc biệt trong cái chết của tướng Nam.

1) Thứ nhất, có một sự trùng hợp giữa tướng Nam và cụ Phan Thanh Giản, kinh lược sứ miền Tây năm 1867, cách đây 141 năm: hai vị cùng trấn nhậm miền Tây, hai vị cùng tuẫn tiết khi không bảo toàn được lãnh thổ, và lễ an táng tướng Nam được cử hành tại QYV mang tên Phan Thanh Giản.

Tuy nhiên cũng có một điểm khác biệt. Vì không giữ được 3 tỉnh miền tây, mặc dầu đã tự sát, cụ Phan đã bị vua Tự Đức và triều đình giận dữ và cho đục tên cụ trên bia tiến sĩ. Còn tướng Nam thì muốn đánh trả quân thù nhưng bị thượng cấp trói tay.

2) Tướng Nam tuy đã chết nhưng hùng khí vẫn vẫn còn làm quân địch lo sợ. Họ nghĩ là ông chưa chết, tử thi an táng không phải thật. Họ định quật mồ nhưng đã không làm được. Dân chúng Cần thơ tin là ông vào lập chiến khu ở trong bưng để chờ ngày phục quốc. Những ai có mặt ở quân khu IV vào những ngày đó đều biết.

3) Chiều 30-4 ông đi thăm các chiến sĩ đang bị thương tật ở BV Phan Thanh Giản, sáng hôm sau, 1 tháng 5, ông là một tử sĩ được chính  BV này rước về làm tang lễ. Chiều hôm trước ông đi thăm thương bệnh binh, sáng hôm sau anh linh ông đi thăm các tử sĩ tại nghĩa trang quân đội Cần thơ và ông an nghỉ nơi đây cùng với họ gần 10 năm, cho đến ngày cải táng.

4) Các tướng lãnh tuẫn tiết như tướng Phú, tướng Hai, tướng Vỹ, tướng Hưng có thân nhân lo về chung sự, trong niềm thương đau và không khí gia đình ấm cúng. Riêng tướng Nam, suốt đời binh nghiệp ông sống độc thân, lấy quân đội làm đại gia đình, lấy đơn vị làm tiểu gia đình. Và cuối cùng ông được quân đội và chiến hữu lo tròn tang lễ với lễ nghi quân cách, ấm cúng tình huynh đệ chi binh.

5) Việc cải táng phục tang cho ông mang nhiều chi tiết ý nghĩa. Tháng hai năm 1984 người em dâu tướng Nam, vợ của cựu thượng nghị sĩ Nguyễn khoa Phước, bào đệ của ông, là giáo sư Kim Đính về Cần thơ bốc mộ và hỏa táng. Những gì QYV Phan Thanh Giản bỏ vào quan tài khi khâm liệm vẫn còn đủ: thẻ bài cá nhân, cuốn kinh Phật, khẩu súng Browning đã rỉ sét. Khi qua phà Cần thơ bà lặng lẽ khấn vái rồi thả xuống sông Hậu nửa số tro như là thủy táng cho ông để kỷ niệm vùng đất ngày trước ông trấn nhậm, nửa kia đem về thờ ở chùa Già lam, Saigon. Mỗi lần có dịp về Saigon tôi thường đến thắp nhang tưởng niệm.

Tướng Nam đã đi vào lịch sử bằng nhiều bút tích ghi lại biến cố 30-4-75, và không ít thi sĩ đã viết về Người, mà thơ là tiếng nói trung thực nhất của tâm hồn. Để kết thúc tôi xin mượn bài thơ sau đây của một quân y sĩ quân lực VNCH là BS Hà thúc Như Hỷ viết truy điệu người anh hùng:

Một mai sau

Và mãi mãi muôn đời

Nguyễn Khoa Nam

Tên Người còn nhắc nhở

Người anh hùng vị quốc vong thân

Sinh vi Tướng, Tử vi Thần

Một cái chết muôn ngàn lần sống

Một cái chết cúi đầu giặc cọng

Để miền Nam kiêu hãnh ngẩng mặt lên

Cho Hương giang rửa sạch ưu phiền

Và Tiền giang triền miên thương tiếc.

 

Kính thưa liệt quí vị,

Đến đây là thật sự kết thúc. Trước khi dứt lời tôi thành thật xin lỗi là đã lạm dụng thì giờ quí báu của quí vị quá nhiều, vì những biến cố lịch sử chỉ xảy ra có một lần và nhân chứng cũng chỉ sống có một đời, chắc quí vị niệm tình tha thứ. Nay người thuyết trình là một quân nhân xấp xỉ 80 tuổi, trước khi đi xa có đôi lời tâm huyết bộc bạch sự thật được chứng kiến để tỏ lòng tôn kính, tri ân quý vị anh hùng liệt sĩ.

Và một lần nữa kính cám ơn ban tổ chức đã bỏ bao công sức và tâm huyết để thực hiện buổi lễ ý nghĩa hôm nay.

Hoàng Như Tùng - nguyên Chỉ Huy Trưởng Quân Y Viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ


SOURCE:

https://www.svqy.org/nguyenkhoanam.html?fbclid=IwAR1PCDjAkSvdW1gNak7CNMAWYV4rZHvTmlesGrx8fQ8h2ShG8lkQRbfReXs

.


Clip: Tưởng Niệm Các Tướng Lãnh Việt Nam Cộng Hòa Tuẫn Tiết 1975

 



ANH HÙNG TỬ, KHÍ HÙNG BẤT TỬ


.





SINH VI TƯỚNG...(Tác giả: Như Thương)

 

 

Sinh vi Tướng, Tử vi Thần: Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam (23.9.1927- 1.5.1975)

Sinh vi Tướng, Tử vi Thần: Thiếu tướng Phạm văn Phú (16.10.1928- 29.4.1975)

Sinh vi Tướng, Tử vi Thần: Chuẩn tướng Lê văn Hưng (27.3.1933- 30.4.1975)

Sinh vi Tướng, Tử vi Thần: Chuẩn tướng Trần văn Hai (Tháng 1, 1925- 1.5.1975)

Sinh vi Tướng, Tử vi Thần: Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ (22.8.1933- 30.4.1975)

Sinh vi Tướng, Tử vi Thần: Đại tá Hồ Ngọc Cẩn (24.3.1938- 14.8.1975)

Sinh vi Tướng, Tử vi Thần: Trung tá Nguyễn văn Long (1.6.1919- 30.4.1975)

 

Mỗi đời người chỉ vỏn vẹn là một dấu gạch nối nhỏ giữa năm sinh và năm tử, nhưng đã có những người nuôi hoài bão và hiến thân cho Tổ Quốc trọn đời trên dấu gạch nối ấy.

Dân tộc Việt Nam và trang Quân sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã, sẽ và mãi mãi lưu danh thiên cổ những vị Anh Hùng hòa dòng máu oanh liệt của mình vào dòng chảy dân tộc. Mệnh nước điêu linh và mệnh người đoản mệnh chăng? Người viết không nghĩ rằng những Anh Hùng Bất Tử đã hy sinh là đoản mệnh, vì cuộc đời của những vị ấy đã là thanh "Trường Kiếm" khi họ vung gươm nối gót hào khí tiền nhân gìn giữ sơn hà.

"Cung Kiếm: Tượng trưng cho võ nghiệp, biểu thị tinh thần và ý chí của người Sinh viên Sĩ quan trong sứ mạng bảo vệ đất nước" (Trích trang 65, "Trường Võ Bị Quốc gia Việt Nam Theo Dòng Lịch Sử")

THÁNG TƯ QUỐC HẬN 1975, một danh từ đã phải viết hoa trên bầu trời tang thương của đất Việt và trong lòng người hãi hùng! Và trong khoảnh khắc trong "Giờ thứ 25" ấy, quê Mẹ đã có những người con yêu của Tổ Quốc về lại lòng đất Mẹ, điểm tô thêm trang sử hào hùng bằng máu xương của chính mình.

Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân ấy đã sống với dân và lo cho đời sống dân được an cư, lạc nghiệp. Trong đời sống quân ngũ, họ đã đối xử với anh em binh sĩ thuộc quyền với tấm lòng bao dung như người anh cả trong gia đình, đến lúc binh biến thì cái dũng khí hiên ngang thật ngất trời! Lúc đối đầu với giặc, họ thật vững vàng trong cơ mưu và khi sa vào tay giặc thì chí khí Anh Hùng đã làm địch phải thán phục với cái Thần Tướng của họ!!!

Cái Nhân của một vị Tướng chỉ huy NGUYỄN KHOA NAM đến thăm những chiến hữu thương binh của người lần cuối cùng trong bệnh viện là bản hùng ca bi thương vô hạn.

Cái Trí của một hùng Tướng "LÊ NGUYÊN VỸ" về mặt quân sự, khi người có một tầm nhìn chiến lược rất bao quát “Tôi nghi ngờ chúng nó không đánh mình ngoài này mà sẽ tìm cách len lỏi đi thẳng về Sài Gòn”.

Cái Dũng khí khái hiên ngang của một người con Thiếu Sinh Quân bất khuất "HỒ NGỌC CẨN".

Cuối cùng họ đã "...Chết mà vì nước, chết vì dân - Cụ Sào Nam Phan Bội Châu". Tất cả những vị Tướng tuẫn tiết đã thấm máu đào trên màu áo quân phục! Họ ra đi nhưng đã để lại cho đời Thanh Danh rạng ngời. Cái Thần tướng khi Sinh ra đã là mệnh của họ khi Tử. Họ đã sống trọn vẹn một đời với sứ mệnh "Bảo Quốc An Dân".

Cái chết của những người lính tuẫn tiết, hy sinh cho cuộc chiến chống Cộng đã là những mắc xích cho chiều dài lịch sử của dân tộc tồn vong, để rồi trong lòng những người dân, họ hóa thành Thần. Trong suốt chiều dài lịch sử ấy, có biết bao Danh Tướng mệnh vong theo thành để non sông trường tồn…

Xin cúi đầu Tạ Ân các Đấng Sinh Thành đã sinh ra những "Người Con Yêu" cho đất nước và hiến dâng những viên ngọc quý ấy cho quê hương trong công cuộc bảo vệ giang san khi cộng sản manh tâm chiếm đoạt miền Nam Tự Do.

Ngày SINH và ngày TỬ của những ANH HÙNG TỬ, KHÍ HÙNG BẤT TỬ kể sao cho xiết...

Xin ghi tạc vào lòng những người sống mãi với Núi Sông …

  

Như Thương

(Viết nhân ngày sinh của Thần tướng Nguyễn Khoa Nam, 23/9/1927)

 .


THIẾU TƯỚNG NGUYỄN KHOA NAM

(93 năm ngày sinh – 1927-2020)

 

Sinh ngày 23 tháng 09 năm 1927 tại Đà Nẵng, nguyên quán Hương Thuỷ, Thừa Thiên

Năm 1953, tốt nghiệp khóa 3 Đống Đa trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, cấp bậc Thiếu úy

Năm 1959, Trưởng ban 3 của Tiểu đoàn 3 Nhảy dù, cấp bậc Trung úy

Năm 1962, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 5 Nhảy dù, cấp bậc Đại úy

Năm 1964, Trưởng phòng 4 tại Bộ Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù

Năm 1965, Tham mưu trưởng Chiến đoàn 1 Nhảy dù, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 Nhảy, cấp bậc Thiếu tá

Năm 1966, Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 3 Nhảy dù, cấp bậc Trung tá

Năm 1970, Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh, cấp bậc Chuẩn tướng

Năm 1974, Tư lệnh Quân đoàn IV & Quân khu 4, cấp bậc Thiếu tướng

Ngày 01 tháng 05 năm 1975, tự sát bằng súng trong tư dinh Tư lệnh tỉnh Phong Dinh, Hưởng dương 48 tuổi, an táng tại Nghĩa trang Quân đội Cần Thơ

Năm 1984, bốc mộ hỏa thiêu, tro cốt được thờ tại chùa Quảng Hương Già Lam 

- Gò Vấp, Sài Gòn

Đệ Tứ đẳng, Đệ tam đẳng Bảo quốc Huân chương và nhiều huy chương trong và ngoài nước khác ...

SOURCE:

Fb Nguyễn Quốc Ánh- Hoài Niệm Miền Nam Một Thời

.

Source:

.

Thursday, September 17, 2020

Vinh Danh Người Vợ Lính Việt Nam Cộng Hòa (Tác giả: Nguyễn Tường Tuấn)

 Posted on September 11, 2020

Xin mạn phép tác giả Nguyễn Tường Tuấn để đăng bài viết chân tình và tràn đầy xúc động này. Đa tạ.

Blogger: Phạm Lê Hương

 


Em yêu dấu,

Anh đã ray rứt và quằn quại trong suy nghĩ từ bao nhiêu năm nay để viết lên một lời nào đó tôn vinh em. Thật là bất công với cuộc nội chiến hơn 20 năm, kết thúc không như ý của hằng triệu con dân đất Việt, “man rợ, tàn bạo” đã thắng “văn minh, nhân bản.” Và anh vẫn chưa làm được điều này, thật là xấu hổ!

Trước ngày buông súng, và cho đến hôm nay gần 45 năm lịch sử sang trang, đã có hằng trăm ngàn đoản văn, truyện dài, nhạc phẩm vinh danh người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà. Vâng, các anh hoàn toàn xứng đáng để nhận những điều tốt đẹp đó. Nhưng bên vòng hoa chiến thắng, người ta đã quên đi những thiếu nữ dịu dàng âm thầm ngồi kết vòng nguyệt quế. Bên chiếc quan tài phủ cờ, chẳng mấy ai nhắc đến người goá phụ trẻ quấn khăn tang. Ngày xưa, em đã theo anh vào nơi gió bụi, em đã trèo đèo, lội suối, chỉ để một lần được ôm anh trong vòng tay, lỡ mai này anh ra đi để không còn hối tiếc. Trong chiến hào của các căn cứ lừng danh, Charlie, Bunard, Rạch Bắp, Tống Lê Chân … và hàng ngàn thánh địa khác trên toàn miền Nam, em đã giã từ thành phố để đến cùng người yêu bất chấp đạn pháo binh của quân thù. Tình yêu em dành cho anh, đã vượt qua nỗi sợ của súng đạn và cái chết. Khi vận nước ngả nghiêng, anh buộc phải giã từ vũ khí, bước vào cuộc sống tù ngục. Em vẫn chưa một lần bỏ anh, cho dù đã nhiều lúc qua thư từ lén gửi ra khỏi trại tù, đã khuyên em “hãy quên anh” và “đi thêm một bước nữa cho cuộc đời” em chỉ mỉm cười và nhìn anh trong lần thăm nuôi với đôi mắt buồn đẫm lệ: “Em vẫn chờ anh” dù phải chờ đến thiên thu trong cái “thiên đường khốn nạn” này. Em chung thuỷ như thế đó! Em vững như tượng đá chờ chồng.

Em của anh,

Hãy cùng nhau quay lại cái ngày xa xưa ấy, nếu không có dĩ vãng thì chúng ta lấy đâu ra hiện tại và tương lai? Sài Gòn của chúng mình đẹp lắm phải không em, không những thế, tất cả các tỉnh thành miền Nam từ chiếc cầu mang tên Bến Hải phân chia đất nước đến tận Mũi Cà Mâu, một miền Nam thanh bình nếu không có bọn cộng quân quấy phá. Khi miền Nam xây cầu, đắp đường, thì cộng sản miền Bắc đặt mìn, đắp mô phá hoại! Khi miền Nam tôn trọng thoả thuận đình chiến trong ba ngày Tết dân tộc 1968, thì cộng sản Bắc việt xua quân tấn công ngay trong đêm giao thừa, chúng tạo ra những “Đại lộ Kinh hoàng” trên nửa miền đất nước, mồ chôn tập thể hơn 5,000 nạn nhân đã khiến bao gia đình tại Huế phải chít khăn tang? Cái định nghĩa của hai chữ “giải phóng” sao mà ác độc và đẫm nước mắt đến thế? Lịch sử sẽ công tâm, chế độ cộng sản Việt Nam sẽ không thể mãi mãi xuyên tạc hay bôi nhọ.

Nối tiếp những khoá đàn anh đi trước, một số đông thanh niên miền Nam (trong đó có anh) đã xếp bút nghiên theo nghiệp đao cung. Em có thể còn quá bé nhỏ để hiểu được tâm tình người trai thời loạn, hoặc em cũng đã là một thiếu nữ tuổi đôi mươi vào cái năm lịch sử “Mậu thân 1968”. Cũng có khi em đã là vợ lính trước đó … Dù ở lứa tuổi nào đi nữa, đã ra trường hay còn đi học? Trở thành vợ lính hay người goá phụ cô đơn … Em đã chọn lựa, một chọn lựa vô cùng cao cả đầy hy sinh! Chọn làm vợ lính VNCH.

Rồi những giờ phép ngắn ngủi trong một hai ngày, anh trở về thăm em bên bộ đồ trận bạc mầu, với đôi giầy nhà binh bám bụi. Em không chọn xa hoa, phù phiếm, em cũng không cần bằng cấp cao sang. Mặc cho ba mẹ lo lắng chỉ sợ em sớm đội khăn tang ở tuổi đôi mươi! Em đã hãnh diện bên anh trên đường phố. Tuổi trẻ chúng mình điên quá phải không em? Hạnh phúc bên nhau hôm nay và mặc kệ ngày mai. Trên những nơi đi qua, mọi người nhìn chúng mình với đôi mắt cảm phục và yêu thương, hay nhiều khi họ thầm nghĩ “sao con bé xinh như thế mà dại dột?” Lỡ mai nó chết thì sao? Anh biết, số người nghĩ như vậy không nhiều đâu, vì nếu họ chiếm số đông thì đám lính chúng anh đã ở giá đến già rồi, đúng không em? Con tim có lý trí riêng của nó. Cám ơn em đã cho anh những giây phút thiên đường nơi địa ngục của chiến tranh! Cám ơn nền giáo dục nhân bản của VNCH, ba mẹ em không ghét anh, các cụ chỉ sợ em sớm đeo khăn tang. Nhưng cũng chiều lòng em, tình yêu chúng ta không cần đến phép của bác và đảng, cũng không một cấp chỉ huy nào của bọn anh xen vào chuyện chúng mình. Tự do đơn giản như làn gió hôn nhẹ nhàng lên nụ hoa, không ai sắp đặt mà cũng chẳng ai ngăn cấm. Cái đẹp của Việt Nam Cộng Hoà như thế đó, cộng sản có thể tạm thời chiếm đất, nhưng không bao giờ chúng chinh phục được lòng dân!

Ngày vui rồi cũng qua, như sáng nắng chiều mưa! Anh trở về với núi đồi xa lạ; với tên những địa danh mà người thành phố chưa bao giờ nghe: Kratié, Snoul, Damber, Bù Gia Mập, Bù Đăng, Bù Đốp … Trong nước mắt chia tay, em tặng anh “Chú Đại Từ Bi” hay “Tượng Đức Mẹ” để tránh sự dữ, gặp sự lành. Nhưng tất cả là do số trời định đoạt, đạn tránh người chứ người làm sao tránh được đạn? Từ đó em siêng năng đi Chùa hay vào Nhà thờ quỳ trước tượng Chúa, cô bé chỉ xin bằng an cho anh, chỉ mình anh thôi. Ba mẹ mà biết được thì các cụ sẽ mắng cho một trận nên thân. Nhưng ba mẹ nào có hiểu, Chúa và Phật đã buộc đôi ta bên nhau, “Sự gì Thiên Chúa sắp đặt, loài người không thể phân chia!”

Hẹn em lần tới nhé, nếu anh không về để đón em đi ăn kem sau mỗi buổi chiều, dẫn em vào ciné để vụng về hôn vội. Nếu chờ quá lâu em đừng ngạc nhiên, có thể anh đã ở trong một quân y viện nào đó, hoặc tệ hơn trong quan tài phủ cờ vàng! Mọi chuyện đều là hai chữ “có thể” và đời lính không mấy xa lạ với hai tiếng này. Viết đến đây, anh chợt nghĩ đến những người bên kia chiến tuyến, từ Bắc vào Nam, họ cũng có gia đình, có người yêu và có trái tim nhân hậu. Nhưng họ bị xô vào cuộc chiến như những con thiêu thân, để phục vụ cho một chủ nghĩa phi nhân, tàn bạo.

Anh của em hơn các bạn miền Bắc rất nhiều! Quân đội Việt Nam Cộng Hoà chiến đấu cho TỔ QUỐC – DANH DỰ – TRÁCH NHIỆM. Trong đơn vị anh, sĩ quan Chiến tranh chính trị là người lo cho tinh thần binh sĩ, an ủi thương bệnh binh, chăm sóc gia đình tử sĩ. Khác hẳn với Chính trị viên trong quân đội miền Bắc, chỉ biết còn đảng còn mình, xua lính vào cõi chết. Vài ba tháng anh còn được về phép thăm em, người lính miền Bắc ra trận với mục tiêu “sinh Bắc tử Nam.” Một nửa đất nước mình u mê tăm tối như thế đó, có một câu chuyện vui quân trường như sau: “Huấn luyện viên, hỏi một sinh viên sĩ quan: – Cho tôi biết anh sẽ làm gì cho tổ quốc? – Tôi sẽ chết cho tổ quốc! – Đồ ngu! nhiệm vụ anh là giúp cho kẻ thù chết cho tổ quốc của nó!” Đúng hay sai, tuỳ theo suy nghĩ của mỗi người!

Nếu anh không về thăm được, thì em chẳng ngại đường xa, băng rừng, lội suối vào gập. Em xin một chỗ trên đoàn xe tiếp tế lương thực, em ngồi thu nhỏ như chỉ sợ mất chỗ của người khác và bị đuổi xuống, đoàn xe không mui chạy bụi đỏ bay mờ mịt. Đến địa điểm nhận tiếp tế trên một quãng đường nào đó, đâu đã được gặp nhau? Em phải theo một tiểu đội mang súng đạn bảo vệ ra nhận và khiêng lương thực vào rừng, chặng đường băng đèo lội suối cũng vài cây số, chưa đầy một ngày không ai còn nhận ra em! Chưa đeo nhẫn cưới, mới chỉ yêu nhau thôi mà đã vất vả như thế đó! Tuổi 18, 20 của em đâu có thua kém gì anh? Chiếc nón sắt được chia hai, phần ngoài anh ngồi và chiếc nón nhựa bên trong cho em làm ghế. – Ai lại ngồi trên nón đội lên đầu, em hỏi? Lính là như thế đấy em ạ, lính chẳng có gì để kiêng cả. Hôm nay, mời em ăn gạo sấy chế nước nóng, canh chua lá giang nấu với thịt hôp ba lát và đêm nay hai đứa mình nằm cùng một võng (không có chuyện kia đâu nhé) vì chú lính truyền tin giăng võng ngay bên cạnh …

Hôm sau, em trở về nhà và bị bố mắng: “Con đĩ”. Yêu anh em trả giá như thế đó, bố không nói chuyện với em trong nhiều ngày, mẹ cứ dò hỏi khéo không biết em còn là con gái không? Thời gian trôi qua, những ngày xa anh như một cực hình. Qua những người bạn đi phép, anh nhờ họ mang hoa về tặng em, anh chàng Tố Quyên (danh hiệu của Thiếu uý Quyền), Hạ sĩ Lâm tài xế, Hạ sĩ Sen cận vệ … em lần lượt biết tên những người trong đơn vị anh. Không có lính từ đơn vị về, anh đặt sẵn hoa từ kiosque trên đường Nguyễn Huệ và nhờ họ đem lại. Chỗ làm của em mọi người xôn xao, em bắt đầu nghiện, nghiện những bó hoa, nghiện mong tin anh và dĩ nhiên nghiện anh vô cùng.

Chúa và Phật chưa cất anh đi, bom đạn cũng chê da thịt anh, thế là em còn anh! Cùng ba mẹ hai bên, chúng mình đã dắt nhau vào nhà thờ, mặc dù anh theo Phật và em đạo Chúa, nhưng tình yêu đã làm nhịp cầu cho đôi ta. Ngày thành hôn, anh chỉ được phép 24 giờ ngắn ngủi, chờ mãi không thấy về, em chỉ sợ chuyện gì không may xẩy ra, đến gần trưa chiếc xe Jeep đầy bụi dừng trước nhà, anh trở về từ căn cứ Rạch Bắp, và cấp chỉ huy không cho đi phép lâu hơn 24 tiếng.

Từ hôm đó, ngày thần tiên em bước lên ngôi trước sự chứng giám của Linh mục Chủ tế, chúng ta hai đã trở thành một và sáng mai em đã lên đơn vị cùng anh. Nếu Chúa và Phật mang anh đi, chúng ta sẽ cùng bên nhau, trong sung sướng cũng như lúc hoạn nạn. Hai đứa mình chẳng đã hứa như thế với Chúa sao? Hỡi người lính Bắc quân, bạn có bao giờ được hưởng cái hạnh phúc thần tiên đó không?

Thêm một tuổi, em khôn hơn một chút. Làm vợ lính không còn là những ngày tháng mộng mơ, ngồi ngóng trông hoa hồng đến mỗi tuần. Chúng mình đã hưởng một đêm trăng mật không thể nào quên, trong căn hầm chỉ đủ giăng hai chiếc võng, sâu dưới đất đi vào phải cúi đầu, súng đạn và máy truyền tin lỉnh kỉnh và ngay trong đêm đó tại khách sạn miễn cưỡng mang tên căn cứ Rạch Bắp, bọn Việt cộng đã đến chúc mừng, súng đạn nổ vang khắp nơi, anh trao chiếc áo giáp và nón sắt cho em và dặn ngồi yên dưới hầm và anh mang súng đạn ra giao thông hào chiến đấu. Đêm hôm đó là rạng sáng mùng hai Tết 1975, những người khách không mời mang đủ loại súng đạn từ AK 47, B 40 đến súng cối 82 ly ra làm quà. Hình như người cộng sản miền Bắc không xem trọng những ngày lễ dân tộc? Và cũng may là lính Việt Nam Cộng Hoà học được bài học “Mậu thân 1968” đơn vị đã phòng thủ rất kỹ vào những ngày quan trọng này và trong đêm hôm đó một số lính Bắc quân đã đạt ước vọng “sinh Bắc, tử Nam!” Tội nghiệp, họ ra đi không hề được người yêu hay gia đình quấn một vành khăn tang, để vài năm sau nhận một tờ giấy ghi công liệt sĩ. Mạng người rẻ như một tờ giấy, chết cho “đảng” vinh quang như thế đó!

Từ tháng 2/75 đến cuối tháng 4/75, thời gian không ở bên chúng mình. Mặt trận càng ngày càng trở nên căng thẳng, bàn cờ chính trị thế giới đã được sắp đặt, miền Nam không được phép đánh, bị buộc buông súng. Đất nước thay da, đổi thịt, bên thắng cuộc với những thân xác gầy gò xanh xao của kẻ sốt rét rừng lâu năm tiến vào Sài Gòn với khẩu hiệu: “Nhà nguỵ ta chiếm, vợ nguỵ ta lấy, con nguỵ ta sai”. Chúng nó nằm mơ giữa ban ngày, em đã có thai con đầu lòng của chúng mình, thà chết chứ em không để một thằng “nón cối” nào lại gần!

Anh ở đâu, em sẽ tìm đến đó, dù phải bán cả quần áo, nhà cửa em cũng đi, những trại tù mang tên Trảng Lớn, Long Giao, Suối Máu, Hàm Tân hay ra tận cùng miền Bắc em cũng sẽ đi. Cổng trời em không sợ, vì đất nước sau 1975 đã là địa ngục rồi thì còn chỗ nào tệ hơn nữa khiến em phải chùn chân? Con trong em sẽ vững mạnh hơn vì mẹ đang trèo đèo lội suối đi tìm cha. Con sẽ được học đau thương ngay từ trong lòng mẹ, để rồi khi sinh ra, sẽ trở thành chú chiến binh bảo vệ mẹ. Không một tên “nón cối” nào được đụng đến chiếc dép của em, đừng nói gì đến chuyện sai con chúng mình.

Sau cơn mưa, trời lại sáng! Em cùng anh ra biển và không quên mang theo những chiến binh hậu duệ Việt Nam Cộng Hoà. Sóng to, bão có lớn, nhưng làm sao vùi dập được ước mơ tự do của chúng ta? Đất nước chỉ là tạm mất, quê hương chỉ là tạm xa, lịch sử rồi cũng sẽ sang trang. Không làm gì có chế độ nào muôn năm cả! Khi chúng ta yêu đất nước, quê hương sẽ không bao giờ mất, có chăng chỉ là tạm xa cách.

Ngàn lời để vinh danh em vẫn chưa đủ, hỡi người vợ của những chiến binh Việt Nam Cộng Hoà. Không súng, không đạn, nhưng cuộc chiến vô danh mà em đương đầu từ ngày mẹ cho làm người đến nay, gian khổ, hy sinh, đau thương và mất mát hơn bất cứ trận đánh lừng danh nào!

Ngàn lời để vinh danh em vẫn chưa đủ, hỡi người yêu của những chiến binh Việt Nam Cộng Hoà. Vì anh và các con, em đã đi qua sa mạc của sỏi đá, chân em rướm máu và chưa bao giờ nhận được một “Chiến thương Bội tinh” vì em chẳng bao giờ đòi hỏi, vì Chúa và Phật sẽ thưởng công cho em sau này.

Hạnh phúc không phải là nhận, mà chính là cho và em đã cho anh cùng các con rất nhiều. Em cho hơi thở và chính sự sống trong em để có những đứa con vững vàng, thành công hôm nay. Em cho tình yêu khi anh đói khát, cho tha thứ khi anh sai lầm, cho nâng niu vỗ về khi đôi cánh anh mỏi mệt, không còn bay xa. Và em còn cho tiếp, cho đến ngày em không còn gì để cho.

Vinh danh em, người vợ lính Việt Nam Cộng Hoà! Anh và các con mang ơn em suốt đời.

Nguyễn Tường Tuấn

 .